Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Nà Hẩu có toạ độ địa lý từ 21º50’ đến 22º01’ vĩ độ Bắc và từ 104º23’ đến 104º40’ kinh độ Đông, nằm trên địa bàn 4 xã gồm Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và Phong Dụ Thượng thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Khu bảo tồn sở hữu diện tích vùng lõi là 16.950 ha cùng hệ sinh thái rừng tự nhiên mang tính điển hình cho vùng núi phía Bắc và trung tâm ẩm Bắc Bộ tương đối nguyên vẹn. Hệ thống núi cao tiếp nối của dãy Hoàng Liên Sơn tạo nên các sinh cảnh rừng tự nhiên đặc trưng, là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm.

Về mặt sinh học, rùa là nhóm động vật có khả năng di chuyển hạn chế, chu kỳ sinh trưởng và sinh sản kéo dài, chịu rủi ro cao khi sinh cảnh bị xáo trộn. Trong hơn 20 năm trở lại đây, hoạt động săn bắt rùa mang tính thương mại diễn ra phổ biến khiến số lượng cá thể và thành phần loài rùa suy giảm nghiêm trọng. Mặc dù Việt Nam đã ghi nhận 23 loài rùa cạn và rùa nước ngọt (trong đó phần lớn thuộc danh mục quý hiếm của Sách đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN), các dữ liệu về sinh thái học, sinh cảnh phân bố cũng như hiện trạng quần thể tại khu vực vùng núi Tây Bắc vẫn còn nhiều khoảng trống. Nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý và bảo tồn loài, đề tài "Đánh giá hiện trạng các loài Rùa nước ngọt tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu - Văn Yên - Yên Bái" đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá hiện trạng phân bố và tình hình khai thác rùa nước ngọt, từ đó đề xuất các giải pháp giúp chính quyền địa phương và cộng đồng định hướng công tác bảo tồn loài tại Khu BTTN Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Xác định đa dạng thành phần các loài rùa nước ngọt tại Khu BTTN Nà Hẩu làm cơ sở xác định hiện trạng và giám sát quần thể.
    • Xác định tình trạng phân bố của các loài rùa nước ngọt theo đai độ cao và dạng sinh cảnh.
    • Mô tả đặc điểm sinh học, hình thái của các loài rùa nước ngọt ghi nhận được tại địa bàn nghiên cứu.
    • Xác định các mối đe dọa trực tiếp và gián tiếp tác động đến các loài rùa nước ngọt tại khu bảo tồn.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn khả thi cho khu hệ rùa nước ngọt tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Khu hệ rùa nước ngọt và rùa cạn phân bố trong phạm vi Khu BTTN Nà Hẩu.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Khu BTTN Nà Hẩu (tập trung khảo sát thực địa và phỏng vấn tại 5 thôn thuộc xã Nà Hẩu: Bản Tát, Khe Tát, Khe Cạn, Làng Thượng, Ba Khuy).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu thực hiện từ ngày 15/8/2017 đến ngày 06/6/2018; trong đó đợt điều tra phỏng vấn và khảo sát thực địa tập trung diễn ra từ ngày 24/10/2017 đến ngày 30/10/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên các cơ sở khoa học về phân loại học và sinh thái học quần thể:

  • Khái niệm phân loại học: Kế thừa quan niệm về loài từ Johns Ray (1686), Linnaeus (1735) và Ernst Mayr về nhóm quần thể tự nhiên cách ly sinh sản.
  • Sinh thái học quần thể: Ứng dụng quan niệm tiến hóa hiện đại và sinh thái học về cấu trúc quần thể, mối quan hệ giữa loài với sinh cảnh sống.
  • Đa dạng sinh học: Dựa trên định nghĩa của Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF, 1989), Công ước Đa dạng sinh học (CBD) và khung tiếp cận 3 cấp độ (di truyền, loài, hệ sinh thái) của IUCN (1994).
  • Khung pháp lý và phân hạng bảo tồn: Sử dụng 4 văn bản quy chuẩn gồm Sách đỏ Việt Nam (SĐVN, 2007), Danh lục Đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2013), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm, và Phụ lục Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES, 2013).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp phỏng vấn xã hội học: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 40 người (39 nam, 1 nữ) gồm cán bộ Ủy ban nhân dân xã, kiểm lâm địa bàn và người dân địa phương tại 5 thôn (Bản Tát: 7 người, Khe Tát: 7 người, Khe Cạn: 13 người, Làng Thượng: 6 người, Ba Khuy: 7 người). Quá trình phỏng vấn sử dụng bảng hỏi liệt kê tự do kết hợp bộ ảnh màu chuẩn gồm 23 loài rùa cạn và rùa nước ngọt tại Việt Nam để hỗ trợ nhận dạng, ghi nhận tên địa phương, vị trí, độ cao, tần suất bắt gặp và giá trị thị trường.
  • Phương pháp điều tra thực địa theo tuyến: Thiết lập 4 tuyến khảo sát có chiều dài từ 1 km đến 3 km, phân bố trên các đai độ cao từ 400 m đến 900 m, đi qua 5 dạng sinh cảnh chính: đồng ruộng [I], nương rẫy [II], sông suối [III], khe rạch [IV] và rừng [V]. Nhóm nghiên cứu sử dụng máy định vị GPS, ống nhòm, di chuyển với vận tốc 2–3 km/h để tìm kiếm cá thể, dấu vết tại các hang đất, bờ suối, khe rạch.
  • Phương pháp kế thừa số liệu: Tổng hợp và đối chiếu các báo cáo quy hoạch, tài liệu điều tra đa dạng sinh học đã công bố tại Khu BTTN Nà Hẩu (đặc biệt là công trình của Đồng Thanh Hải năm 2013, 2015).
  • Phương pháp đánh giá mối đe dọa: Phân tích tổng hợp từ kết quả quan sát thực địa, số liệu phỏng vấn cộng đồng và cán bộ kiểm lâm để xác định áp lực từ khai thác tài nguyên và tập quán săn bắt.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ giá trị đa dạng sinh học của Khu BTTN Nà Hẩu và áp lực suy giảm nghiêm trọng của các loài rùa nước ngọt do hoạt động khai thác thương mại. Xác định mục tiêu tổng quát, 5 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc củng cố phương pháp nghiên cứu thực địa và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác quản lý tài nguyên rừng tại địa phương.

Phần II: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tổng hợp các cơ sở lý luận về loài, quần thể và 3 cấp độ đa dạng sinh học. Khái quát độ đa dạng bộ Rùa (Testudinata) trên thế giới (khoảng 300 loài), khu vực Châu Á (khoảng 90 loài) và Việt Nam (28 loài, gồm 23 loài cạn/nước ngọt và 5 loài biển, có 1 loài đặc hữu là Mauremys annamensis). Điểm lại lịch sử nghiên cứu từ các công trình Đông Dương của Bourret (1941) đến các nghiên cứu trong nước của Đào Văn Tiến (1977), Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Lê Nguyên Ngật, Douglas Hendrie.

Đồng thời, chương này mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên của Khu BTTN Nà Hẩu với diện tích 16.950 ha (vùng lõi) và 26.360 ha (vùng đệm); đặc trưng 5 kiểu địa hình (núi cao N1, núi trung bình N2, núi thấp N3, đồi Đ, thung lũng T); khí hậu nhiệt đới núi cao 2 mùa rõ rệt, lượng mưa 1.547–2.126 mm, độ ẩm 84–86%; 5 nhóm đất chính (alít mùn núi cao, feralit mùn, feralit đỏ vàng, đất dốc tụ, đất lúa); đặc điểm dân sinh xã hội năm 2010 với dân số 13.988 người (mật độ 33 người/km²), gồm 5 dân tộc mà chủ yếu là người Dao và người H'Mông.

Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định rõ đối tượng nghiên cứu là khu hệ rùa nước ngọt tại Khu BTTN Nà Hẩu; lộ trình nghiên cứu từ tháng 8/2017 đến tháng 6/2018. Mô tả chi tiết kỹ thuật phỏng vấn 40 người dân bằng bảng hỏi và bộ ảnh màu tại 5 thôn; thông số 4 tuyến khảo sát thực địa (tọa độ GPS bắt đầu/kết thúc, chiều dài 1–3 km, phân bố độ cao 400–900 m qua 5 sinh cảnh); phương pháp kế thừa số liệu và tiêu chí đánh giá loài bảo tồn theo SĐVN (2007), IUCN (2013), Nghị định 32/2006/NĐ-CP và CITES (2013).

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trình bày chi tiết các phát hiện nghiên cứu thực nghiệm và điều tra:

  • Quá trình khảo sát thực địa trên 4 tuyến không ghi nhận trực tiếp cá thể sống ngoài tự nhiên.
  • Dữ liệu phỏng vấn 40 người dân xác định sự hiện diện của 8 loài rùa thuộc 3 họ; tỷ lệ nhận biết dao động từ 25% (Rùa núi vàng) đến 95% (Rùa đầu to).
  • Mô tả đặc điểm hình thái, kích thước, tên địa phương, tình trạng bảo tồn và địa bàn phân bố của từng loài.
  • Phân tích quy luật phân bố: đai độ cao 400–600 m có 4 loài (50%), đai 600–800 m có 2 loài (25%), đai trên 800 m có 2 loài (25%); sinh cảnh rừng tập trung nhiều loài nhất (5 loài, chiếm 62,5%).
  • Đánh giá mức độ suy giảm: Rùa hộp ba vạch suy giảm nghiêm trọng nhất (100% người phỏng vấn gặp lần cuối cách đây trên 3 năm); chỉ ra 3 nhóm nguyên nhân gồm đặc tính sinh học (sinh trưởng chậm, đẻ ít), mất môi trường sống (khai thác gỗ táu, sến, dổi) và nạn săn bắt, buôn bán trái phép.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp bảo tồn: bảo tồn loài ưu tiên, tăng cường quản lý hành chính - kiểm lâm, phát triển kinh tế sinh kế và giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng.

Phần V: Kết luận và khuyến nghị

Tóm tắt 6 kết luận chính về thành phần loài (8 loài/3 họ), vị trí phân loại, tình trạng bảo tồn, đai cao, sinh cảnh và mức độ nhận biết của người dân. Đưa ra 4 khuyến nghị trọng tâm nhằm tăng cường kiểm soát của kiểm lâm, bảo vệ nghiêm ngặt sinh cảnh và đẩy mạnh giáo dục môi trường cho học sinh địa phương.

Kết quả và đóng góp

1. Thành phần loài và tình trạng bảo tồn

Nghiên cứu đã ghi nhận 8 loài rùa nước ngọt và rùa cạn thuộc 3 họ, 1 bộ tại Khu BTTN Nà Hẩu, chiếm 28,5% tổng số loài rùa tại Việt Nam (và chiếm 34,8% số loài rùa cạn/nước ngọt cả nước).

STT Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Tên địa phương SĐVN (2007) IUCN (2013) NĐ 32 (2006) CITES (2013) Tỷ lệ nhận biết (%)
1 Rùa đầu to Platysternum megacephalum Platysternidae Rùa mỏ cú EN EN IIB Phụ lục I 95,0%
2 Rùa hộp ba vạch Cuora trifasciata Emydidae Rùa vàng CR CR IB Phụ lục II 57,5%
3 Rùa hộp trán vàng miền Bắc Cuora galbinifrons Emydidae Rùa đá EN CR - Phụ lục II 45,0%
4 Rùa sa nhân Pyxidea mouhotii Emydidae Rùa sẻ, rùa đồng - EN - Phụ lục II 80,0%
5 Rùa đất spengle Geoemyda spengleri Emydidae - - EN - Phụ lục II 35,0%
6 Rùa bốn mắt Sacalia quadriocellata Emydidae Rùa hôi - EN - Phụ lục II 55,0%
7 Rùa núi viền Manouria impressa Testudinidae Rùa trâu VU VU IIB Phụ lục II 55,0%
8 Rùa núi vàng Indotestudo elongata Testudinidae Rùa hộp EN EN IIB Phụ lục II 25,0%

2. Đặc điểm phân bố theo độ cao và sinh cảnh

  • Phân bố theo đai độ cao:
    • Đai 400–600 m: Ghi nhận 4 loài (50% tổng số loài, đại diện cả 3 họ) gồm Rùa đầu to, Rùa hộp ba vạch, Rùa sa nhân, Rùa bốn mắt.
    • Đai 600–800 m: Ghi nhận 2 loài (25%, 2 họ) gồm Rùa đất spengle, Rùa núi vàng.
    • Đai trên 800 m: Ghi nhận 2 loài (25%, 1 họ) gồm Rùa hộp trán vàng miền Bắc, Rùa núi viền.
  • Phân bố theo sinh cảnh:
    • Sinh cảnh rừng: Có độ đa dạng cao nhất với 5 loài ghi nhận (Rùa hộp trán vàng miền Bắc, Rùa sa nhân, Rùa đất spengle, Rùa núi viền, Rùa núi vàng), chiếm 62,5%.
    • Sinh cảnh khe rạch: Ghi nhận 2 loài (Rùa đầu to, Rùa bốn mắt).
    • Sinh cảnh sông suối: Ghi nhận 2 loài (Rùa hộp ba vạch, Rùa bốn mắt).
    • Sinh cảnh nương rẫy: Ghi nhận 2 loài (Rùa sa nhân, Rùa đất spengle).
    • Sinh cảnh đồng ruộng: Ghi nhận 1 loài (Rùa hộp ba vạch).

3. Đánh giá mức độ suy giảm và nguyên nhân

Dữ liệu phỏng vấn về thời gian gặp loài gần nhất cho thấy:

  • Rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata): 100% số người nhận biết (22 người) cho biết lần cuối bắt gặp là trên 3 năm trước, phản ánh mức độ suy giảm nghiêm trọng, có nguy cơ biến mất tại địa bàn.
  • Rùa hộp trán vàng miền Bắc (Cuora galbinifrons): 63,15% số người nhận biết gặp lần cuối trên 3 năm trước, thể hiện xu hướng suy giảm mạnh.
  • Rùa núi vàng (Indotestudo elongata) và Rùa núi viền (Manouria impressa): Có xu hướng suy giảm với tỷ lệ gặp trên 3 năm lần lượt là 37,5% và 31,82%.
  • Nhóm loài có tính ổn định hơn: Rùa đầu to (41,02% gặp trong 1 năm trở lại), Rùa sa nhân (53,12%), Rùa đất spengle (57,14%), Rùa bốn mắt (57,14%).

Nguyên nhân chính được xác định bao gồm:

  1. Đặc điểm sinh học: Rùa cần ít nhất 5 năm để đạt độ tuổi trưởng thành sinh sản; số lượng trứng mỗi lứa rất ít (1–2 quả/lứa), tỷ lệ nở tự nhiên thấp; khả năng di chuyển chậm chạp khiến rùa khó lẩn tránh các mối đe dọa.
  2. Mất sinh cảnh sống: Tình trạng khai thác gỗ tự nhiên (táu, sến, dổi...) và lâm sản ngoài gỗ làm suy thoái thảm thực vật và nguồn thức ăn.
  3. Săn bắt và thương mại hóa: Tập quán săn bắt khi giáp hạt cùng với giá trị kinh tế, thương phẩm cao trên thị trường khiến các loài rùa bị thu bắt triệt để khi người dân bắt gặp.

4. Đóng góp khoa học của đề tài

So với công trình công bố trước đây của tác giả Đồng Thanh Hải (2013/2015) tại cùng khu vực (chỉ ghi nhận 5 loài rùa thuộc 2 họ), khóa luận này đã bổ sung mới 3 loài thuộc 2 họ cho danh lục bò sát Khu BTTN Nà Hẩu, gồm: Rùa bốn mắt (Sacalia quadriocellata), Rùa núi viền (Manouria impressa) và Rùa núi vàng (Indotestudo elongata).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ 27/10/2017 đến 30/10/2017). Do rùa trong tự nhiên có mật độ cá thể thưa thớt, tập tính ẩn nấp kỹ và số lượng suy giảm nghiêm trọng, nhóm nghiên cứu không trực tiếp thu bắt hoặc quan sát được mẫu vật sống ngoài thực địa mà phải dựa chủ yếu vào dữ liệu phỏng vấn hồi cứu từ 40 người dân và nguồn tài liệu kế thừa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng thời gian khảo sát thực địa qua nhiều mùa sinh học trong năm; áp dụng kết hợp các biện pháp kỹ thuật chuyên sâu như đặt bẫy hộp, lừ chuyên dụng tại các khe suối ngầm; mở rộng phạm vi phỏng vấn ra toàn bộ 4 xã vùng lõi và vùng đệm của khu bảo tồn; tiến hành nghiên cứu sâu về cấu trúc di truyền và khả năng nhân nuôi bán tự nhiên các loài nguy cấp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm nghiệp, Bảo tồn đa dạng sinh học và Động vật học tham khảo phương pháp kết hợp điều tra xã hội học và khảo sát thực địa đối với nhóm bò sát quý hiếm.
    • Ban quản lý Khu BTTN Nà Hẩu và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái sử dụng làm tư liệu cơ sở phục vụ việc quy hoạch các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và xây dựng kế hoạch tuần tra, kiểm soát săn bắt.
    • Các tổ chức bảo tồn động vật hoang dã quan tâm đến hiện trạng quần thể rùa cạn và rùa nước ngọt tại vùng núi Tây Bắc.
  • Nội dung giá trị: Danh mục thành phần loài kèm tên địa phương; ma trận phân bố chi tiết theo 3 đai độ cao và 5 dạng sinh cảnh; bảng tổng hợp tỷ lệ nhận biết và mức độ suy giảm quần thể qua các mốc thời gian.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã ghi nhận bao nhiêu loài rùa nước ngọt tại Khu BTTN Nà Hẩu và có đóng góp gì mới so với nghiên cứu trước đó?

Nghiên cứu đã ghi nhận 8 loài rùa thuộc 3 họ (Platysternidae, Emydidae, Testudinidae). So với nghiên cứu của Đồng Thanh Hải (2013/2015) chỉ ghi nhận 5 loài thuộc 2 họ, khóa luận đã phát hiện và bổ sung mới 3 loài gồm Rùa bốn mắt (Sacalia quadriocellata), Rùa núi viền (Manouria impressa) và Rùa núi vàng (Indotestudo elongata).

2. Loài rùa nào có tỷ lệ nhận biết cao nhất và loài nào đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng nhất?

Rùa đầu to (Platysternum megacephalum) là loài có tỷ lệ người dân nhận biết cao nhất, đạt 95,0% (38/40 người phỏng vấn). Loài suy giảm nghiêm trọng nhất là Rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata), với 100% số người nhận biết xác nhận lần cuối cùng nhìn thấy loài này đã cách thời điểm phỏng vấn trên 3 năm.

3. Phương pháp điều tra thực địa theo tuyến trong khóa luận được thiết lập như thế nào và kết quả quan sát trực tiếp ra sao?

Nghiên cứu thiết lập 4 tuyến điều tra có chiều dài từ 1 km đến 3 km, phân bố ở các đai độ cao từ 400 m đến 900 m, đi qua 5 dạng sinh cảnh (đồng ruộng, nương rẫy, sông suối, khe rạch, rừng) với vận tốc di chuyển 2–3 km/h. Tuy nhiên, trong suốt quá trình đi tuyến thực địa, nhóm nghiên cứu không quan sát hoặc bắt gặp trực tiếp cá thể rùa sống nào ngoài tự nhiên do mật độ quần thể quá thấp và đặc tính lẩn trốn của rùa.

4. Các loài rùa tại Khu BTTN Nà Hẩu phân bố tập trung chủ yếu ở đai độ cao và sinh cảnh nào?

Phân bố theo độ cao tập trung nhiều nhất ở đai 400–600 m với 4 loài (chiếm 50% tổng số loài, hiện diện cả 3 họ). Về sinh cảnh, sinh cảnh rừng tự nhiên là nơi tập trung số lượng loài cao nhất với 5 loài ghi nhận (chiếm 62,5%), tiếp theo là khe rạch, sông suối, nương rẫy (mỗi sinh cảnh có 2 loài) và đồng ruộng (1 loài).

5. Những nguyên nhân chính nào được chỉ ra dẫn đến sự suy thoái khu hệ rùa tại địa bàn?

Nguyên nhân suy giảm gồm: đặc điểm sinh học nội tại của rùa (sinh trưởng chậm, trên 5 năm mới thành thục, đẻ ít 1–2 quả/lứa, tỷ lệ nở thấp, di chuyển chậm); môi trường sống bị thu hẹp do khai thác gỗ tự nhiên (táu, sến, dổi) và lâm sản; tập quán săn bắt của người dân địa phương vào lúc giáp hạt kết hợp với áp lực buôn bán thương mại do rùa có giá trị kinh tế cao.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lâm Quang Văn đã tổng hợp và tài liệu hóa hiện trạng khu hệ rùa nước ngọt tại Khu BTTN Nà Hẩu với 8 loài thuộc 3 họ, bổ sung 3 loài mới cho danh lục khu hệ tại địa bàn so với các công bố trước đó. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các quy luật phân bố rõ nét theo đai độ cao và dạng sinh cảnh, đồng thời phản ánh mức độ suy giảm quần thể nghiêm trọng dưới tác động của hoạt động săn bắt và khai thác lâm sản. Trên cơ sở dữ liệu thực chứng, công trình đã đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý, thực thi pháp luật và bảo tồn sinh cảnh có giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác bảo vệ đa dạng sinh học tại địa phương.