Phân tích tác động của giá dầu đến cán cân thương mại tại Việt Nam – Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Phân tích toàn diện tác động của giá dầu thế giới đến cán cân thương mại Việt Nam. Nghiên cứu các yếu tố kinh tế, giải pháp ổn định và xu hướng phát triển.

Chuyên ngành

Tài chính–Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

63
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của giá dầu lên cán cân thương mại Việt Nam

Giá dầu thô thế giới biến động mạnh trong nhiều thập kỷ qua. Những cú sốc này tác động trực tiếp đến nền kinh tế các quốc gia nhập khẩu dầu, trong đó có Việt Nam. Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Ánh Ly (Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, 2019) phân tích mối quan hệ này một cách có hệ thống. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu giai đoạn 1987–2018 để kiểm định tác động của giá dầu lên cán cân thương mại Việt Nam. Kết quả cho thấy mối quan hệ dài hạn có ý nghĩa thống kê giữa cán cân thương mại, giá dầu, tỷ giá hối đoái và lỗ hổng sản lượng. Giá dầu tăng làm tăng chi phí nhập khẩu hàng hóa và đầu vào sản xuất. Điều này gây áp lực lên tài khoản thương mại quốc gia. Khi giá dầu tăng 1%, cán cân thương mại giảm 0,097% trong dài hạn. Đây là con số nhỏ nhưng tích lũy theo thời gian có thể gây mất cân bằng thương mại nghiêm trọng. Nghiên cứu còn xác định hiệu ứng đường cong J trong thương mại Việt Nam, cho thấy phá giá nội tệ trước tiên làm xấu đi cán cân thương mại rồi mới cải thiện về dài hạn.

1.1. Bối cảnh nghiên cứu và tầm quan trọng của chủ đề

Việt Nam là nền kinh tế phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu năng lượng và nguyên liệu thô. Biến động giá dầu toàn cầu ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất và giá trị nhập khẩu. Giai đoạn 1987–2018 chứng kiến nhiều làn sóng cú sốc giá dầu lớn, từ cuộc khủng hoảng năm 2008 đến sụp đổ giá năm 2014–2016. Mỗi cú sốc để lại dấu ấn khác nhau lên cán cân thương mại. Việc định lượng chính xác tác động này giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định điều hành tỷ giá và chính sách thương mại phù hợp. Đây là lý do nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao.

1.2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung phân tích cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn 1987–2018 theo dữ liệu quý. Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa bốn biến chính: cán cân thương mại, giá dầu thế giới, tỷ giá hối đoái thực và lỗ hổng sản lượng. Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Tài chính–Ngân hàng, hướng ứng dụng, do PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo hướng dẫn. Phạm vi địa lý giới hạn ở Việt Nam nhưng kết quả có thể so sánh với các quốc gia đang phát triển khác trong khu vực Đông Nam Á có cấu trúc thương mại tương đồng.

II. Phân tích cơ chế truyền dẫn của giá dầu vào cán cân thương mại

Giá dầu tác động lên cán cân thương mại qua nhiều kênh truyền dẫn khác nhau. Kênh trực tiếp là thay đổi giá trị kim ngạch nhập khẩu năng lượng. Khi giá dầu tăng, hóa đơn nhập khẩu dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ tăng theo, làm xấu đi cán cân thương mại ngay lập tức. Kênh gián tiếp là tác động lên chi phí sản xuất. Đầu vào sản xuất đắt hơn dẫn đến giá hàng xuất khẩu tăng, giảm tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, giá dầu cao làm tăng lạm phát trong nước, ảnh hưởng đến tỷ giá thực. Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2013) trước đó cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều tương tự: 1% tăng giá dầu dẫn đến 0,12% sụt giảm cán cân thương mại dài hạn. Nghiên cứu mới của Phạm Thị Ánh Ly với dữ liệu dài hơn xác nhận kết quả này với hệ số 0,097%. Sự khác biệt phản ánh cơ cấu kinh tế Việt Nam đã thay đổi sau hơn hai thập kỷ hội nhập. Kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto xác nhận quan hệ nhân quả một chiều chạy từ giá dầu đến cán cân thương mại.

2.1. Lý thuyết Marshall Lerner và hiệu ứng đường cong J tại Việt Nam

Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng phá giá nội tệ sẽ cải thiện cán cân thương mại nếu tổng độ co giãn của xuất khẩu và nhập khẩu theo giá vượt quá 1. Hiệu ứng đường cong J là biểu hiện ngắn hạn của điều kiện này. Nghiên cứu tìm thấy cả hai hiện tượng tại Việt Nam. Khi VND mất giá 1%, cán cân thương mại ban đầu xấu đi trong ngắn hạn do các hợp đồng nhập khẩu đã ký kết chưa điều chỉnh kịp. Về dài hạn, mất giá 1% dẫn đến cải thiện 0,557% trong cán cân thương mại. Điều này có ý nghĩa lớn cho chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

2.2. Vai trò của lỗ hổng sản lượng trong mất cân bằng thương mại

Lỗ hổng sản lượng đo lường chênh lệch giữa GDP thực tế và GDP tiềm năng. Khi lỗ hổng sản lượng mở rộng 1%, cán cân thương mại giảm xấp xỉ 0,008% trong dài hạn. Tác động tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê. Cơ chế truyền dẫn là: khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh hơn tiềm năng, cầu nhập khẩu hàng hóa và nguyên liệu tăng vọt, làm xấu cán cân thương mại. Kiểm định nhân quả Granger không tìm thấy tác động trực tiếp của lỗ hổng sản lượng, nhưng tác động gián tiếp qua kênh tỷ giá được xác nhận rõ ràng.

III. Phương pháp ARDL và quy trình kiểm định trong nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ ARDL (Autoregressive Distributed Lag) làm phương pháp chính. ARDL phù hợp khi các biến có bậc tích hợp khác nhau, tức là hỗn hợp I(0) và I(1). Đây là ưu điểm lớn so với các phương pháp đồng liên kết truyền thống như Engle-Granger hay Johansen vốn yêu cầu tất cả biến phải tích hợp cùng bậc. Kiểm định tính dừng được thực hiện bằng kiểm định Phillips-Perron (PP). Mô hình cuối cùng được xác định là ARDL(4,3,4,0), phản ánh cấu trúc trễ tối ưu cho dữ liệu Việt Nam. Bên cạnh ARDL, nghiên cứu áp dụng kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto để xác định chiều tác động nhân quả giữa các biến. Phương pháp này có ưu điểm là không yêu cầu kiểm định đồng liên kết trước. Dữ liệu quý giai đoạn 1987–2018 với hơn 120 quan sát đảm bảo độ tin cậy thống kê. Kiểm định tính ổn định hệ số hồi quy thông qua CUSUM và CUSUM bình phương xác nhận mô hình ổn định trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu.

3.1. Lựa chọn biến và kỳ vọng dấu trong mô hình

Bốn biến chính được đưa vào mô hình gồm: cán cân thương mại (biến phụ thuộc), giá dầu thế giới, tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD và lỗ hổng sản lượng. Giá dầu kỳ vọng tác động âm lên cán cân thương mại do Việt Nam là nước nhập khẩu dầu ròng. Tỷ giá thực kỳ vọng tác động dương trong dài hạn theo điều kiện Marshall-Lerner. Lỗ hổng sản lượng kỳ vọng tác động âm khi nền kinh tế quá nóng dẫn đến nhập siêu. Tất cả kỳ vọng dấu đều được xác nhận bởi kết quả hồi quy thực tế.

3.2. Quy trình ước lượng và kiểm định nhân quả Toda Yamamoto

Quy trình nghiên cứu gồm ba bước tuần tự. Bước một: kiểm định tính dừng bằng PP để xác định bậc tích hợp từng biến. Bước hai: ước lượng mô hình ARDL và kiểm định đồng liên kết qua cận F. Bước ba: kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto để xác định chiều quan hệ nhân quả. Kiểm định nhân quả cho thấy quan hệ một chiều đáng kể từ giá dầu đến cán cân thương mại và từ tỷ giá đến cán cân thương mại. Không tìm thấy quan hệ ngược chiều, xác nhận giá dầu và tỷ giá là biến ngoại sinh trong hệ thống.

IV. Kết luận và hàm ý chính sách từ kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu cung cấp ba kết luận chính có giá trị chính sách cao. Thứ nhất, tồn tại mối quan hệ dài hạn ổn định giữa cán cân thương mại Việt Nam và các biến vĩ mô bao gồm giá dầu, tỷ giá và lỗ hổng sản lượng. Thứ hai, giá dầu tác động tiêu cực và có ý nghĩa thống kê lên cán cân thương mại cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Thứ ba, điều kiện Marshall-Lerner được thỏa mãn tại Việt Nam, đồng nghĩa phá giá VND có hiệu quả cải thiện cán cân thương mại về dài hạn. Các hàm ý chính sách quan trọng gồm: Ngân hàng Nhà nước cần linh hoạt điều hành tỷ giá để ổn định cán cân thương mại khi giá dầu biến động. Chính phủ cần xây dựng quỹ dự phòng năng lượng để giảm thiểu tác động của cú sốc giá dầu. Chính sách công nghiệp cần hướng đến giảm phụ thuộc vào dầu nhập khẩu thông qua phát triển năng lượng tái tạo. Hạn chế của nghiên cứu là chưa phân tách tác động theo từng ngành hàng xuất nhập khẩu cụ thể.

4.1. So sánh kết quả với các nghiên cứu quốc tế tương đồng

Kết quả nghiên cứu phù hợp với xu hướng chung từ các nghiên cứu quốc tế. Hassan và Zaman (2012) tại Pakistan tìm thấy 1% tăng giá dầu làm cán cân thương mại giảm 0,382%. Le và Chang (2013) phân tích Malaysia, Nhật Bản và Singapore cho thấy tác động khác nhau tùy vị thế nhập khẩu hay xuất khẩu dầu. Việt Nam với hệ số 0,097% phản ánh mức độ phụ thuộc năng lượng thấp hơn Pakistan. Kilian và cộng sự (2009) chỉ ra tác động của cú sốc cung và cầu dầu là không đồng nhất. Nghiên cứu Việt Nam bổ sung bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho văn liệu về các nền kinh tế Đông Nam Á.

4.2. Khuyến nghị chính sách và hướng nghiên cứu tiếp theo

Điều hành tỷ giá linh hoạt là công cụ hiệu quả để ứng phó với cú sốc giá dầu. Khi giá dầu tăng mạnh làm thâm hụt thương mại, phá giá có kiểm soát giúp cải thiện cán cân về dài hạn. Tuy nhiên, cần chú ý hiệu ứng đường cong J: tình trạng sẽ xấu hơn trước khi tốt lên. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sang phân tích phi tuyến để kiểm tra tính bất cân xứng trong tác động của giá dầu. Sử dụng mô hình NARDL hoặc phân tích wavelet sẽ làm phong phú thêm hiểu biết về cơ chế truyền dẫn theo từng chu kỳ kinh tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận văn kinh tế phân tích tác động của giá dầu lên cán cân thương mại tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 giới thiệu chủ đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, xác định rõ mục tiêu nghiên cứu. 2) Chương 2 cung cấp các lý thuyết nền tảng cùng các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan. 3) Chương 3 mô tả phương pháp ARDL và dữ liệu nghiên cứu. 4) Chương 4 trình bày các kết quả thực nghiệm 5) Chương 5 cung cấp các kết luận.

5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT 2. Các lý thuyết nền tảng liên quan 2. Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa giá dầu và cán cân thương mại Tác động của cú sốc giá dầu lên tài khoản đối ngoại (external account) của một nền kinh tế hoạt động thông qua 2 kênh chính là kênh thương mại (trade channel) và kênh tài chính (financial channel). Kênh thương mại hoạt động thông qua những thay đổi về số lượng và giá cả hàng hóa trao đổi trong khi kênh tài chính hoạt động thông qua thay đổi vị thế danh mục đầu tư đối ngoại và giá tài sản (Kilian và cộng sự, 2009).

Nghiên cứu này tập trung vào trình bày kênh thương mại và thảo luận về các cơ chế theo đó giá dầu dự kiến sẽ thúc đẩy cán cân thương mại. Cú sốc giá dầu có tác động kinh tế trực tiếp và gián tiếp lên cả nền kinh tế nhập khẩu và xuất khẩu dầu. Tác động gián tiếp là việc truyền dẫn cú sốc thông qua thương mại quốc tế. Đầu tiên, giá dầu thế giới tăng thường được cho là mang lại áp lực lạm phát và gia tăng giá cả tại các quốc gia đối tác thương mại.

Điều này đến lượt làm tăng giá nhập khẩu trong nước ở cả nền kinh tế nhập khẩu và xuất khẩu dầu. Cơ quan tiền tệ của các nền kinh tế đối tác thương mại có thể tăng lãi suất trong nỗ lực kiềm chế lạm phát, dẫn đến giảm tiêu dùng, đầu tư và do đó hạ nhiệt tăng trưởng kinh tế. Điều này đến lượt làm giảm nhu cầu đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu từ nền kinh tế trong nước của cả quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu dầu. Đối với nền kinh tế xuất khẩu dầu ròng, tác động trực tiếp của cú sốc tăng giá dầu thế giới được dự kiến là dương (tích cực), xuất phát từ gia tăng doanh thu xuất khẩu.

Tuy nhiên, các tác động gián tiếp được dự kiến là âm (tiêu cực). Đầu tiên, như đã đề cập, giá dầu toàn cầu tăng làm tăng giá nhập khẩu trong nước ở cả quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu dầu. Thứ hai, sự gia tăng ngoại sinh của giá dầu thế giới tạo ra cú sốc cung cho các quốc gia nhập khẩu dầu ròng, dẫn đến sự hạ nhiệt tăng trưởng kinh tế trong nước của quốc gia nhập khẩu dầu ròng và làm giảm xuất khẩu dầu và xuất khẩu khác từ các quốc gia xuất khẩu dầu. Vì thế, lợi ích cho nền kinh tế 6 xuất khẩu dầu không lớn như chúng ta nghĩ.

Tác động ròng của cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại của nền kinh tế xuất khẩu dầu phụ thuộc vào độ lớn của doanh thu xuất khẩu dầu cao so với giá nhập khẩu tăng. Lập luận này củng cố mối quan tâm chung rằng biến động lớn của giá dầu thế giới không chỉ mang lại tác động bất lợi cho nền kinh tế nhập khẩu dầu mà còn đặt ra thách thức cho các nhà hoạch định chính sách trong các nền kinh tế xuất khẩu dầu. Đối với các quốc gia xuất khẩu dầu, doanh thu từ dầu đặt ra những thách thức tài khóa xuất phát từ thực tế là dầu thô đang dần cạn kiệt, dễ bốc hơi và phần lớn phụ thuộc vào cầu từ bên ngoài. Tăng giá dầu có thể gây thêm bất ổn, đặc biệt đối với những nền kinh tế rủi ro như các thị trường mới nổi.

Tài khoản vốn cũng có thể chịu ảnh hưởng bất lợi do sự suy giảm danh mục đầu tư nước ngoài và đầu tư trực tiếp vào trong nước, hoặc thậm chí là một cú cất cánh vốn (capital flight). Do đó, mặc dù giá dầu toàn cầu tăng vọt nên được coi là có lợi đối với các quốc gia xuất khẩu dầu ròng và gây bất lợi đối với các quốc gia nhập khẩu dầu ròng, nhưng thực tế không đơn giản. Đành rằng, các nền kinh tế xuất khẩu dầu ròng vẫn có thể được hưởng lợi từ giá dầu cao hơn nhờ khả năng cải thiện tỷ lệ trao đổi TOT và tăng doanh thu xuất khẩu dầu, có thể được sử dụng cho cả tiêu dùng và đầu tư (Korhonen và Ledyaeva, 2010). Đối với nền kinh tế nhập khẩu dầu ròng, sự gia tăng ngoại sinh trong giá dầu thô nhập khẩu thường được coi là cú sốc tỷ lệ trao đổi TOT tiêu cực thông qua các tác động của chúng lên các quyết định sản xuất (xem, Backus và Crucini, 2000; Kim và Loungani, 1992).

Dầu nhập khẩu được coi là đầu vào trung gian trong sản xuất trong nước và do đó, giá dầu tăng dẫn đến sự gia tăng trực tiếp chi phí đầu vào và dẫn đến giảm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực. Các doanh nghiệp và hộ gia đình sẽ phải cắt giảm kế hoạch chi tiêu và đầu tư. Sản lượng thực giảm ít nhất là tạm thời trong các nền kinh tế nhập khẩu dầu. Nền kinh tế trong nước của các quốc gia nhập khẩu dầu ròng sẽ sản xuất ít hơn và do đó xuất khẩu ít hơn, nhưng có thể không tiêu thụ tương ứng ít sản phẩm nhập khẩu.

Tác động của việc tăng giá ngoại sinh lên cán cân thương mại chung của các quốc gia nhập khẩu dầu ròng dự kiến sẽ là tiêu cực.1 trình bày khung lý thuyết giải thích tác động của cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại của một quốc gia. Theo đó, giá dầu tăng sẽ góp phần làm tăng giá năng lượng dẫn đến tăng chi phí sản xuất. Sự tăng giá của hàng hóa nông nghiệp và công nghiệp dẫn đến thu nhập quốc gia giảm theo cấp số nhân (phụ thuộc vào hệ số nhân). Kết quả là giá nhập khẩu sẽ tăng (chủ yếu do biến động tỷ giá), có thể gây ra sự mất cân bằng thương mại, tạo ra nhiều hệ lụy vĩ mô, chủ yếu là khủng hoảng tài chính toàn cầu; lạm phát và thất nghiệp làm giảm chất lượng sống của người dân; nền kinh tế phát triển không bền vững (Hassan và Zaman, 2012).

Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại 2. Điều kiện Marshall-Lerner Về mặt lý thuyết, tỷ giá hối đoái có tác động đến cán cân thương mại. Một trong các cách để chứng minh liên kết này là thảo luận điều kiện Marshall-Lerner (điều kiện ML). Độ co giãn của cầu xuất khẩu và nhập khẩu không chỉ quan trọng trong việc xác định tỷ lệ trao đổi TOT của một quốc gia, tác động lên hạn ngạch và thuế quan, và tác động đến tăng trưởng kinh tế mà còn đóng vai trò chính trong việc đánh giá tác động của sự phá giá (định giá thấp) tiền tệ trong việc cải thiện vị thế cán cân thương mại của nền kinh tế.

Phá giá tiền tệ chủ yếu nhằm mục đích thay đổi giá cả tương đối, từ đó khuyến khích xuất khẩu và không khuyến khích nhập khẩu. Phá giá là sự gia tăng có chủ ý của đồng nội tệ so với ngoại tệ, do đó làm tăng giá nhập khẩu trong nước. Tuy nhiên, liên quan đến mức tăng của giá cả trong nước, hiệu ứng chỉ phụ thuộc vào độ co giãn cầu. Cụ thể, khi độ co giãn cầu cao hơn 1, khi đó sự mất giá sẽ gây ra sự sụt giảm tương đối lớn khối lượng nhập khẩu trong nền kinh tế và sẽ đạt được hiệu quả như mong muốn.

Ngược lại, nếu độ co giãn thấp hơn 1, mặc dù mất giá sẽ gây ra một số mức giảm trong nhập khẩu, khối lượng giảm có thể không đủ để bù đắp cho sự tăng giá của đồng nội tệ. Do đó, để đạt được hiệu quả như mong muốn, là cải thiện cán cân thương mại, độ co giãn cầu phải tương đối cao. 8 Cú sốc giá dầu Khủng hoảng kinh tế Giá năng lượng tăng Mất cân bằng Phát triển không thương mại bền vững Sản xuất nông nghiệp giảm Giá đầu vào Sản xuất của nền Lỗ hổng sản lượng Chất lượng cuộc tăng kinh tế giảm tăng sống giảm Sản xuất công nghiệp giảm GDP giảm Chi phí nhập khẩu Thâm hụt thương tăng mại Nguồn: Sắp xếp lại của tác giả từ nghiên cứu của Hassan và Zaman (2012). Khung lý thuyết giải thích tác động của cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại.

9 Hơn nữa, độ co giãn còn phụ thuộc vào mức độ của hiệu ứng thay thế (substitution effect) và thu nhập (income effect). Liên quan hiệu ứng thay thế, nếu khối lượng thay thế hàng nhập khẩu trong thị trường nội địa tương đối lớn, thì hiệu ứng thay thế sẽ mạnh mẽ, hàm ý sự sụt giảm lớn trong nhập khẩu. Ngược lại, nếu nhập khẩu trong nước chủ yếu để tạo ra nhu yếu phẩm, trong nước có ít hoặc không có sản phẩm thay thế, thì hiệu ứng thay thế đối với hàng nhập khẩu sẽ tương đối nhỏ, hàm ý triển vọng kém của mục đích phá giá. Đôi khi, những trường hợp như vậy được xác nhận ở các quốc gia đang phát triển, kể cả các quốc gia phát triển như Pháp, Nhật Bản, Đức và Mỹ, khi không có sản phẩm thay thế cho một số hàng hóa nhập khẩu chính như dầu mỏ (Dunn và Mutii, 2000).

Mặt khác, hiệu ứng thu nhập được coi là mạnh hơn nếu nhập khẩu chiếm phần đáng kể trong ngân sách trung bình của một công dân. Đây là lý do tại sao phá giá không phổ biến trong tình huống này. Khi phá giá làm cho giá của hàng hóa trong nước như nhiên liệu và thực phẩm trong ngân sách của người tiêu dùng tăng lên, làm cho thu nhập thực giảm và do đó làm giảm việc mua hàng hóa khác bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu. Cùng với xuất khẩu, sự mất giá của đồng nội tệ sẽ gây ra cả việc giảm giá cả ngoại tệ và tăng giá cả nội tệ, với độ co giãn tương đối của cung và cầu quyết định kết quả.

Trong tình huống giá nội tệ của xuất khẩu không đổi, hàm ý hàm cung co giãn vô hạn, vì giá cả ngoại tệ giảm do phá giá, do đó khiến người nước ngoài phải mua thêm hàng xuất khẩu trong nước. Ngược lại, nếu giá ngoại tệ của xuất khẩu không đổi, hàm ý cầu nước ngoài co giãn vô hạn đối với hàng hóa đó, giá nội tệ của xuất khẩu tăng (kết quả từ phá giá) và do đó sẽ làm tăng xuất khẩu trong nước trên thị trường quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ