phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày gồm 3 chương: Chƣơng 1: Khung lý thuyết về công tác đánh giá năng lực nhân viên trong lĩnh vực ngân hàng. Chƣơng 2: Thực trạng công tác đánh giá năng lực nhân viên quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Hà Nội. Chƣơng 3: Hoàn thiện công tác đánh giá năng lực nhân viên Quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Hà Nội 6 CHƢƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NHÂN VIÊN 1. Năng lực và công tác đánh giá năng lực nhân viên 1.
Khái niệm về năng lực và khung năng lực Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì năng lực có thể được hiểu theo hai cách hiểu sau: (1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó. (2) Là một phẩm chất tâm lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao. Hiểu theo cách thứ nhất, năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng của người lao động. Hiểu theo cách thứ hai, năng lực là một cái gì sẵn có ở dạng tiềm năng của người lao động có thể giúp họ giải quyết những vướng mắc trong quá trình làm việc của người lao động.
Như vậy, từ hai nét nghĩa nêu trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là một cái gì đó vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là một khả năng được bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những vướng mắc trong quá trình làm việc của người lao động. Theo Cục quản lý nhân sự của Mỹ, năng lực được hiểu là đặc tính có thể đo lường được của kiến thức, kỹ năng, thái độ, các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác. Năng lực có thể phát triển, nâng cao và duy trì thông qua các khóa tập huấn, việc luân chuyển vị trí, kinh nghiệm thực tiễn, quá trình học tập hoặc tự bản thân phát triển.Việc có đạt được cấp độ nào đó của một năng lực được đánh giá thông qua khả năng áp dụng năng lực đó trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau (trích trong Dự thảo khung năng lực dành cho công chức thành phố Đà Nẵng). 7 Có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái niệm “Năng lực” chính là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ để giải quyết một tình huống phát sinh trong cuộc sống.
Từ đó có thể nhận định năng lực của người lao động là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ công việc, giải quyết có hiệu quả những vấn đề phát sinh trong công việc. Để thiết lập một nền tảng hiệu quả cho hoạt động quản lý nhân sự nói chung và nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý nói riêng, mỗi vị trí quản lý hoặc lãnh đạo cũng như nhân viên trong tổ chức sẽ có một khung năng lực. Các năng lực này có thể chia làm hai nhóm: Năng lực cốt lõi: gồm các năng lực cần thiết cho tất cả các vị trí như kỹ năng giao tiếp, năng lực ra quyết định và giải quyết vấn đề… Năng lực theo vai trò: là các năng lực ứng dụng cho các vị trí cụ thể trong tổ chức như năng lực lãnh đạo, năng lực tư duy chiến lược… Trong thực tế triển khai, ngoài việc xác định hai nhóm năng lực trên, các doanh nghiệp có thể bổ sung thêm một nhóm năng lực nữa là năng lực chuyên môn. Năng lực chuyên môn là các kiến thức kỹ năng và khả năng chuyên môn gắn với lĩnh vực cụ thể có vai trò thiết yếu trong việc hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn.
Việc chia ra làm 03 nhóm như vậy chỉ mang tính chất tương đối vì thường có sự chồng chéo lên nhau.Ví dụ, năng lực giao tiếp là năng lực cốt lõi vì nó cần thiết cho mỗi công việc nhưng nó lại là yếu tố cấu thành trong năng lực chuyên môn của nhân viên bán hàng. Mỗi một công việc sẽ yêu cầu một tập hợp các năng lực – các kiến thức, kỹ năng và đặc điểm cá nhân cần có để hoàn thành tốt một vai trò/công việc và tập hợp này gọi là khung năng lực hoặc hồ sơ năng lực. “Khung năng lực là một phương pháp tổng hợp nhằm hỗ trợ cho việc tuyển dụng và xây dựng chương trình quy hoạch cán bộ lãnh đạo – quản lý, xây dựng các chương trình đào tạo, phát triển quản lý và lãnh đạo, xây dựng hệ thống quản lý thành tích và đãi ngộ dành cho đối 8 tượng quản lý và lãnh đạo cũng như nhân viên trong tổ chức” – theo Ngô Quý Nhâm –(2012)“Khung năng lực và ứng dụng trong hoạt động quản trị nhân sự. Khung năng lực đã được chứng minh là công cụ hiệu quả trong tuyển dụng, quản lý thành tích, phát triển nguồn nhân lực và cuối cùng là để nâng cao hiệu quả của toàn bộ doanh nghiệp.
Do đó, ngày càng nhiều tổ chức, doanh nghiệp phát triển và áp dụng khung năng lực. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp đã thất bại trong việc theo đuổi mục tiêu này vì đội ngũ quản lý không hiểu rõ những lợi ích của khung năng lực và không được đào tạo đầy đủ về công cụ này; mặc khác, họ không tạo ra được sự liên kết giữa khung năng lực với mục tiêu của doanh nghiệp và kết cục là khung năng lực mà họ phát triển chỉ là mớ hỗn độn các khái niệm và làm cho nó không thể hiện thực hóa được những lợi ích tiềm năng vốn có. Vì vậy, doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị chu đáo trước khi bắt tay vào xây dựng khung năng lực cho mình. Định nghĩa về công tác đánh giá năng lực nhân viên Công tác đánh giá năng lực của nhân viên thường được hiểu là công tác đánh giá có hệ thống và chính thức năng lực thực hiện công việc của người lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận sự đánh giá đó với người lao động – theo Bản tin năng suất chất lượng của Viện năng suất Việt Nam.
Đánh giá thực hiện công việc là một hoạt động quản lý nguồn nhân lực quan trọng và luôn luôn tồn tại trong các tổ chức. Việc đánh giá giúp khẳng định năng lực và khả năng của nhân viên là cơ sở giúp doanh nghiệp xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nhân viên, đánh giá năng lực tiềm tàng và khả năng thăng chức hay xuống cấp, sự thuyên chuyển… Chính vì vậy, việc đánh giá này là thực sự cần thiết, cần được thực hiện theo định kỳ và tuân theo những tiêu chuẩn nhất định. Nếu tổ chức thực hiện đánh giá tốt sẽ là động lực thúc đẩy nhân viên làm việc tốt hơn nữa, ngược lại, nếu thực hiện sơ sài, thiếu trung thực và không đúng người đúng việc có thể dẫn tới những hậu quả xấu, ảnh hưởng đến hoạt động chung của tổ chức đó.3 Mục đích của công tác đánh giá năng lực nhân viên hoạt động đơn vị kinh doanh Đánh giá năng lực nhân viên là một hoạt động quản lý nguồn nhân lực quan trọng và luôn tồn tại trong tất cả các tổ chức. Đánh giá năng lực nhân viên có thể thực hiện một cách chính thức hoặc không chính thức tùy thuộc vào mục đích của đánh giá.
Tóm lại, đánh giá năng lực nhân viên có mục đích sau: Thứ nhất, đối với người quản lý cấp cao, trưởng phòng, trưởng bộ phận có thể đưa ra các quyết định nhân sự đúng đắn trong tương lai. Các vấn đề về lương, thưởng là những hoạt động thường xuyên của tổ chức, ngoài ra các vấn đề về đề bạt thăng chức, xuống cấp hay thuyên chuyển cũng được nhà quản lý đưa ra dựa trên năng lực của người lao động. Thông tin phản hồi trong đánh giá giúp nhà quản lý, lãnh đạo có cái nhìn toàn diện hơn về những suy nghĩ và mong đợi của nhân viên, người lao động. Qua trao đổi trực tiếp với người lao động, nhà lãnh đạo, quản lý sẽ có sự thấu hiểu, đồng cảm với người lao động để có thể đưa ra những quyết định nhân sự phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của người lao động như: Đánh giá năng lực của người lao động trong quá khứ và nâng cao năng lực trong tương lai.
Đánh giá xem người lao động có xứng đáng được thưởng hoặc tăng lương hay không. Xem xét lại những công việc đã thực hiện nhằm xác định tồn tại, điểm yếu cần khắc phục, xác định khả năng tiềm ẩn chưa sử dụng đến của người lao động, từ đó xây dựng những chương trình đào tạo phát triển, tập huấn phù hợp. Đặt mục tiêu và xây dựng kế hoạch hành động nhằm giúp nhân viên định hướng nghề nghiệp. Xác định các năng lực tiềm tàng của người lao động và khả năng được thăng tiến trong tương lai.
Để tạo động lực cho người lao động, Xác định những khâu yếu kém, những tồn tại cần hoàn thiện hoặc thay đổi. 10 Xác định, đánh giá năng lực nhân sự hiện nay và nhu cầu cần thêm phục vụ công tác lập kế hoạch cho doanh nghiệp. Nhận được sự phản hồi từ người lao động về phương thức quản lý và chính sách doanh nghiệp. Cải thiện sự trao đổi thông tin trong công việc giữa các cấp khác nhau.
Thứ hai: đối với người lao động từ việc đánh giá năng lực của chính mình, người lao động sẽ biết mức độ kết quả đạt được của mình sau một khoảng thời gian nhất định. Từ đó giúp người lao động đưa ra những điều chỉnh, phát huy cũng như khắc phục những sai sót một cách thích hợp giúp đạt hiệu quả hơn trong việc thực hiện công việc sau này. Công tác đánh giá năng lực giúp cho người lao động tự thấy được điểm mạnh, điểm yếu, ưu điểm, nhược điểm của mình nhằm tự điều chỉnh những nhược điểm, khắc phục điểm yếu, phát huy, thúc đẩy, tận dụng các ưu điểm và điểm mạnh để tăng hiệu quả của công việc. Nội hàm công tác đánh giá năng lực của nhân viên 1.