LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Bên cạnh thực hiện mục tiêu đẩy mạnh phát triển nền kinh tế, việc bảo đảm mục tiêu ASXH, mục tiêu XĐGN, là một vấn đề mà Nhà nước ta đã nhận thức và thực hiện thời gian đầu trong công cuộc đổi mới kinh tế. Trong các chính sách đã triển khai với mục đích hướng tới hỗ trợ Hộ nghèo và các ĐTCS khác vượt qua những khó khăn, trở ngại của cuộc sống, để từ đó có thể vươn lên thoát khỏi hộ nghèo, thì chính sách thực hiện cho vay ưu đãi về tín dụng luôn được chọn lựa và ưu tiên thực hiện. Các ưu đãi về tín dụng chính sách luôn luôn được quan tâm, thay đổi thường xuyên, liên tục bảo đảm luôn bám sát với tình hình thực tế của nền kinh tế xã hội và các nhu cầu thực tế của các đối tượng là người nghèo.
Để người nghèo và ĐTCS có thể tiếp cận được những ưu đãi của Đảng, Nhà nước một cách kịp thời, đầy đủ và đạt được hiệu quả cao. NHCSXH được thành lập đúng thời điểm nước ta đang chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; tỷ lệ hộ đói, hộ nghèo của nước ta đang ở vào mức tương đối cao so với trong khu vực và các nước trên thế giới đã trở thành thách thức cho TCTD đặc thù như NHCSXH. Ra đời thể hiện những nỗ lực lớn của Chính phủ Việt Nam trong công cuộc thực hiện chương trình, mục tiêu quốc gia và cam kết trước cộng đồng quốc tế về XĐGN và tạo điều kiện hội nhập cho các NHTM Nhà nước. Nguyên nhân dẫn tới đói nghèo tương đối nhiều, tuy nhiên có thể nhận ra nguyên nhân chủ yếu là: Thiếu nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, nên Nhà nước xác định tín dụng chính sách là một trong những mắt xích quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế, XĐGN ở Việt Nam.
Thực hiện một trong năm mục tiêu ban đầu được xác định khi thành lập NHCSXH, Nhà nước đã huy động các nguồn lực của xã hội tập trung vào một đầu mối là NHCSXH tỉnh Hà Tĩnh, để thực hiện cho vay đối với những hộ nghèo và các ĐTCS, để đóng góp một phần rất quan trọng trong trong công tác XĐGN, đảm bảo ASXH. Trong các chính sách hướng tới hỗ trợ hộ nghèo và các ĐTCS khác từng bước vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, để từ đó vươn lên thoát nghèo, tín 2 dụng ưu đãi là một chính sách luôn được ưu tiên thực hiện. Với mục tiêu đưa những chính sách ưu đãi về tín dụng của Đảng, Nhà nước tới hộ nghèo và các ĐTCS, một lần nữa khẳng định sự đúng đắn, phù hợp và kịp thời của những chính sách tín dụng ưu đãi. Để có được những thành công đó, ngoài sự chỉ đạo đúng đắn, quan tâm sát sao của Đảng, Nhà nước, công tác phối hợp của Tổ chức CT-XH nhận ủy thác, còn có sự nỗ lực không ngừng của NHCSXH trong công tác quản lý tín dụng chính sách.
Trong gần 15 năm thực hiện nhiệm vụ, từ 02 chương trình tín dụng ban đầu, đến nay NHCSXH tỉnh Hà Tĩnh đang triển khai và thực hiện 14 chương trình tín dụng, trong đó 13 chương trình tín dụng của Trung ương và 01 chương trình của địa phương ủy thác cho vay bằng vốn ngân sách tỉnh; tốc độ tăng trưởng vốn ngày càng lớn, quy mô tín dụng ngày càng tăng. Tuy nhiên thực trạng hiện nay bên cạnh những kết quả mà NHCS đã và đang đạt được còn tồn tại một số bất cập đặt ra những thách thức lớn như: Vẫn xảy ra tình trạng cho vay không đúng đối tượng, quy mô cấp tín dụng còn thấp, thời gian từng chương trình chưa phù hợp, khách hàng vay vốn thiếu kinh nghiệm kiến thức về sản xuất… dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn vay còn thấp. Làm thế nào vừa quản lý vốn các chương trình cho vay an toàn, hiệu quả, vừa đảm bảo các ĐTCS có thể sử dụng vốn vay ưu đãi một cách tốt nhất ? Cần tìm ra giải pháp như thế nào để từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ưu đãi tại NHCSXH tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới ? Từ lý luận và thực tiễn, tác giả đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ƣu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hà Tĩnh” làm đối tượng nghiên cứu và là đề tài luận văn của mình. Tình hình nghiên cứu Ngân hàng Chính sách xã hội thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ- TTg, ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ bằng cách tái cơ cấu Ngân hàng nông nghiệp với mục đích thực hiện chính sách ưu đãi tín dụng đối với hộ nghèo, các ĐTCS khác cụ thể như: Cho vay đối với hộ nghèo; cho vay vốn để thực hiện cho vay tạo việc làm cho người dân; cho vay các gia đình có HSSV có 3 hoàn cảnh khó khăn; các hộ gia đình sản xuất kinh doanh và tổ chức kinh tế thuộc vùng Hải đảo, thuộc vùng miền núi và thuộc các chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng khó khăn…; các ĐTCS đi lao động, làm việc có thời hạn tại nước ngoài, các đối tượng chính sách khác khi có quy định mới của cơ quan có thẩm quyền.
Trước năm 2002, hoạt động cho vay hộ nghèo được Nhà nước giao cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, ranh giới giữa kinh doanh thương mại và cơ chế chính sách bị chồng chéo. Sau khi NHCSXH ra đời, phạm vi và đối tượng cho vay được mở rộng, các đối tượng hộ nghèo và gia đình chính sách có điều kiện tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi của của Chính phủ thuận lợi, đúng đối tượng và minh bạch. Việc tách tín dụng thương mại khỏi tín dung chính sách còn tạo cơ hội tập hợp nguồnvốn từ các tổ chức Quôc tế, nguồn vốn phi chính phủ, các tổ chức cá nhân trong nước thành nguồn vốn ổn định nhằm đáp ứng nhu cầu cấp tín dung cho các đối tượng chính sách.
Việc tách tín dụng chính sách khỏi tín dụng thương mại còn khẳng định bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là riêng có của Việt Nam. Mặc dù mới hình thành và phát triển, tuy nhiên đến nay nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến đề tài này đã được thực hiện như: - Dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau về vốn vay ưu đãi, cũng đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, bài viết đăng trên các tạp chí khác nhau như: “ Gian nan đường đưa vốn đến huyện nghèo” của Chí Kiên (2013), thời báo Ngân hàng số 91; hay “Tín dụng ngân hàng phục vụ đối tượng chính sách và các chương trình kinh tế của Chính phủ”, của Bùi Hoàng Anh, tạp chí Ngân hàng….Các công trình nghiên cứu trên đã có đóng góp trong việc hình thành cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ưu đãi phục vụ cho chiến lược phát triển của đất nước. - Trong Hội nghị Nhóm tư vấn đối với Việt Nam năm 2008, Ngân hàng Thế giới đã có báo cáo “Huy động và sử dụng vốn” bàn về phương thức để Việt Nam huy động và sử dụng vốn hiệu quả. Báo cáo chỉ ra NHCSXH là tổ chức cung cấp 4 các khoản vay theo mục tiêu cho người nghèo và các nhóm bị thiệt thòi.
Cũng giống như nhiều tổ chức khác trên thế giới, thực hiện truyền tải nguồn vốn đến với hộ nghèo dựa vào Tổ TK&VV, NHCSXH có điểm riêng là có sự hợp tác chặt chẽ với các tổ chức chính quyền địa phương để các tổ chức này giúp lựa chọn đối tượng cần vay vốn, đồng thời thẩm tra xem họ có đủ điều kiện vay vốn ưu đãi hay không. Báo cáo nhận định trong điều kiện hoạt động đang được mở rộng nhanh chóng, NHCSXH đã sẵn sàng chiếm lĩnh vị trí thống lĩnh thị trường tài chính vi mô và sự độc quyền này làm nản lòng các NHTM và các TCTC vi mô đang hoạt. Điều này sẽ làm giảm hiệu suất nói chung của hoạt động cho vay tài chính hướng tới các nhóm dân cư đang cần giúp đỡ nhất. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ đề cập một cách khái quát tới hoạt động cho vay và huy động của NHCSXH mà chưa đưa ra được các tiêu chí đánh giá hiệu quả mang lại của tín dụng ưu đãi.
- Luận án “Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoa hoàn thành vào năm 2009. Dựa trên cơ sở lý thuyết về tấn công đói nghèo của Ngân hàng thế giới và phương pháp đánh giá cụ thể các chính sách giảm nghèo, luận án tập trung phân tích chính sách XĐGN tại Việt Nam. Từ đó, tác giả đã chỉ ra những tác động cụ thể của từng chính sách và đề xuất những định hướng và đưa ra các cách thức hoàn thiện chính sách XĐGN của nước ta đến năm 2015. Cụ thể, luận án đã hệ thống hóa lý luận về đói nghèo và các phương pháp đánh giá chính sách XĐGN và chỉ ra chính sách XĐGN cần bao phủ một cách toàn diện đến các khía cạnh của đói nghèo.
Chính phủ sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc định hướng, phát triển các chính sách giảm nghèo của đất nước. Bên cạnh đó Nhà nước tìm ra các biện pháp đồng bộ để từng bước hoàn chỉnh khâu nhìn nhận, thực hiện, giám sát và đánh giá các chính sách đó, luận án đã đề ra bốn chính sách XĐGN chủ yếu và xây dựng một khung ma trận hoàn chỉnh chính sách XĐGN với mục tiêu cụ thể là đồng bộ, thống nhất trong công cuộc tấn công đói nghèo đối với nước ta. Luận án của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoa có phân tích về hoạt động tín dụng cho người nghèo nhưng lại chưa bàn sâu về công tác quản lý, hoạt động của đơn vị đặc thù như NHCSXH, từ việc xây dựng mạng 5 lưới cho tới việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn cho vay, cách thức cung cấp tín dụng ưu đãi bằng hình thức ủy nhiệm với các Tổ TK&VV và tổ chức CT-XH tại các địa phương [24]. - Luận án tiến sĩ “Cơ sở khoa học của việc giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn” của TS.
Hà Quang Trung năm 2014 đã chỉ ra cần tiếp tục thực chính sách về tín dụng cho người nghèo, nâng mức vay cao hơn, thời gian thực hiện cho vay dài hơn để đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất, kinh doanh của người dân.