CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về quản trị nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Quá trình quản trị bao gồm nhiều nhiệm vụ, mục tiêu khác nhau nhưng đều nhằm mang đến lợi ích tối đa cho tổ chức. Trong số đó, có thể nói nhiệm vụ quản trị nguồn nhân lực khá quan trọng và có tính quyết định hơn hết. “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người”.
Cho đến nay, có khá nhiều những công trình nghiên cứu và các quan điểm khác nhau về vấn đề quản trị nguồn nhân lực tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Theo Shahnawaz và Juyal (2006) cho rằng, “Quản trị nguồn nhân lực là tất cả các quyết định và hoạt động ảnh hưởng đến người lao động trong các tổ chức”. Hay một định nghĩa khác: “Quản trị nguồn nhân lực là các hoạt động tác động đến nguồn nhân lực và đảm bảo rằng nguồn nhân lực được sử dụng để thực hiện các mục tiêu của tổ chức” (Tiwari và Saxena, 2012). Tuy nhiên, theo Trần Kim Dung (2018), “Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm kết hợp đạt được mục tiêu chiến lược của tổ chức và thỏa mãn nhu cầu hợp lý ngày càng cao của người lao động”.2 Vai trò và ý nghĩa của quản trị nguồn nhân lực Hai yếu tố cần hội tụ để doanh nghiệp có thể vận hành được các hoạt động sản xuất kinh doanh đó là nguồn nhân lực và nguồn lực vật chất.
Trong đó, nhân lực đóng vai trò khá quan trọng trong việc điều phối các nguồn lực khác, có tính quyết định trực tiếp đến quá trình tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. 8 Muốn ứng phó được các thế lực cạnh tranh gay gắt hiện nay, các doanh nghiệp cần có đội ngũ nhân lực năng động, kỹ năng làm việc và tác động vào công cụ lao động tốt nhất. Hơn nữa, đội ngũ này cần luôn được cải tiến theo thời gian để theo kịp tiến bộ khoa học kỹ thuật. Một nhân tố cũng khá quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực đó là khả năng làm việc giữa người và người.
Nhà quản trị cần tìm ra ngôn ngữ chung trong việc kết hợp với người xung quanh và lôi kéo họ làm việc cho mình. “QTNNL nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong các tổ chức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản: a) Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và hiệu quả của tổ chức. b) Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với doanh nghiệp” (Trần Kim Dung, 2018). Yếu tố nhân lực giúp cấu thành và vận hành doanh nghiệp, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có nguồn lực tài chính mạnh, trang thiết bị hiện đại nhưng lại thiếu nhân lực điều khiển, duy trì hệ thống thì việc quản trị coi như thất bại. Nhà quản trị đề ra các kế hoạch, xây dựng hệ thống hiện đại, nhưng lại không giao đúng việc cho đúng người thì hậu quả sẽ khá nghiêm trọng, mục tiêu có thể không đạt được. Vì vậy, nguồn nhân lực có vai trò quan trọng giúp cho doanh nghiệp tồn tại, phát triển. Quản trị nguồn nhân lực hiệu quả sẽ mang lại hiệu quả cho các hoạt động của doanh nghiệp.3 Chức năng của quản trị nguồn nhân lực “Hoạt động quản trị nguồn nhân lực liên quan đến tất cả các vấn đề thuộc về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao cho cả tổ chức lẫn nhân viên.
Trên thị trường, hiện nay các doanh nghiệp có cơ cấu hoạt động rất đa dạng, cạnh tranh lẫn nhau. Mỗi doanh nghiệp trang bị những công nghệ khác nhau với 9 quy trình hoạt động riêng. Nguồn nhân lực nhiều thành phần với trình độ không giống nhau, tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp. Tuy nhiên, hầu như các tổ chức đều thực hiện các hoạt động quản trị nguồn nhân lực cơ bản như: xác định nhu cầu, lập kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bố trí nhân viên, khen thưởng, trả công….
Như vậy, có thể chia các chức năng quản trị nguồn nhân lực theo chu kỳ dòng nhân lực gồm 3 chức năng: - Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực: “Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề đảm bảo có đủ số lượng nhân viên với phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp. Để có thể tuyển được đúng người cho đúng việc, trước hết doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất, kinh doanh và thực trạng sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp nhằm xác định được những công việc nào cần tuyển thêm người. Doanh nghiệp cần tiến hành phân tích công việc để nắm được yêu cầu đặt ra với các công việc, số lượng cần tuyển và tiêu chuẩn tuyển dụng. Như vậy, sẽ giúp doanh nghiệp tuyển được những ứng viên tốt, các khả năng đáp ứng nhu cầu công việc cao.
Nhóm chức năng này thường gồm các hoạt động: hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc, tuyển dụng. - Nhóm chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: “Nhóm chức năng này chú trọng việc nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tối đa các năng lực các nhân. Các doanh nghiệp tổ chức các khóa đào tạo cho nhân viên trước những thay đổi diễn ra, giúp nhân viên nhanh chóng làm quen, tiếp thu những công nghệ mới. Đồng thời có thể xác định năng lực nhân viên, qua đó định hướng cho họ vào những vị trí công việc mới.
Nhóm chức năng này thường gồm các hoạt động: định hướng và phát triển nghề nghiệp, đào tạo và phát triển. - Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực: “Nhóm chức năng chú trọng đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nhóm chức năng này gồm hai chức năng nhỏ hơn là kích thích, động viên nhân viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp. Chức năng này liên quan đến việc tạo ra thách thức trong công việc, giúp nhân viên hăng say cống hiến hơn.
Có chính sách khen thưởng, động viên kịp thời, làm cho nhân viên có trách nhiệm hơn trong công việc được giao. Nhóm chức năng này thường gồm các hoạt động: quản lý đánh giá kết quả thực hiện công việc, trả công lao động, quan hệ lao động.2 Các nghiệp vụ quản trị nguồn nhân lực theo chức năng 1.1 Hoạch định nguồn nhân lực “Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nhân lực, đưa ra các chính sách và thực hiện các chương trình, hoạt động bảo đảm cho doanh nghiệp có đủ nguồn nhân lực với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” (Trần Kim Dung, 2018). Thông qua việc hoạch định nguồn nhân lực, doanh nghiệp sẽ nắm được tình hình hiện tại, khoảng cách so với các mục tiêu đã đề ra trong nhu cầu tuyển dụng nhân lực của tổ chức. Việc thừa hay thiếu nhân viên đang gây ra những khó khăn nào, cũng như những hạn chế và cơ hội cho tổ chức với tình hình sử dụng nguồn nhân lực hiện nay.
Từ đó, tìm ra phương pháp xử lý tốt nhất nhằm đáp ứng nhu cầu của tổ chức về nhân lực. Hoạch định tốt nguồn nhân lực rất có ý nghĩa đối với các chiến lược kinh doanh của tổ chức. Bởi lẽ, các chiến lược kinh doanh có được thực hiện hay không và mức độ thành công của nó phụ thuộc phần lớn vào phẩm chất, kỹ năng, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Quá trình hoạch định thường được thực hiện theo các bước sau (Trần Kim Dung, 2018): “1.
Phân tích môi trường, xác định mục tiêu và chiến lược phát triển, kinh doanh cho doanh nghiệp. Phân tích hiện trạng quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, đề ra chiến lược nguồn nhân lực phù hợp với chiến lược phát triển kinh doanh. Dự báo khối lượng công việc (đối với các mục tiêu, kế hoạch dài hạn, trung hạn) hoặc xác định khối lượng công việc và tiến hành phân tích công việc (đối với các mục tiêu, kế hoạch ngắn hạn). Dự báo nhu cầu nhân lực (đối với mục tiêu, kế hoạch dài hạn, trung hạn) hoặc xác định nhu cầu nguồn nhân lực (đối với mục tiêu, kế hoạch ngắn hạn).
Phân tích quan hệ cung cầu nguồn nhân lực, khả năng điều chỉnh và đề ra chính sách, kế hoạch, chương trình thực hiện giúp cho doanh nghiệp thích ứng với các nhu cầu mới và nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực. Thực hiện các chính sách, kế hoạch, chương trình quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong bước năm. Kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện.2 Phân tích công việc “Phân tích công việc là quá trình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng nhân viên cần thiết phải có để thực hiện tốt công việc. Công cụ phân tích công việc là khá hữu hiệu khi có sự thay đổi diễn ra trong tổ chức.
Bởi khi các phân tích công việc càng cụ thể, chi tiết sẽ giúp cho nhà quản lý thấy rõ được những yêu cầu, các trách nhiệm, quyền hạn, khối lượng công việc cũng như đặc điểm của công việc đó. Từ đó, có thể tuyển chọn được đúng người vào đúng vị trí. Đồng thời còn giúp các nhà quản lý đưa ra sự đánh giá đúng đắn hơn về năng lực làm việc của nhân viên dưới quyền, tạo ra sự kết nối, phối hợp đồng bộ lẫn nhau giữa các nhân viên, các phòng ban trong doanh nghiệp. Rất cần thiết phải tiến hành xây dựng bản mô tả công việc và bản tiêu chuẩn công việc khi tiến hành phân tích công việc.