Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: Phát triển năng lực tự học phần phi kim môn Hóa học 11 THPT - Võ Thị Thủy (ĐH Vinh, 2020)

Dưới đây là các meta tags được tạo cho bài viết "Phát triển năng lực tự học phần phi kim môn Hóa học 11 THPT": { "ai_description": "Phát triển năng lực tự

Trường đại học

Trường Đại Học Vinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

166
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển năng lực tự học trong dạy học phần phi kim

Năng lực tự học là khả năng học sinh chủ động tiếp nhận, xử lý và vận dụng kiến thức một cách độc lập. Trong chương trình Hóa học lớp 11 THPT, phần phi kim chiếm vị trí quan trọng. Phần này bao gồm các nhóm nguyên tố nitơ, photpho, cacbon, silic và hợp chất của chúng. Việc phát triển năng lực tự học giúp học sinh nắm vững kiến thức hóa học. Học sinh hình thành phương pháp tư duy khoa học. Giáo viên cần áp dụng các biện pháp phù hợp. Đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu cấp thiết. Phương pháp dạy học tích cực phát huy tính chủ động của người học. Chu trình tự học bao gồm nhiều giai đoạn liên kết chặt chẽ. Động cơ học tập đóng vai trò nền tảng. Học sinh cần được trang bị kỹ năng đọc hiểu, ghi chép, xử lý thông tin. Giáo viên hướng dẫn và quản lý quá trình tự học hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực tự học của học sinh còn nhiều hạn chế. Cần có giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng dạy học.

1.1. Khái niệm năng lực tự học của học sinh THPT

Năng lực tự học là tổng hợp các phẩm chất và kỹ năng giúp học sinh chủ động trong học tập. Năng lực này bao gồm nhiều cấu thành cơ bản. Thứ nhất là định hướng lựa chọn nội dung và hình thức học tập. Thứ hai là xây dựng kế hoạch và sử dụng thời gian học tập hợp lý. Thứ ba là năng lực xử lý thông tin và giải quyết vấn đề. Thứ tư là khả năng đọc hiểu và ghi chép hiệu quả. Thứ năm là năng lực nhận xét, đánh giá kết quả học tập. Đối với học sinh THPT, năng lực tự học phát triển theo hướng tư duy trừu tượng. Học sinh cần biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Tự học không chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ kiến thức.

1.2. Đặc điểm phần phi kim Hóa học lớp 11 THPT

Phần phi kim Hóa học lớp 11 bao gồm bốn nhóm nguyên tố chính. Đó là nitơ, photpho, cacbon và silic cùng các hợp chất liên quan. Nội dung kiến thức phong phú với nhiều phản ứng hóa học đa dạng. Học sinh cần nắm vững vị trí trong bảng tuần hoàn và cấu tạo nguyên tử. Tính chất vật lý và tính chất hóa học của đơn chất là trọng tâm. Các hợp chất quan trọng gồm ammoniac, axit nitric, axit photphoric. Muối amoni, muối nitrat, muối photphat, muối cacbonat, muối silicat cũng được đề cập. Phần này đòi hỏi học sinh viết phương trình phản ứng dưới dạng phân tử và ion. Từ đặc điểm cấu tạo, học sinh dự đoán tính chất hóa học của các chất.

II. Phân tích thực trạng năng lực tự học của học sinh THPT

Thực trạng năng lực tự học của học sinh THPT còn nhiều bất cập. Qua điều tra tại các trường THPT Tây Hiếu và THPT Thái Hòa, kết quả đáng quan ngại. Phần lớn học sinh chưa có thói quen tự học trước và sau giờ học. Kỹ năng đọc hiểu tài liệu hóa học của học sinh còn yếu. Nhiều em không biết cách ghi chép bài hiệu quả. Việc xây dựng kế hoạch học tập cá nhân chưa được chú trọng. Học sinh thiếu động cơ tự học, chủ yếu học thuộc lòng để đối phó. Khả năng xử lý thông tin và giải quyết vấn đề còn hạn chế. Hoạt động tổ chức tại lớp của giáo viên để trang bị kỹ năng tự học còn ít. Phương pháp giảng dạy vẫn nặng về thuyết giảng, áp đặt kiến thức. Tính tích cực, chủ động của học sinh chưa được phát huy đầy đủ. Học sinh gặp khó khăn trong việc vận dụng kiến thức vào thực hành. Việc tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập chưa trở thành thói quen. Đổi mới phương pháp dạy học là giải pháp cần thiết để cải thiện tình hình.

2.1. Những khó khăn học sinh gặp phải khi tự học hóa học

Học sinh THPT gặp nhiều khó khăn khi tiến hành tự học phần phi kim. Thứ nhất là thiếu phương pháp học tập khoa học. Các em chưa biết cách phân tích, tổng hợp kiến thức từ nhiều nguồn tài liệu. Thứ hai là kiến thức hóa học trừu tượng, khó hiểu khi học một mình. Phản ứng oxi hóa khử đòi hỏi tư duy logic phức tạp. Thứ ba là thiếu tài liệu học tập phù hợp với trình độ. Sách giáo khoa đôi khi chưa đủ chi tiết cho việc tự học. Thứ tư là thiếu sự hướng dẫn kịp thời từ giáo viên. Học sinh dễ nản lòng khi gặp bài khó. Thứ năm là môi trường học tập tại nhà chưa đảm bảo.

2.2. Vai trò của giáo viên trong hướng dẫn học sinh tự học

Giáo viên đóng vai trò trung tâm trong việc hướng dẫn học sinh tự học. Giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập. Người thầy không chỉ cung cấp kiến thức mà còn định hướng phương pháp. Giáo viên thiết kế các hoạt động học tập phát huy tính chủ động. Việc giao nhiệm vụ học tập trước bài mới rất quan trọng. Giáo viên hướng dẫn học sinh cách đọc tài liệu, ghi chép và xử lý thông tin. Tổ chức các hoạt động nhóm giúp học sinh chia sẻ kinh nghiệm tự học. Giáo viên cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá quá trình tự học. Động viên, khích lệ học sinh kịp thời tạo hứng thú học tập.

III. Các biện pháp phát triển năng lực tự học trong dạy học phần phi kim

Nhiều biện pháp được đề xuất để phát triển năng lực tự học cho học sinh. Biện pháp đầu tiên là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Sử dụng phương pháp dạy học nhóm phát triển kỹ năng hợp tác. Phương pháp giải quyết vấn đề rèn luyện tư duy sáng tạo. Biện pháp thứ hai là xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn tự học. Câu hỏi được thiết kế theo trình tự từ dễ đến khó. Học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới trước giờ học. Biện pháp thứ ba là tổ chức các hoạt động thực hành, thí nghiệm. Học sinh trực tiếp quan sát, rút ra kết luận về tính chất phi kim. Biện pháp thứ tư là sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ tự học. Video bài giảng, phần mềm mô phỏng giúp học sinh tiếp cận kiến thức sinh động. Biện pháp thứ năm là hướng dẫn kỹ năng đọc hiểu và ghi chép bài. Giáo viên dạy cách tóm tắt, sơ đồ hóa kiến thức. Biện pháp thứ sáu là tổ chức tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Học sinh nhận xét, đánh giá tiến bộ của bản thân thường xuyên.

3.1. Sử dụng phương pháp dạy học tích cực cho phần phi kim

Phương pháp dạy học tích cực là công cụ hiệu quả phát triển năng lực tự học. Dạy học nhóm giúp học sinh thảo luận, trao đổi kiến thức về tính chất phi kim. Mỗi nhóm nghiên cứu một nhóm nguyên tố khác nhau rồi trình bày kết quả. Phương pháp giải quyết vấn đề đặt học sinh trước tình huống thực tế. Ví dụ: dự đoán tính chất hóa học của silic từ vị trí trong bảng tuần hoàn. Dùng câu hỏi gợi mở kích thích tư duy sáng tạo. Học sinh tự đặt giả thuyết, kiểm chứng qua thí nghiệm. Phương pháp đóng vai giúp học sinh hiểu sâu quy trình điều chế các hợp chất. Kết hợp nhiều phương pháp trong một tiết học tăng hiệu quả giáo dục.

3.2. Xây dựng hệ thống tài liệu hướng dẫn tự học hóa học

Hệ thống tài liệu hướng dẫn tự học cần được xây dựng bài bản, khoa học. Tài liệu bao gồm mục tiêu học tập cụ thể cho từng bài. Hệ thống câu hỏi được thiết kế theo ba cấp độ nhận thức. Cấp độ nhận biết giúp học sinh ghi nhớ kiến thức cơ bản. Cấp độ thông hiểu đòi hỏi học sinh giải thích, so sánh các tính chất hóa học. Cấp độ vận dụng yêu cầu học sinh áp dụng kiến thức giải quyết vấn đề mới. Mỗi bài có phần tóm tắt nội dung chính và bài tập tự luyện. Tài liệu cung cấp hướng dẫn cách đọc, ghi chép và tóm tắt kiến thức. Có bảng đánh giá năng lực tự học để học sinh tự theo dõi tiến bộ. Giáo viên biên soạn tài liệu dựa trên chuẩn kiến thức chương trình.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của các biện pháp phát triển năng lực tự học

Nghiên cứu đã xác định các biện pháp phát triển năng lực tự học hiệu quả. Các biện pháp được thực hiện đồng bộ trong dạy học phần phi kim Hóa học 11. Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Tây Hiếu và THPT Thái Hòa khả quan. Năng lực tự học của học sinh được cải thiện đáng kể. Học sinh hình thành thói quen tự học trước và sau giờ học. Kỹ năng đọc hiểu, ghi chép, xử lý thông tin tiến bộ rõ rệt. Động cơ học tập nội tại được nâng cao. Học sinh say mê tìm tòi, khám phá kiến thức hóa học. Phương pháp dạy học tích cực phát huy tính chủ động sáng tạo. Giáo viên chuyển từ vai trò truyền thụ sang hướng dẫn, hỗ trợ. Việc phát triển năng lực tự học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Năng lực tự học là nền tảng cho việc học tập suốt đời. Kết quả nghiên cứu áp dụng được cho các phần khác trong chương trình Hóa học. Mô hình có thể nhân rộng tại các trường THPT trên cả nước.

4.1. Kết quả thực nghiệm phát triển năng lực tự học cho học sinh

Kết quả thực nghiệm cho thấy hiệu quả rõ rệt của các biện pháp đề xuất. Nhờ thực hiện các biện pháp này, năng lực tự học của học sinh tiến bộ vượt bậc. Học sinh biết cách xây dựng kế hoạch học tập cá nhân hợp lý. Kỹ năng xử lý thông tin và giải quyết vấn đề hóa học cải thiện đáng kể. Điểm kiểm tra định kỳ tăng trung bình từ 1,5 đến 2 điểm. Số học sinh đạt kết quả khá giỏi tăng rõ rệt. Học sinh tích cực tham gia các hoạt động nhóm, thảo luận trên lớp. Tỷ lệ học sinh hoàn thành nhiệm vụ tự học trước bài mới đạt trên 80%. Năng lực đọc hiểu và ghi chép bài được rèn luyện thường xuyên.

4.2. Khuyến nghị áp dụng rộng rãi trong dạy học hóa học THPT

Để áp dụng rộng rãi, cần có sự đồng bộ từ nhiều phía. Sở Giáo dục cần tổ chức tập huấn phương pháp phát triển năng lực tự học cho giáo viên. Nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thư viện, phòng thí nghiệm. Giáo viên chủ động xây dựng hệ thống tài liệu hướng dẫn tự học chất lượng. Cần đổi mới cách đánh giá theo hướng đánh giá năng lực thực sự. Kết hợp đánh giá quá trình với đánh giá kết quả học tập cuối kỳ. Phụ huynh phối hợp tạo môi trường học tập tốt tại nhà cho con em. Áp dụng linh hoạt các biện pháp phù hợp với đặc điểm từng đối tượng học sinh. Liên tục cập nhật, hoàn thiện phương pháp dạy học tích cực.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần phi kim

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Trong lịch sử giáo dục, tự học là một khái niệm được đề cập rất sớm, thường được sử dụng với ý nghĩa là người học tự giác, chủ động thực hiện các hoạt động của mình. 4 Trong nền giáo dục cổ xưa, vấn đề tự tự học đã xuất hiện từ thời cổ đại như Phương Tây cổ đại có phương pháp giảng dạy của Heraclitus (530-475 TCN) … Khẩu hiệu dạy học của ông là “Mục đích của dạy học là nhận ra chính mình giữa đám đông’’. Sau đó sự biến đổi thăng trầm của lịch sử và sự phát triển nhận thức của xã hội mà ý tưởng này tiếp tục được phát triển trở thành quan điểm dạy học tiến bộ ngày nay.

Ở Việt Nam vấn đề tự học đã xuất hiện từ thời phong kiến khi mà giáo dục chưa phát triển. Năng lực tự học được ghi nhận ở từng cá nhân kiệt xuất, tự học thành tài. Đến thời thực dân Pháp đô hộ vấn đề tự học của ta vẫn còn hạn chế, phương pháp tự học vẫn là truyền thụ kiến thức một chiều,người học chỉ cần học thuộc lòng. Cho đến khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên phát động nghiên cứu và nêu cao tấm gương tinh thần tự học cũng như phương pháp dạy học.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc Bác viết “…phải lấy tự học làm cốt…’’. Tự học là một nhiệm vụ chính trị. Từ những năm 90 của thế kỷ XX những nghiên cứu về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công trình tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn. Các nghiên cứu về tự học và năng lực tự học Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự học và năng lực tự học.

Sau đây là một số công trình tiêu biểu 1) GS. Nguyễn Cảnh Toàn (1998), Quá trình dạy tự học, Nxb Giáo dục. Nguyễn Cảnh Toàn (2001), Tuyển tập tác phẩm tự giáo dục tự học tự nghiên cứu, Tập 1 và 2, Trường ĐHSP Hà Nội, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây. Nguyễn Cảnh Toàn (2001) Tác phẩm “Tự giáo dục,tự học,tự nghiên cứu”.

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông tây. Ở ba tác phẩm trên tác giả đã nêu lên các khái niệm về tự học, các lý luận về tự học và cách dạy tự học. Tác giả cũng đã nêu lên được các biện pháp để phát triển năng lực tự học cho HS. Tuy nhiên các biện pháp đưa ra còn chung chung, chưa đề cập đến bộ môn cụ thể nào.

Phan Trong Luận với bài viết “ Tự học – một chìa khóa vàng của giáo dục” trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục (1998). Trong tác phẩm trên tác giả đã nêu vai trò của tự học trong quá trình phát triển đất nước. Tuy nhiên tác giả vẫn chưa đưa ra các biện phát để phát triển năng lực tự học cho HS. Thái Duy Tuyên với bài viết “Một số vấn đề cần thiết khi hướng dẫn học sinh tự học” đăng trên tạp chí Giáo dục số 82 năm 2004.

Thái Duy Tuyên (2002) Tác phẩm “ Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh” Trong bài viết và tác phẩm trên tác giả đã đưa ra một số vấn đề về hoạt động tự học, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học, cách biên soạn giáo trình theo hướng bồi dưỡng phương pháp tự học. 7) Đặng Thành Hưng với bài viết “Bản chất và điều kiện của việc tự học” đăng trên Tạp chí Khoa học Giáo dục số 78 năm 2012. Bài viết nói về vấn đề tự học. Tác giả phân tích những cách giải thích và biện hộ sai lầm về tự học đồng thời nêu lên bản chất của tự học.

Cuối cùng, tác giả trình bày những điều kiện của tự học và việc GD năng lực tự học cho HS. Trịnh Quốc Lập (2008) “Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam” Bài viết này cho rằng năng lực tự học không những phù hợp với thế giới phương Tây mà sinh viên Châu Á cũng có năng lực tự học; do điều kiện giáo dục ở các nước châu á chưa đủ để sinh viên phát triển năng lực tự học. Tác giả khẳng định rằng trong hoàn cảnh Việt Nam năng lực tự học có thể được phát triển thông qua việc ứng dụng học tập tự điều chỉnh. Một số luận văn nghiên cứu về phát triển khả năng và năng lực tự học Đã có nhiều luận văn nghiên cứu về phát triển khả năng và năng lực tự học cho HS trong dạy học hóa học.

Sau đây là một số luân văn tiêu biểu: 6 1) Phạm Thùy Linh (2009), Thiết kế e-book hỗ trợ khả năng tự học của học sinh lớp 12 chương “đại cương về kim loại” chương trình cơ bản, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP. 2) Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2010), Xây dựng website nhằm tăng cường năng lực tự học cho học sinh giỏi hóa học lớp 11, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP. 3) Trần Thị Liên(2010) .Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học lớp 10 chương trình nâng cao hỗ trợ học sinh tự học Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP. 4) Nguyễn Thị Ngọc Mai(2010): Thiết kế tài liệu tự học môn hóa học lớp 10 THPT Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.

5) Hoàng Đăng Cường(2015). Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học cơ sở lớp 10 bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh Luận văn thạc sĩ GD học. Đại học Vinh 6) Bùi Thị Bích Hồng(2015). Tuyển chọn – xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh phần hóa vô cơ lớp 11 ở trường Trung học phổ thông.

Luận văn thạc sĩ GD học. Đại học Vinh 7) Nguyễn Tiến Hùng(2016). Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tự học cho HS trong dạy học phần kim loại – Hóa học lớp 12 THPT. Luận văn thạc sĩ GD học.

Đại học Vinh 8) Nguyễn Thị Thủy(2016) Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon – Hóa học lớp 11 THPT Luận văn thạc sĩ GD học. Đại học Vinh 9) Nguyễn Hữu Dung(2019) Tuyển chọn-xây dựng và sử dụng hệ thông bài tập trắc nghiệm phần kim loại nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 Trung học phổ thông. Luận văn thạc sĩ giáo dục học. Các luận văn của của các tác giả trên đều hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học, rèn luyện năng lực tự học cho học sinh thông qua việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tự, làm phong phú thêm nội dung bài giảng, góp phần đổi mới phương pháp dạy học.

Tuy nhiên, hìn chung chưa có luận văn nào đi sâu nghiên cứu đề xuất biện pháp 7 phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần phi kim hóa học lớp 11 trung học phổ thông. Cơ sở lí luận về năng lực và năng lực tự học 1. Khái niệm về năng lực Theo từ điển tiếng Việt “ Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” Theo định nghĩa của GS.TS Đinh Quang Báo thì: “NL là một thuộc tính tích hợp nhân cách và tổ hợp các đặc tính tâm lí của cá nhân sao cho phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định và đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp” Theo chương trình giáo dục phổ thông mới : “ Năng lực là một trong những thuộc tính của cá nhân nó hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động các kiến thức kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể ” 1.

Năng lực tự học của học sinh trung học phổ thông 1. Các năng lực chung của HS THPT Năng lực chung là những NL cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp [8]. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất và 10 nhóm năng lực. Trong đó có 3 nhóm năng lực chung là: - Năng lực tự học và tự chủ.

- Năng lực hợp tác và giao tiếp. - Năng lực sáng tạo và giải quyết vấn đề. Các nhóm NL được hình thành và phát triển trên cơ sở di truyền, trong quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống nó đáp ứng được yêu cầu của nhiều hoạt động khác nhau. Tùy thuộc vào chương trình được thiết kế, các nhà nghiên cứu có 2 cách tiếp cận phát triển chương trình giáo dục phổ thông, đó là: 8 Tiếp cận dựa vào nội dung nghĩa là tập trung chủ yếu vào các chi tiết của môn học, có tính chỉ đạo cao, cố định cả về cấu trúc và phân bổ thời gian.

Việc học tập của HS nhấn mạnh vào ghi nhớ và tái tạo kiến thức đã có. Tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra nghĩa là xác định học sinh cần đạt được hệ thống những nhóm NL chung ở từng môn học vào cuối giai đoạn cụ thể. Chương trình tiếp cận NL thực chất vẫn là cách tiếp cận kết quả đầu ra. Tuy nhiên đầu ra ở đây tập trung vào hệthống NL của người học, chú ý đầu ra cần đạt, các NL cần cho cuộc sống, học tập và tham gia có hiệu quả trong xã hội.

Khái niệm năng lực tự học Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn đưa thì năng lực tự học được hiểu như sau: ‘‘Năng lực tự học là một thuộc tính kỹ năng phức hợp. Gồm kỹ năng và kỹ xảo, gắn với động cơ và thói quen, để cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra [30].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ