Đặt vấn đề Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Nà Hẩu có toạ độ địa lý từ 21º50’ đến 22º01’ vĩ độ Bắc và từ 104º23’ đến 104º40’ kinh độ Đông nằm trên địa bàn các xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và Phong Dụ Thượng thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái với diện tích 16. Đây là khu vực có các hệ sinh thái rừng tự nhiên mang tính điển hình của vùng núi phía Bắc nước ta. Trong khu vực có những hệ sinh thái rừng đặc trưng cho vùng trung tâm ẩm Bắc bộ còn tương đối nguyên vẹn. Những kiểu địa hình thuộc hệ thống núi cao tiếp nối của dãy Hoàng Liên Sơn cùng với rừng nguyên sinh đã tạo nên một cảnh quan tự nhiên hùng vĩ, sinh động và hấp dẫn.
Rùa là nhóm kém về phương diện di chuyển, quá trình sinh sản chậm, gặp nhiều rủi ro khi môi trường bị tác động. Do vậy, rùa là một trong những nhóm động vật đang có nguy cơ bị đe dọa lớn nhất với đa số trong tổng số các loài rùa trên trái đất đã được liệt vào danh sách có nguy cơ đe dọa toàn cầu và gần như các thông tin về quá trình tác động đến sự tuyệt chủng của chúng được biết rất ít. Chính vì điều này đã làm cho mức độ đe dọa của các loài rùa trở nên cao hơn so với các loài động vật khác. Trong khu vực châu Á, Việt Nam hiện biết 23 loài rùa nước ngọt và rùa cạn (Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, 2005) [18], trong đó đa số loài được liệt kê trong danh mục các loài quý hiếm và dễ bị tổn thương trong SĐVN (2007) [1].
Một số được liệt kê trong danh lục của tổ chức bảo tồn Quốc tế IUCN (2013) [23] như Cuora trifasciata, Cuora galbinifrons, Cuora mouhotii. Hiện nay, do sự gia tăng áp lực từ các cộng đồng địa phương và các thông tin về tình hình bảo tôn các loài rùa còn ít làm cho công tác bảo tồn h 2 chúng ngày càng trở nên cấp thiết hơn. Có rất ít các thông tin về sinh thái học, sinh cảnh của các loài rùa cũng như giải pháp bảo tồn chúng mặc dù hơn một nửa số loài rùa ở Việt Nam đang bị suy giảm và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Trong hơn 20 năm trở lại đây việc săn bắt rùa là một trong những hoạt động mang tính thương mại phổ biến.
Kể từ thời điểm đó số lượng các loài rùa bị giảm đi nghiêm trọng do các hoạt động săn bắt gây nên. Từ lí do đó rùa trở thành nhóm động vật cần được ưu tiên nghiên cứu bảo tồn. Nhóm rùa nước ngọt cũng giống như nhóm động vật khác nhưng tính ưu tiên trong nghiên cứu chưa được thể hiện rõ. Mặc dù chúng ta biết rằng tốc độ suy giảm thành phần loài và số lượng cá thể nhanh hơn bất kỳ nhóm động vật nào.
Do vậy nghiên cứu đánh giá thành phần các loài rùa nước ngọt phân bố tại đây đang là vấn đề cấp bách, nhất là các nghiên cứu về sinh học rùa. Bởi vì nghiên cứu sinh học các loài rùa nước ngọt có ý nghĩa quan trọng về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn công tác bảo tồn và đặc biệt có ý nghĩa trong công tác nhân nuôi chúng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu: "Đánh giá hiện trạng các loài Rùa nước ngọt tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu - Văn Yên - Yên Bái" là rất cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu chung - Đề tài góp phần đánh giá được hiện trạng phân bố và khai thác rùa nước ngọt, từ đó đề xuất ra các giải pháp giúp chính quyền địa phương và người dân xác định hướng bảo tồn cho loài rùa nước ngọt ở khu bảo tồn Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Mục tiêu cụ thể - Xác định được đa dạng thành phần các loài rùa nước ngọt tại khu BTTN Nà Hẩu làm cơ sở cho việc xác định hiện trạng và giám sát các quần thể. - Xác định được tình trạng phân bố của các loài rùa nước ngọt tại khu BTTN Nà Hẩu. h 3 - Mô tả được các đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài rùa nước ngọt được phát hiện tại chính khu BTTN Nà Hẩu.
- Xác định các mối đe dọa đến các loài rùa nước ngọt tại khu bảo tồn. - Đề xuất các giải pháp bảo tồn loài Rùa nước ngọt tại khu bảo tôn. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Việc nghiên cứu đề tài trước hết là một phương pháp tốt để tự hệ thống và củng cố lại những kiến thức đã học.
- Giúp sinh viển có cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tế. Biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân. - Làm tiền đề cho sinh viên sau khi ra trường có thêm kiến thức để vững vàng bước vào cuộc sống sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn - Cung cấp tư liệu về ĐDSH, đặc điểm phân bố các loài rùa nước ngọt tại khu BTTN Nà Hẩu, đánh giá hiện trạng và nguyên nhân suy giảm, đề xuất các giải pháp bảo tồn thích hợp để bảo vệ và phát triển bền vững ĐDSH.
- Nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý bảo tồn các loài động vật hoang dã nói chung cũng như loài rùa nước ngọt nói riêng. h 4 PHẦN II TỔNG QUANVẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cở sở khoa học 2. Loài Thuật ngữ "loài" được đưa vào sinh học lần đầu tiên bởi Johns Ray (1686).
Tiếp đó Linnaeus (1735) xem loài là một hình thức tồn tại của động vật và thực vật, là đơn vị cơ bản của phân loại học. Từ đó khái niệm loài được nghiên cứu và phát triển theo nhiều quan niệm khác nhau. Vấn đề loài là một trong những vấn đề trung tâm của sinh học. Việc giải quyết trọn vẹn vấn đề này có ý nghĩa quan trọng đối với tiến hóa và phân loại học.
Trong sinh học, loài là một bậc phân loại cơ bản. Loài là một nhóm các cá thể sinh vật có những đặc điểm sinh học tương đối giống nhau và có khả năng giao phối với nhau và sinh sản ra thế hệ tương lai. Còn theo định nghĩa của Ernst Mayr, loài là nhóm các quần thể tự nhiên có khả năng giao phối với nhau và tương đối cách ly sinh sản với các nhóm khác. Trong nhiều trường hợp chính xác, loài được định nghĩa là nhóm cá thể có bộ nhiễm sắc thể giống nhau nhất định.
Sự thích nghi các đặc điểm địa phương và phân cách địa lý đã làm cho loài có nhiều đặc điểm được chia nhỏ hơn tới phân loài (hay loài phụ). Quần thể loài Theo quan niệm thuyết tiến hóa hiện đại: “Quần thể là tập hợp cá cá thể cùng loài, đã qua một thời gian dài nhiều thế hệ cùng chung sống trong một khoảng không gian xác định. Trong đó, các cá thể giao phối tự do với nhau và được cách ly ở một mức độ nhất định với các nhóm cá thể lân cận thuộc vùng đó” (A. Như vậy về phương diện tiến hóa, quần thể là một tổ chức có thực, là một đơn vị tồn tại, đơn vị sinh sản.
Theo phương diện sinh thái học [19], quần thể là tập hợp các cá thể cùng loài, sống trên một khu vực nhất định gọi là sinh cảnh. Quần thể là hình thức tồn tại của loài trong điều kiện cụ thể của cảnh quan địa lý, mỗi quần thể h 5 có các đặc trưng: cấu trúc thành phần giới tính, cấu trúc thành phần nhóm tuổi, sự phân bố cá thể, mật độ, sự sinh sản, sự tự vong, sự phát tán của quần thể, hoạt động ngày – mùa, dinh dưỡng… Mỗi loài thường bao gồm nhiều quần thể sống ở các địa phương khác nhau được gọi là: quần thể địa phương. Trong đó một số quần thể phân biệt khá rõ với nhau và với quần thể địa phương mẫu của loài. Những quần thể đó được gọi là phân loài và loài có hai hay nhiều phân loài được gọi là loài đa mẫu.
Đa dạng sinh học Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học. Định nghĩa do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế - WWF) (1989) quan niệm: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những Hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”. Do vậy, ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST. Đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm.
Ở mức độ vi mô hơn, đa dạng sinh học bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly về địa lý cũng như sự khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, các HST nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau. Theo Công ước ĐDSH thì “ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đa dạng HST). h 6 - Đa dạng di truyền được hiểu là tần số và sự đa dạng của các gen và bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau; - Đa dạng loài là tần số và sự phong phú về trạng thái của các loài khác nhau; - Đa dạng HST là sự phong phú về trạng thái và tần số của các HST khác nhau.
Từ ba góc độ này, người ta có thể tiếp cận với ĐDSH ở cả ba mức độ: mức độ phân tử (gen), mức độ cơ thể và mức độ HST (IUCN, 1994). ĐDSH bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần cơ thể, các quần thể, hay các hợp phần sinh học khác của HST, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người.