Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đói nghèo là rào cản làm suy giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng và quốc gia. Tại Việt Nam, phương pháp đánh giá nghèo đói trong nhiều thập niên chủ yếu dựa trên chuẩn nghèo đơn chiều thông qua tiêu chí thu nhập hoặc mức chi tiêu tối thiểu quy đổi thành tiền. Phương pháp tiếp cận này bộc lộ hạn chế khi không phản ánh đầy đủ bản chất của nghèo đói là tình trạng bị khước từ các quyền cơ bản và thiếu cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu như y tế, giáo dục, thông tin, nhà ở và nước sạch. Nhiều hộ gia đình dù có thu nhập vượt ngưỡng chuẩn nghèo nhưng vẫn chịu thiếu thốn nghiêm trọng về điều kiện sống, dẫn đến nguy cơ tái nghèo cao (thực tế trung bình cứ 3 hộ thoát nghèo thì có 1 hộ tái nghèo).

Xã Tụ Nhân là một xã vùng cao thuộc huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Dù địa phương đã triển khai nhiều chương trình giảm nghèo và hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 60,31% (năm 2016) xuống còn 54,19% (năm 2017), kết quả đạt được vẫn chưa bảo đảm tính bền vững. Tỷ lệ hộ cận nghèo và tái nghèo còn cao, chênh lệch mức sống giữa các thôn bản còn lớn, tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước vẫn tồn tại ở một bộ phận người dân. Trước yêu cầu chuyển đổi căn bản từ phương pháp đo lường nghèo đơn chiều sang nghèo đa chiều nhằm nhận diện chính xác đối tượng thụ hưởng chính sách, khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn xã.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  • Mục tiêu chung: Trên cơ sở đánh giá thực trạng nghèo tại địa bàn xã Tụ Nhân, nghiên cứu và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm giảm nghèo bền vững tại địa phương.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá thực trạng nghèo tại xã Tụ Nhân, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
    2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới giảm nghèo trong địa bàn xã Tụ Nhân và nguyên nhân ảnh hưởng đến giảm nghèo.
    3. Đề xuất được các giải pháp nhằm thoát nghèo bền vững tại xã Tụ Nhân.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ gia đình nghèo và cận nghèo trong cộng đồng dân cư xã Tụ Nhân.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Tụ Nhân, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang; điều tra chuyên sâu tại 3 thôn đại diện gồm thôn Nắm Ản, thôn Bản Cậy và thôn U Khố Sủ.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 3 năm 2015–2017; số liệu sơ cấp điều tra hộ thực hiện trong năm 2017. Thời gian triển khai nghiên cứu từ ngày 14/08/2017 đến ngày 21/12/2017.
  • Phạm vi nội dung: Đánh giá nghèo đa chiều theo 5 chiều dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, điều kiện sống, tiếp cận thông tin, nhà ở) quy định bởi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo đói từ các định nghĩa của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, 1993), Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Xã hội (Copenhagen, 1995) và lý thuyết về năng lực, cơ hội lựa chọn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Về khung phân tích thực nghiệm, tác giả sử dụng khung tiếp cận Sinh kế bền vững (SLA) do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1999) ban hành, xem xét khả năng tiếp cận của hộ gia đình đối với 5 nguồn vốn sinh kế: tự nhiên, con người, vật chất, tài chính và xã hội, đồng thời kế thừa ứng dụng phân tích sinh kế tại Việt Nam của Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2012).

Cơ sở pháp lý trung tâm của nghiên cứu là Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016–2020. Chuẩn nghèo nông thôn bao gồm tiêu chí thu nhập (từ đủ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống) và mức độ thiếu hụt tiếp cận 10 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản thuộc 5 chiều nghèo:

  1. Chiều Giáo dục: Trình độ giáo dục của người lớn; Tình trạng đi học của trẻ em.
  2. Chiều Y tế: Tiếp cận các dịch vụ y tế; Bảo hiểm y tế.
  3. Chiều Nhà ở: Chất lượng nhà ở; Diện tích nhà ở bình quân đầu người.
  4. Chiều Điều kiện sống: Nguồn nước sinh hoạt; Hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh.
  5. Chiều Tiếp cận thông tin: Sử dụng dịch vụ viễn thông; Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.

Khóa luận còn viện dẫn các văn bản quy phạm liên quan gồm Hiến pháp 2013, Nghị quyết số 15/NQ-TW, Luật Giáo dục 2005, Luật Bảo hiểm y tế 2014, Luật Nhà ở, Luật Viễn thông, Quyết định số 2127/QĐ-TTg, Quyết định số 587/2002/QĐ-BLĐTBXH về tiêu chí xã nghèo, và chính sách giảm nghèo nhanh theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Trích xuất các báo cáo thống kê, kế hoạch kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết giảm nghèo giai đoạn 2015–2017 từ Ủy ban nhân dân xã Tụ Nhân, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Hoàng Su Phì và Trạm Khuyến nông huyện.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi thiết kế sẵn tại 60 hộ gia đình (gồm 47 hộ nghèo và 13 hộ cận nghèo) phân bố tại 3 thôn đại diện cho 3 mức độ phát triển kinh tế: Bản Cậy (kinh tế phát triển nhất), Nắm Ản (kinh tế trung bình) và U Khố Sủ (kinh tế khó khăn nhất). Mỗi thôn chọn 20 hộ.
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Tổng hợp số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel, sử dụng phương pháp thống kê mô tả để lượng hóa cơ cấu nhân khẩu, lao động, thu nhập, tài sản và mức độ thiếu hụt chỉ số; áp dụng phương pháp so sánh đối chiếu giữa chuẩn nghèo đơn chiều và đa chiều, giữa các mốc thời gian và giữa các địa bàn thôn.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc chuyển hướng đo lường nghèo đói từ góc độ thu nhập sang đa chiều, phân tích nguy cơ tái nghèo và tình trạng bỏ sót nhu cầu an sinh tại vùng đồng bào thiểu số. Phần này xác lập hệ thống mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác quản lý địa phương, đồng thời giới hạn phạm vi nghiên cứu về thời gian, không gian và nội dung chuyên môn.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật các khái niệm kinh điển về nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo đa chiều và chuẩn nghèo quốc tế theo Ngân hàng Thế giới (WB), UNDP. Tác giả tổng hợp lịch sử các mốc chuẩn nghèo tại Việt Nam qua các giai đoạn 2001–2005, 2006–2010, 2011–2015 (Quyết định 170/2005/QĐ-TTg) và giai đoạn 2016–2020 (Quyết định 59/2015/QĐ-TTg). Chương 2 cũng phân tích bài học giảm nghèo nông thôn từ Hàn Quốc (chính sách tín dụng, trợ giá nông sản, giống lúa mới, xây dựng cộng đồng mới Saemaul thông qua hợp tác xã) và Trung Quốc (cải cách cơ cấu nông thôn từ sau Đại hội XII năm 1984, phân phối theo lao động, hỗ trợ vùng sâu vùng xa), cùng tổng kết thành tựu giảm nghèo tại Việt Nam theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP và các thách thức về khoảng cách thu nhập.

Phần 3: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng khảo sát là hộ nghèo và cận nghèo; quy trình chọn mẫu điều tra 60 hộ trên tổng số 788 hộ toàn xã; cấu trúc mẫu điều tra theo bảng 3.1:

STT Thôn Hộ nghèo (hộ) Tỷ lệ hộ nghèo (%) Hộ cận nghèo (hộ) Tỷ lệ hộ cận nghèo (%) Tổng số mẫu (hộ)
1 U Khố Sủ 14 23,33 6 10,00 20
2 Nắm Ản 16 26,67 4 6,67 20
3 Bản Cậy 17 28,33 3 5,00 20
Tổng Toàn xã 47 78,33 13 21,67 60

Phần này cũng quy định hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu gồm 10 chỉ số thiếu hụt xã hội cơ bản, chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu mẫu, biến động giảm nghèo và phương pháp phân tích so sánh mô tả trên Microsoft Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 chiếm dung lượng lớn nhất của khóa luận, gồm các phân tích chuyên sâu:

  1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Xã Tụ Nhân có diện tích tự nhiên 3.539,9 ha (đất nông nghiệp chiếm 48,50% với 1.716,84 ha; đất lâm nghiệp chiếm 32,70% với 1.157,51 ha; đất khác chiếm 18,80% với 665,55 ha). Địa hình đồi núi dốc bị chia cắt bởi sông Chảy và các khe suối, mùa mưa tập trung 85% lượng nước từ tháng 5 đến tháng 10 gây lũ quét, hạn hán mùa khô.
  2. Thực trạng và diễn biến nghèo giai đoạn 2015–2017: Tổng hợp số liệu từ các bảng rà soát cho thấy tỷ lệ hộ nghèo toàn xã giảm từ 64,81% (490 hộ năm 2015) xuống 60,31% (468 hộ năm 2016) và còn 54,19% (427 hộ năm 2017). Tỷ lệ hộ cận nghèo biến động từ 7,54% (57 hộ năm 2015) lên 9,15% (71 hộ năm 2016) và giảm về 6,85% (54 hộ năm 2017).
  3. Phân tích hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập và thiếu hụt dịch vụ xã hội năm 2017: Trong 427 hộ nghèo năm 2017, có 380 hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập (ký hiệu nhóm N1, chiếm 88,99%) và 47 hộ nghèo do thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (nhóm N2, chiếm 11,01%). Thôn U Khố Sủ có tỷ lệ nghèo cao nhất xã với 64,24% (106 hộ), trong khi Bản Cậy thấp nhất với 44,63% (79 hộ).
  4. Mức độ thiếu hụt 10 chỉ số dịch vụ cơ bản của 427 hộ nghèo:
    • Chỉ số 1 (Trình độ giáo dục người lớn): 37 hộ thiếu hụt (tỷ lệ 8,67%).
    • Chỉ số 2 (Tình trạng đi học của trẻ em): 68 hộ thiếu hụt (15,93%), tập trung cao bất thường tại U Khố Sủ với 62 hộ (chiếm 58,49% hộ nghèo của thôn).
    • Chỉ số 3 (Tiếp cận dịch vụ y tế): 19 hộ thiếu hụt (4,45%).
    • Chỉ số 4 (Bảo hiểm y tế): 0 hộ thiếu hụt (0,00%), toàn bộ hộ nghèo đều được cấp thẻ BHYT.
    • Chỉ số 5 (Chất lượng nhà ở): 24 hộ thiếu hụt (5,62%).
    • Chỉ số 6 (Diện tích nhà ở): 35 hộ thiếu hụt (8,20%).
    • Chỉ số 7 (Nguồn nước sinh hoạt): 52 hộ thiếu hụt (12,18%).
    • Chỉ số 8 (Hố xí, nhà tiêu hợp vệ sinh): 125 hộ thiếu hụt (29,27%).
    • Chỉ số 9 (Sử dụng dịch vụ viễn thông): 38 hộ thiếu hụt (8,90%).
    • Chỉ số 10 (Tài sản tiếp cận thông tin): 221 hộ thiếu hụt (51,76%), là chỉ số có mức độ thiếu thốn cao nhất toàn xã.
  5. Diễn biến biến động giảm nghèo năm 2017: Toàn xã có 63 hộ thoát nghèo (đạt tỷ lệ 13,46%), không có hộ tái nghèo, nhưng phát sinh mới 22 hộ nghèo (tỷ lệ 5,15%). Đối với hộ cận nghèo, có 55 hộ thoát cận nghèo (77,46%), không có hộ rơi xuống hộ nghèo, song phát sinh mới 38 hộ cận nghèo.
  6. Nguyên nhân nghèo và định hướng giải pháp: Tác giả chỉ ra nguyên nhân chủ yếu do địa hình chia cắt, thiếu vốn, thiếu đất canh tác, trình độ văn hóa hạn chế, phương thức sản xuất lạc hậu và tư tưởng trông chờ trợ cấp.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các chỉ số đạt được, kiến nghị chính quyền cấp tỉnh, huyện và xã hoàn thiện hạ tầng thủy lợi, nâng cấp hệ thống phát thanh truyền thanh cơ sở, hỗ trợ mô hình sinh kế và yêu cầu hộ dân chủ động thay đổi tập quán sản xuất, vệ sinh môi trường.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm rà soát hộ nghèo và cận nghèo của toàn bộ 5 thôn thuộc xã Tụ Nhân trong giai đoạn chuyển đổi chính sách 2015–2017:

Năm Tổng số hộ (hộ) Số hộ nghèo (hộ) Tỷ lệ hộ nghèo (%) Số hộ cận nghèo (hộ) Tỷ lệ hộ cận nghèo (%) Tiêu chí áp dụng
2015 756 490 64,81 57 7,54 Chuẩn nghèo đơn chiều (thu nhập)
2016 776 468 60,31 71 9,15 Chuẩn nghèo đa chiều (QĐ 59/2015)
2017 788 427 54,19 54 6,85 Chuẩn nghèo đa chiều (QĐ 59/2015)

Kết quả rà soát chi tiết mức độ thiếu hụt 10 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản năm 2017 tại các thôn được tổng hợp như sau:

Thôn/Tổ Tổng số hộ nghèo Thiếu hụt GD người lớn (hộ) Trẻ em không đi học (hộ) Thiếu tiếp cận y tế (hộ) Thiếu thẻ BHYT (hộ) Nhà thiếu kiên cố (hộ) Thiếu diện tích ở (hộ) Thiếu nước sinh hoạt (hộ) Thiếu nhà tiêu HVS (hộ) Thiếu viễn thông (hộ) Thiếu tài sản TT (hộ)
U Khố Sủ 106 23 62 3 0 5 13 7 49 6 94
Nắm Ản 79 8 1 0 0 0 0 0 8 0 30
Bản Cậy 79 5 2 2 0 13 6 16 26 17 39
Nà Hu 79 0 1 0 0 4 7 17 37 5 47
Cán Chỉ Dền 84 1 2 14 0 2 9 12 5 10 11
Tổng số 427 37 68 19 0 24 35 52 125 38 221
Tỷ lệ (%) 100% 8,67% 15,93% 4,45% 0,00% 5,62% 8,20% 12,18% 29,27% 8,90% 51,76%

Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất gồm:

  • Đối với chính quyền địa phương: Tăng cường đầu tư hệ thống loa truyền thanh không dây đến các thôn bản xa xôi để khắc phục tỷ lệ thiếu hụt thông tin (51,76%); lồng ghép nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia để hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh (giải quyết tỷ lệ thiếu hụt 29,27%); tập trung vận động học sinh đến trường và hỗ trợ chi phí học tập đặc thù tại thôn U Khố Sủ (nơi có 58,49% hộ nghèo thiếu hụt chỉ số trẻ em đi học); mở các lớp tập huấn khuyến nông sát thực tế địa hình dốc.
  • Đối với người dân: Khắc phục tư tưởng trông chờ ỷ lại vào chính sách trợ cấp của Nhà nước; tận dụng diện tích đất đồi rừng và nguồn nước suối để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; chủ động đóng góp ngày công cải tạo đường giao thông nội thôn và xây dựng các công trình vệ sinh gia đình.

Đóng góp của khóa luận: Đề tài là công trình khảo sát thực địa đầu tiên tại xã Tụ Nhân vận dụng đồng bộ bộ chỉ số nghèo đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, giúp chính quyền xã phân tách rõ 380 hộ nghèo thu nhập và 47 hộ nghèo phi thu nhập, chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất của địa phương không nằm ở bảo hiểm y tế mà nằm ở phương tiện tiếp cận thông tin và vệ sinh môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Giới hạn về mẫu điều tra: Nghiên cứu mới khảo sát trực tiếp 60 hộ gia đình tại 3/5 thôn (chiếm tỷ lệ nhỏ trên tổng số 788 hộ toàn xã), chưa bao quát toàn bộ các hộ dân tại 2 thôn Nà Hu và Cán Chỉ Dền.
  • Giới hạn thời gian: Khảo sát thực địa được thực hiện trong thời gian từ ngày 14/08/2017 đến ngày 21/12/2017, chủ yếu phản ánh số liệu cắt ngang tại thời điểm rà soát cuối năm 2017.
  • Giới hạn phương pháp phân tích: Nghiên cứu dừng lại ở mức độ phân tích thống kê mô tả, lập bảng chéo và so sánh tỷ lệ trên Microsoft Excel; chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng (như hồi quy đa biến, Logit hoặc Probit) để đo lường mức độ tác động biên của từng biến số sinh kế (diện tích đất, số lao động, trình độ học vấn chủ hộ) đến xác suất rơi vào nghèo đói.

Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng địa bàn khảo sát toàn diện 100% các thôn bản của huyện Hoàng Su Phì; thiết lập các nghiên cứu theo dõi dọc (panel data) qua nhiều năm để đánh giá chính xác mức độ tái nghèo của các hộ mới thoát nghèo; kết hợp phân tích định lượng chuyên sâu các yếu tố cản trở tiếp cận dịch vụ công của từng nhóm dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Xã hội học khi nghiên cứu phương pháp luận đánh giá nghèo đa chiều cấp xã.
  • Cán bộ làm công tác giảm nghèo, Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện và xã vùng miền núi phía Bắc: Cung cấp biểu mẫu rà soát thực tế, phương pháp bóc tách hộ nghèo nhóm N1 (nghèo thu nhập) và N2 (nghèo thiếu hụt dịch vụ), giúp xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách trúng đích thay vì áp dụng bình quân.
  • Phần đáng tham khảo nhất là Chương 4 với hệ thống bảng số liệu thống kê chi tiết 10 chỉ số thiếu hụt tại từng thôn bản, cho thấy mô hình điển hình về thiếu hụt tiếp cận thông tin và điều kiện vệ sinh tại vùng cao Hoàng Su Phì.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của xã Tụ Nhân năm 2017 là bao nhiêu?
Theo kết quả rà soát năm 2017 trình bày tại bảng 4.2 và bảng 4.3 của khóa luận, toàn xã Tụ Nhân có 427 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 54,19% trên tổng số 788 hộ dân cư) và 54 hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 6,85%).

2. Trong các chỉ số đo lường nghèo đa chiều, chỉ số nào có tỷ lệ hộ nghèo thiếu hụt cao nhất tại xã Tụ Nhân?
Chỉ số thiếu hụt cao nhất là "Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin" (Chỉ số 10) với 221/427 hộ nghèo thiếu hụt, chiếm tỷ lệ 51,76%. Đứng thứ hai là chỉ số "Hố xí, nhà tiêu hợp vệ sinh" (Chỉ số 8) với 125/427 hộ nghèo thiếu hụt, chiếm tỷ lệ 29,27%.

3. Tình hình tiếp cận bảo hiểm y tế của các hộ nghèo tại xã Tụ Nhân năm 2017 như thế nào?
Tỷ lệ thiếu hụt bảo hiểm y tế tại xã Tụ Nhân ghi nhận ở mức 0,00% (không có hộ nào thiếu hụt trong tổng số 427 hộ nghèo). Điều này phản ánh chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định pháp luật đã đạt độ bao phủ toàn diện tại địa phương.

4. Thôn nào có tình trạng trẻ em không đi học nghiêm trọng nhất trong xã Tụ Nhân?
Thôn U Khố Sủ có tình trạng trẻ em không đi học nghiêm trọng nhất, với 62 hộ nghèo có trẻ em trong độ tuổi 5 đến dưới 15 tuổi không đi học, chiếm tỷ lệ 58,49% tổng số hộ nghèo của thôn và chiếm 91,18% tổng số hộ thiếu hụt chỉ số này trên toàn xã.

5. Cơ cấu hộ nghèo xã Tụ Nhân năm 2017 phân chia theo nguyên nhân thu nhập và dịch vụ cơ bản như thế nào?
Trong tổng số 427 hộ nghèo của xã, có 380 hộ thuộc diện nghèo do thu nhập (nhóm N1, chiếm 88,99%) và 47 hộ thuộc diện nghèo do thiếu hụt từ 3 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản trở lên dù thu nhập trên chuẩn nghèo (nhóm N2, chiếm 11,01%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vương Thị Hòa đã phản ánh chi tiết thực trạng nghèo đa chiều tại xã Tụ Nhân, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang trong giai đoạn 2015–2017. Bằng việc kết hợp dữ liệu thống kê địa phương và khảo sát mẫu 60 hộ gia đình, tác giả làm rõ nghèo đói tại xã chủ yếu do thu nhập thấp (chiếm 88,99%), đi kèm sự thiếu hụt trầm trọng về phương tiện tiếp cận thông tin, nhà tiêu hợp vệ sinh và giáo dục trẻ em tại các thôn khó khăn. Công trình cung cấp căn cứ thực tiễn giúp chính quyền địa phương định hình các giải pháp can thiệp có trọng tâm, hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững tại vùng miền núi phía Bắc.