Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa “Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa.
Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ. Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn.” “Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất.” Hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay.
Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,… Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Từ khái niệm cấp tín trên, có thể định nghĩa hoạt động cấp tín dụng với DNNVV tại các NHTM như sau: “Cấp tín dụng đối với DNNVV tại NHTM là việc thỏa thuận để DNNVV sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên 7 tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Đặc điểm tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mục đích sử dụng tín dụng: Các DNNVV vay vốn, đề nghị cấp tín dụng với nhiều mục đích khác nhau, nhưng có một số mục đích chủ yếu sau: vay để bổ sung vốn lưu động tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vay để thực hiện dự án đầu tư trong trung dài hạn, bảo lãnh để thực hiện hợp đồng.
Nguồn trả nợ gồm: Nguồn từ hiệu quả sử dụng vốn vay, từ khấu hao tài sản của đơn vị và các nguồn khác ổn định mà khách hàng sử dụng để trả nợ hằng năm cho Ngân hàng. Quy mô cấp tín dụng: Quy mô các khoản cấp tín dụng thường không lớn, phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô các dự án đầu tư hay quy mô các hợp đồng ký kết. Thời gian của các khoản cấp tín dụng: tùy thuộc vào mục đích sử dụng vốn, nhưng nhìn chung các DNNVV thường để nghị cấp tín dụng để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn. Tài sản bảo đảm: Đây là điều kiện quan trọng để Ngân hàng quyết định cho doanh nghiệp vay vốn vì đây là nguồn trả nợ thứ hai cho ngân hàng.
Giá trị của TSĐB phụ thuộc vào quy mô của khoản cấp tín dụng và mức độ quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng. Tài sản bảo đảm thường phải có giá trị lớn hơn giá trị của khoản cấp tín dụng. Tuy nhiên thực trạng phổ biến của các DNNVV tại Việt Nam là không có, hoặc không đủ TSĐB cho việc cấp tín dụng. Lợi nhuận trong việc cấp tín dụng DNNVV: cấp tín dụng cho DNNVV là một trong những nguồn mang lại lợi nhuận cao nhất cho Ngân hàng.
Vai trò của tín dụng DNNVV Đối với Doanh nghiệp: Đáp ứng nhu cầu vốn của Doanh nghiệp một cách kịp thời. Hiện nay NHTM là kênh cung cấp tài chính lớn và quan trọng nhất của các Doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng. Trên thực tế, có rất ít doanh nghiệp chỉ dựa vào VCSH để 8 phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà đa phần các doanh nghiệp phải tìm thêm các nguồn khác để tài trợ cho hoạt động của mình. Trong đó có tín dụng ngân hàng.
Trong điều kiện kinh tế thị trường mọi thứ vẫn diễn ra nhanh chóng, theo chiều hướng thay đổi đa dạng, khó lường đòi hỏi các DNNVV phải nắm bắt được cơ hội và luôn luôn đổi mới để đáp ứng nhu cầu thị trường. Nếu không huy động được nguồn vốn đủ, kịp thời thì sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ngân hàng được coi như thủ quỹ của doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp thỏa mãn nhu cầu về vốn. Nâng cao hiệu quả hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Để có được nguồn vốn này bắt buộc DNNVV phải đáp ứng các yêu cầu về điều kiện tín dụng, kiểm soát của Ngân hàng và chi phí sử dụng vốn. Một khi doanh nghiệp được Ngân hàng chấp nhận cấp tín dụng, thì doanh nghiệp cũng chịu sự kiểm soát của Ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay. Khi doanh nghiệp được cấp tín dụng, doanh nghiệp phải cam kết trả một mức lãi suất, phí cho Ngân hàng. Lãi suất này phụ thuộc vào tình hình thực tế trên thị trường tài chính.
Khách hàng muốn trả được nợ cho Ngân hàng thì phải có trách nhiệm sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả, tạo ra nguồn lợi nhuận lớn, vừa để làm giàu cho bản thân vừa trả nợ Ngân hàng. Chính điều này là động lực để các doanh nghiệp lên kế hoạch sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất. Khi ngân hàng thẩm định tín dụng đã xem xét rất kỹ đến tính khả thi, hiệu quả của phương án, dự án xin vay vốn, nên loại bỏ được những dự án, phương án không khả thi. Thêm nữa, trong các trường hợp cần thiết Ngân hàng còn đưa ra nhận xét, góp ý để từ đó khách hàng có thể điều chỉnh nội dung phương án, dự án xin vay vốn.
Đối với Ngân hàng thƣơng mại: Tạo ra lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Cho vay đối với DNNVV chiếm tỷ tọng tương đối lớn trên tổng doanh số cho vay của các NHTM hiện nay. Đây cũng là nguồn tại ra khoản lợi nhuận khổng lồ cho các Ngân hàng, góp phần lớn và sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. 9 Giúp Ngân hàng nâng cao thị phần và uy tín.
Số lượng các DNNVV rất đông đảo, chiếm tới 98% trên tổng số các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, hơn nữa hầu hết các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn về vốn, chính vì vậy cấp tín dụng cho DNNVV là thị trường màu mỡ cho các Ngân hàng. Việc cấp tín dụng cho DNNVV sẽ giúp các Ngân hàng mở rộng thị phần, nâng cao vị thế và tăng khả năng cạnh tranh của Ngân hàng. Hình ảnh, uy tín của Ngân hàng ngày càng được cải thiện và tăng lên dựa trên lòng tin của các DNNVV đến vay vốn. Giúp Ngân hàng linh hoạt và không ngừng đổi mới sản phẩm.
Nền kinh tế thị trường luôn biến động kéo theo sự biến động trong hoạt động của các DNNVV vì vậy nhu cầu cấp tín dụng của DNNVV cũng rất da dạng, đòi hỏi các Ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu, tìm tòi các sản phẩm tín dụng thích hợp với từng ngành nghề kinh doanh và trong từng thời kỳ thích hợp sao cho bảo đảm lợi ích cao nhất của Ngân hàng mà vẫn bảo đảm nhu cầu khách hàng. Việc luôn luôn đổi mới, tìm ra các sản phẩm mới giúp hoạt động ngân hàng diễn ra trơn tru, không bị ngưng trệ, dậm chân tại chỗ và trở nên linh hoạt hơn. Đối với nền kinh tế Hoạt động cấp tín dụng DNNVV chính là hoạt động bơm thêm vốn cho nền kinh tế thông qua một thành phần kinh tế. Cộng việc kinh doanh có hiệu quả của DNNVV sẽ đóng góp cho nền kinh tế một khoản lợi nhuận lớn, giúp nền kinh tế luôn vận động và phát triển.
Chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại 1. Quan niệm chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa Chất lượng tín dụng, là một khái niệm thông dụng, bởi Tín dụng bao hàm các hoạt động khác nhau khó đồng nhất và đo lường: cho vay, bảo lãnh, phát hành L/C, chiết khấu, bao thanh toán,… Thông thường trong phạm trù đơn giản Chất lượng Tín dụng được dùng để phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một TCTD. chất lượng tín dụng được nhìn nhận dưới 2 góc độ chính: 10 Dưới góc độ của ngân hàng: Các ngân hàng hoạt động với mục đích chủ yếu là sinh lời. Lợi ích kinh tế mà khoản vay đem lại cho ngân hàng chính là chất lượng của khoản vay.
Khoản vay ngân hàng được coi là có chất lượng khi khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích, đem lại hiệu quả kinh tế giúp khách hàng có khả năng chi trả cả gốc và lãi cho ngân hàng. Vì thế, chất lượng tín dụng theo quan điểm ngân hàng là mức độ an toàn, thuận tiện và khả năng sinh lời mà hoạt động tín dụng đem lại. Chất lượng tín dụng thể hiện ở chất lượng từng khoản vay, ở cơ cấu đa dạng và an toàn của danh mục tín dụng. Khi các khoản vay đều có chất lượng tốt sẽ góp phần tạo nên chất lượng chung cho hoạt động tín dụng tại ngân hàng.
Ngoài ra chất lượng tín dụng còn thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với quy định của NHNN và quy định cũng như định hướng mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ. Các khoản vay và các gói sản phẩm vay vốn phải đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường, giúp lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế, phục hồi tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội.