Luận án Bùi Văn Thời: Tác động vốn xã hội đến kết quả kinh doanh doanh nghiệp dệt may phía Nam

Nghiên cứu luận án tiến sĩ phân tích tác động của vốn xã hội đến kết quả kinh doanh doanh nghiệp ngành dệt may tại khu vực phía Nam Việt Nam.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

340
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vốn xã hội và kết quả kinh doanh doanh nghiệp

Vốn xã hội là khái niệm được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị kinh doanh. Vốn xã hội được hiểu là tổng thể các nguồn lực bắt nguồn từ mạng lưới quan hệ xã hội giữa các cá nhân và tổ chức. Nghiên cứu của Nahapiel và Ghoshal (1998) xác định vốn xã hội gồm ba chiều cấu trúc, nhận thức và quan hệ. Trong bối cảnh doanh nghiệp, vốn xã hội đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững. Các mối quan hệ bên trong tổ chức thúc đẩy chia sẻ kiến thức và đổi mới sáng tạo. Các mối quan hệ bên ngoài mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường và nguồn lực. Đối với ngành dệt may phía Nam Việt Nam, vốn xã hội đặc biệt quan trọng. Ngành này chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ thị trường quốc tế. Doanh nghiệp cần xây dựng mạng lưới quan hệ vững chắc để tồn tại và phát triển. Kết quả kinh doanh phản ánh hiệu quả hoạt động thông qua doanh thu, lợi nhuận và thị phần. Mối liên hệ giữa vốn xã hội và kết quả kinh doanh trở thành chủ đề nghiên cứu được nhiều học giả khai thác.

1.1. Khái niệm và cấu trúc vốn xã hội trong doanh nghiệp

Vốn xã hội của doanh nghiệp được cấu thành từ ba thành phần chính. Thành phần cấu trúc đề cập đến mạng lưới quan hệ rộng hay hẹp, kết cấu tổ chức mạng lưới và tính ổn định. Thành phần nhận thức bao gồm sự chia sẻ mục tiêu, tầm nhìn, ngôn ngữ và văn hóa giữa các đơn vị. Thành phần quan hệ thể hiện qua niềm tin, nghĩa vụ và chuẩn mực giữa các cá nhân. Adler và Kwon (2002) phân biệt vốn xã hội bên trong và bên ngoài tổ chức. Vốn xã hội bên trong tập trung vào quan hệ giữa các thành viên trong doanh nghiệp. Vốn xã hội bên ngoài hướng đến mạng lưới với đối tác, khách hàng và nhà cung cấp. Sự kết hợp hài hòa giữa các thành phần tạo nên nguồn lực vô hình quý giá.

1.2. Vai trò của kết quả kinh doanh trong đánh giá hiệu quả doanh nghiệp

Kết quả kinh doanh là tiêu chí quan trọng đánh giá sự thành công của doanh nghiệp trên thị trường. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra doanh thu, tối ưu chi phí và đạt lợi nhuận kỳ vọng. Trong ngành dệt may, kết quả kinh doanh còn thể hiện qua tốc độ tăng trưởng đơn hàng và mở rộng thị phần xuất khẩu. Doanh nghiệp đạt kết quả kinh doanh tốt thường có năng lực cạnh tranh cao hơn. Kết quả kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố nội tại và bên ngoài. Năng lực quản trị, nguồn nhân lực và chiến lược sản phẩm là yếu tố nội tại quyết định. Môi trường kinh doanh, chính sách hỗ trợ và xu hướng thị trường là yếu tố bên ngoài tác động. Đo lường kết quả kinh doanh giúp doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược kịp thời.

II. Phân tích tác động của vốn xã hội đến ngành dệt may phía Nam

Ngành dệt may khu vực phía Nam Việt Nam là ngành kinh tế mũi nhọn với kim ngạch xuất khẩu lớn. Ngành này đặc trưng bởi tốc độ đổi mới sản phẩm nhanh chóng và cạnh tranh quốc tế khốc liệt. Nghiên cứu chỉ ra rằng vốn xã hội tác động tích cực đến kết quả kinh doanh thông qua nhiều cơ chế. Vốn xã hội bên trong doanh nghiệp thúc đẩy chia sẻ kiến thức và phối hợp hiệu quả giữa các bộ phận. Vốn xã hội bên ngoài mở rộng cơ hội hợp tác với nhà cung cấp, khách hàng và đối tác chiến lược. Đổi mới sản phẩm đóng vai trò trung gian truyền tải tác động của vốn xã hội đến kết quả kinh doanh. Các doanh nghiệp dệt may có mạng lưới quan hệ bền vững thường đạt tỷ lệ đổi mới sản phẩm cao hơn. Mối quan hệ tin cậy giúp giảm chi phí giao dịch và tăng cường hợp tác lâu dài. Áp lực đổi mới phong cách về đường cắt, họa tiết, màu sắc và chất liệu vải đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục sáng tạo. Vốn xã hội cung cấp nền tảng tri thức và nguồn lực để thực hiện quá trình đổi mới liên tục này.

2.1. Tác động của vốn xã hội bên trong đến đổi mới sản phẩm

Vốn xã hội bên trong doanh nghiệp thể hiện qua mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức. Sự tin tưởng lẫn nhau giữa nhân viên và ban lãnh đạo tạo môi trường làm việc cởi mở. Tinh thần hợp tác và chia sẻ thông tin nội bộ giúp ý tưởng sáng tạo được phát hiện và triển khai nhanh chóng. Nghiên cứu của Tsai và Ghoshal (1998) khẳng định mạng lưới nội bộ thúc đẩy đổi mới sản phẩm hiệu quả. Trong ngành dệt may, sự phối hợp giữa bộ phận thiết kế, sản xuất và kinh doanh quyết định chất lượng sản phẩm mới. Vốn xã hội bên trong cao giúp rút ngắn thời gian phát triển bộ sưu tập mới theo mùa. Doanh nghiệp có văn hóa chia sẻ tri thức thường dẫn đầu xu hướng thị trường.

2.2. Tác động của vốn xã hội bên ngoài đến hiệu quả kinh doanh

Vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp bao gồm mạng lưới quan hệ với nhà cung cấp, khách hàng, hiệp hội ngành và cơ quan chính phủ. Mối quan hệ bền vững với nhà cung cấp giúp đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định với giá cạnh tranh. Quan hệ tốt với khách hàng tạo cơ hội nhận phản hồi nhanh chóng về xu hướng thị trường. Laursen và cộng sự (2012) chứng minh mạng lưới bên ngoài đa dạng thúc đẩy đổi mới sáng tạo mạnh mẽ. Hiệp hội dệt may đóng vai trò kết nối doanh nghiệp với thị trường quốc tế và nguồn thông tin ngành. Doanh nghiệp tận dụng tốt vốn xã hội bên ngoài có lợi thế trong việc tiếp cận đơn hàng xuất khẩu lớn. Sự hỗ trợ từ mạng lưới bên ngoài giúp doanh nghiệp nhỏ cạnh tranh hiệu quả hơn trên thị trường quốc tế.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động vốn xã hội trong dệt may

Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng để đảm bảo độ tin cậy. Giai đoạn định tính thực hiện trước nhằm khám phá mô hình nghiên cứu phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Phỏng vấn sâu được tiến hành với các quản lý cấp cao trong ngành dệt may phía Nam. Dữ liệu định tính giúp xác định các biến số quan trọng và mối quan hệ giữa vốn xã hội với kết quả kinh doanh. Giai đoạn định lượng sử dụng bảng câu hỏi khảo sát trên mẫu lớn các doanh nghiệp dệt may. Thang đo được xây dựng dựa trên lý thuyết và kết quả phỏng vấn định tính. Phương pháp phân tích nhân tử khám phá và phân tích hồi quy đa biến được sử dụng để kiểm định giả thuyết. Mẫu nghiên cứu bao gồm các doanh nghiệp dệt may hoạt động tại khu vực phía Nam Việt Nam. Quy trình thu thập dữ liệu tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn nghiên cứu khoa học. Kết quả định lượng xác nhận mối quan hệ nhân quả giữa vốn xã hội và kết quả kinh doanh.

3.1. Thiết kế nghiên cứu định tính khám phá mô hình

Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc với các chuyên gia ngành dệt may. Mục tiêu chính là khám phá các yếu tố vốn xã hội tác động đến kết quả kinh doanh trong bối cảnh cụ thể. Đối tượng phỏng vấn bao gồm giám đốc điều hành, trưởng phòng kinh doanh và quản lý sản xuất. Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp mã hóa nội dung để trích xuất các chủ đề chính. Kết quả định tính giúp bổ sung và điều chỉnh các biến số từ lý thuyết quốc tế cho phù hợp thực tiễn Việt Nam. Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự hội tụ giữa lý thuyết và bằng chứng thực tiễn thu thập được.

3.2. Thiết kế nghiên cứu định lượng xác nhận mô hình

Nghiên cứu định lượng sử dụng bảng câu hỏi khảo sát với thang đo Likert năm bậc. Mẫu nghiên cứu gồm các doanh nghiệp dệt may có quy mô khác nhau tại khu vực phía Nam. Phương pháp lấy mẫu phù hợp và có chủ đích đảm bảo tính đại diện cho ngành. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê chuyên dụng để kiểm định độ tin cậy thang đo. Phân tích nhân tử xác nhận được áp dụng để đánh giá giá trị hội tụ và phân biệt của biến. Mô hình phương trình cấu trúc giúp kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các biến nghiên cứu. Kết quả định lượng cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc về tác động của vốn xã hội.

IV. Kết luận và ứng dụng vốn xã hội cho doanh nghiệp dệt may

Nghiên cứu xác nhận vốn xã hội có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến kết quả kinh doanh. Vốn xã hội lãnh đạo, vốn xã hội bên trong và bên ngoài đều góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động. Đổi mới sản phẩm đóng vai trò trung gian quan trọng truyền tải tác động của vốn xã hội. Doanh nghiệp dệt may phía Nam cần chủ động xây dựng và phát triển mạng lưới quan hệ bền vững. Đầu tư vào vốn xã hội là chiến lược dài hạn mang lại lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Lãnh đạo doanh nghiệp cần tạo môi trường khuyến khích chia sẻ kiến thức và hợp tác nội bộ. Mở rộng mạng lưới đối tác bên ngoài giúp tiếp cận công nghệ mới và thị trường xuất khẩu. Nghiên cứu góp phần bổ sung lý thuyết vốn xã hội trong bối cảnh ngành dệt may Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển doanh nghiệp. Ứng dụng hiệu quả vốn xã hội giúp doanh nghiệp dệt may nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững.

4.1. Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu vốn xã hội trong ngành dệt may

Nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa vốn xã hội và kết quả kinh doanh. Kết quả mở rộng lý thuyết vốn xã hội áp dụng trong bối cảnh ngành dệt may Việt Nam. Mô hình nghiên cứu tích hợp ba chiều vốn xã hội với đổi mới sản phẩm tạo đóng góp mới cho khoa học. Nghiên cứu xác nhận vai trò trung gian của đổi mới sản phẩm trong mối quan hệ vốn xã hội và kết quả kinh doanh. Phát hiện này bổ sung hiểu biết về cơ chế truyền tải tác động của vốn xã hội trong ngành thời trang. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp định tính và định lượng đảm bảo độ tin cậy và giá trị của kết quả.

4.2. Ứng dụng thực tiễn cho doanh nghiệp dệt may phía Nam Việt Nam

Doanh nghiệp dệt nên xây dựng chiến lược phát triển vốn xã hội như một phần của chiến lược kinh doanh. Lãnh đạo doanh nghiệp cần đầu tư thời gian duy trì quan hệ với đối tác, khách hàng và hiệp hội ngành. Tổ chức các hoạt động giao lưu, hội chợ ngành giúp mở rộng mạng lưới quan hệ bên ngoài. Nội bộ doanh nghiệp cần xây dựng văn hóa chia sẻ tri thức và khuyến khích sáng tạo đổi mới. Đào tạo nhân viên kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm tăng cường vốn xã hội bên trong. Tham gia chuỗi cung ứng quốc tế giúp doanh nghiệp tiếp cận tri thức và công nghệ mới. Ứng dụng hiệu quả vốn xã hội giúp giảm chi phí giao dịch và tăng cường khả năng cạnh tranh xuất khẩu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, trình bày lý do nghiên cứu của đề tài thông qua việc phân tích bối cảnh lý thuyết và bối cảnh thực tiễn ngành dệt may tại Việt Nam. Qua đó, khái quát các nghiên cứu liên quan về vốn xã hội và kết quả kinh doanh nhằm tìm ra khe hổng nghiên cứu. Kế tiếp, trình bày mục tiêu, câu hỏi, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Sau cùng, tác giả trình bày ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của luận án.

Lý do nghiên cứu của đề tài 1.1 Bối cảnh lý thuyết nghiên cứu Lịch sử phát triển nhân loại của mỗi quốc gia nói riêng và thế giới nói chung, các loại hình vốn khác nhau luôn tồn tại, tích lũy và phát triển. Trong đó, bên cạnh các loại hình vốn khác nhau như vốn kinh tế, vốn con người, vốn tài nguyên, riêng vốn xã hội luôn hiện diện và đóng góp vào đời sống tinh thần cũng như vật chất trong cuộc sống mỗi con người. Thật ra, các nhà khoa học bắt đầu quan tâm đến khái niệm vốn xã hội khi lý giải hiện tượng hai cộng đồng dân cư có tài sản (vốn kinh tế), các nguồn lực (vốn con người, vốn công nghệ) và môi trường (vốn tài nguyên) tương đương nhau nhưng một bên phát triển và một bên suy tàn. Chính điều này, các nhà khoa học đã đúc kết và tiến hành làm hoàn thiện khái niệm vốn xã hội (VXH), từ đó, xem xét mối quan hệ giữa VXH với các loại hình vốn khác.

Có thể nói, VXH đóng vai trò như một chất keo kết dính các nguồn vốn khác lại với nhau, phối hợp nhau để tăng cường hiệu quả sử dụng của các nguồn vốn, đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế (Lins và cộng sự, 2017; Dasgupta, 2005). Vốn xã hội đã có lịch sử phát triển lâu đời tại các quốc gia có kinh tế phát triển. Thành quả kinh doanh của doanh nghiệp (DN) được tăng lên đáng kể khi vận dụng vốn xã hội. Đặc biệt, các DN hoạt động trong ngành dệt may cần đầu tư nhiều vốn, kỹ thuật, công nghệ và con người để đảm nhiệm cho nhiều công đoạn sản xuất 2 khác nhau cũng như luôn sử dụng nhiều nguồn lực để đổi mới sản phẩm, thích ứng theo xu hướng mới của người tiêu dùng.

Do đó, DN trong ngành dệt may luôn cần sử dụng VXH như làm chất xúc tác kết nối hệ thống các DN từ khâu kéo sợi, dệt, nhuộm, may đến việc tiêu thụ sản phẩm. Chính VXH hỗ trợ doanh nhân có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận các nguồn lực cần thiết phục vụ cho hoạt động kinh doanh (Dai và cộng sự, 2015). Các nguồn lực mà các doanh nhân có được thông qua mạng lưới quan hệ cá nhân của họ và các kết nối xã hội cho phép họ xác định các cơ hội kinh doanh (Bhagavatula và cộng sự, 2010), từ đó, đóng góp chung vào kết quả kinh doanh (Akintimehin và cộng sự, 2019; Nasip và cộng sự, 2017). Lý thuyết là cơ sở nền tảng để vận dụng vào trong thực tiễn.

Trong đó, hai nền tảng lý thuyết quan trọng về phân tích các yếu tố của lợi thế cạnh tranh liên quan đến kết quả hay hiệu quả kinh doanh của DN, đó là mô hình tổ chức công nghiệp - IO (Industrial Organization) và mô hình dựa trên nguồn lực - RBV (Resource - Based View). Tổ chức Công nghiệp phân tích các yếu tố về hoạt động hoặc những bộ phận khác nhau góp phần xây dựng chiến lược tổng thể DN, mục tiêu là sản phẩm/dịch vụ của DN chinh phục được thị trường. Mô hình tổ chức công nghiệp cho rằng lợi thế cạnh tranh có thể đạt được khi các DN thực hiện các chiến lược áp đặt bởi các đặc điểm của các yếu tố bên ngoài (Porter, 1985). Trong khi đó, quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) cho rằng các yếu tố tạo nên thành công phụ thuộc vào nguồn lực và khả năng của từng DN.

Theo quan điểm này, các DN được xem như là nơi tập hợp rất nhiều nguồn lực. Các lựa chọn của DN không được quyết định bởi những hạn chế về môi trường, mà bằng cách đánh giá khả năng DN trong việc khai thác tốt nhất các nguồn lực của mình liên quan đến các cơ hội cũng như thách thức từ môi trường bên ngoài như thế nào. Điều này có nghĩa là chiến lược của DN được thảo luận trên phương diện cân đối nguồn lực DN hiện có để sử dụng chúng theo hướng tạo ra lợi thế (Barney, 1991). Dựa trên hai nền tảng của lý thuyết trên, hàng loạt các nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố hữu hình và vô hình lên kết quả kinh doanh trong các lĩnh vực 3 xã hội, giáo dục, kinh tế và văn hóa.

Gần đây, các nghiên cứu ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của DN không chỉ là các yếu tố bên ngoài hay bên trong mà còn kết hợp cả hai như nghiên cứu về các yếu tố giá thành, phi giá thành, các yếu tố bên trong và bên ngoài DN (Keegan và cộng sự,1989). Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, các tổ chức và DN gặp khó khăn trong việc làm cho mức độ thay đổi trong cơ cấu chính thức của họ đáp ứng với mức độ thay đổi từ môi trường kinh doanh. Do đó, các nghiên cứu tập trung chú ý về tầm quan trọng cũng như vai trò của cấu trúc quản lý không chính thức. Scott (1998) chỉ ra tầm quan trọng của môi trường và nhấn mạnh vào các cấu trúc không chính thức, các cấu trúc tổ chức không chính thức được xem là biểu hiện về giá trị, tính linh hoạt và tính năng động mà nó có thể bổ sung cho các cấu trúc tổ chức chính thức.

Một loại cấu trúc không chính thức, có được sự chú ý ngày càng cao gần đây, là mạng lưới xã hội (social networks). Các nhà nghiên cứu cho rằng mạng lưới xã hội có khả năng cung cấp cho nhà quản trị các nguồn lực có giá trị qua đó có ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả của cá nhân và tổ chức (Adler & Kwon, 2002; Nahapiet & Ghoshal, 1998). Các nguồn lực có được từ mạng lưới xã hội được gọi chung là vốn xã hội (social capital). Thật ra, khái niệm vốn xã hội (VXH) được cho là xuất hiện đầu tiên vào năm 1916 của Lyda Judson Hanifan, nhà giáo dục Mỹ, đã thảo luận về cách những người hàng xóm có thể làm việc cùng nhau để giám sát trường học.

Hanifan (1916) sử dụng định nghĩa vốn xã hội để chỉ các mối quan hệ trong xã hội như tình bạn hữu, thông cảm lẫn nhau và giao tiếp giữa các cá nhân hay gia đình. Từ đó, VXH được các học giả quan tâm nghiên cứu cũng như sử dụng trong nhiều lĩnh vực như tâm lý, giáo dục, kinh tế và xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Nếu như vốn vật chất (physical capital) nói đến các tài sản hữu hình, ví dụ như máy móc, thiết bị, công cụ, nhà xưởng; vốn con người (human capital) nói đến các tài sản cá nhân như năng lực cá nhân, kinh nghiệm làm việc, trình độ, kiến thức và kỹ năng (McCallum và O’Connell, 2009) thì VXH đề cập đến các năng lực quan hệ xã hội (relational competencies) của các cá nhân và tổ chức dựa vào nhận thức xã 4 hội, tự quản trị, cam kết, thúc đẩy hợp tác, phối hợp, mạng lưới thông tin phản hồi được thiết lập theo niềm tin, thiện chí và có qua có lại (McCallum và O’Connell, 2009). Như vậy, VXH không chỉ là sự tổng hợp các của cải vật chất, các tài sản xã hội mà còn là chất xúc tác làm kết dính các tài sản xã hội này lại với nhau.

Trong thời gian qua, VXH đã được nghiên cứu ở ba cấp độ: Cộng đồng; tổ chức/Doanh nghiệp và quốc gia. Ba cấp độ này liên quan đến: (1) cá nhân, (2) các tổ chức, doanh nghiệp và (3) xã hội, quốc gia và toàn cầu. Theo đó, vốn xã hội được định nghĩa như là chất lượng mối liên kết giữa các cá nhân, các mạng lưới quan hệ, các chuẩn mực, niềm tin nhằm chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Các tác giả cho rằng VXH của DN chính là chất lượng mạng lưới mối quan hệ giữa các cá nhân, các bộ phận bên trong DN và chất lượng mạng lưới mối quan hệ của DN với các đối tác bên ngoài.

(3) Cấp độ quốc gia có các nghiên cứu của Sabatini (2005) nghiên cứu VXH của nước Ý cung cấp một khung đo lường mới về khái niệm đa chiều VXH đồng thời cũng cung cấp cách thức đo lường các đóng góp tích cực của VXH với các kết quả kinh tế. Một nghiên cứu khác về VXH của nước Úc, theo đó, sau khi tham vấn sâu rộng, Cục Thống kê Úc (ABS, 2004) đã phát triển một khung khái niệm đa chiều về vốn xã hội, cũng như một bộ chỉ số khả thi để đo lường các khía cạnh của vốn xã hội. Các nghiên cứu về VXH ở nhiều cấp độ khác nhau sẽ giúp cho các cá nhân, các tổ chức, doanh nghiệp và các quốc gia thuận lợi hơn trong vấn đề tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng VXH trong cuộc sống, trong công việc cũng như phát 5 triển mối quan hệ trong xã hội phục vụ cho lợi ích của cá nhân, doanh nghiệp và quốc gia. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu về VXH ở cấp độ DN mà cụ thể là tác động của vốn xã hội đến kết quả kinh doanh.

Các nghiên cứu trước đây, khi nghiên cứu về VXH trong DN, các nhà nghiên cứu tập trung vào ba yếu tố chính gồm Vốn xã hội lãnh đạo (VXLD), Vốn xã hội bên ngoài (VXBN) và Vốn xã hội bên trong (VXBT) (Nguyen và Huỳnh, 2012; McCallum và O’Connell, 2009). Tuy nhiên, chưa tìm thấy các nhà nghiên cứu xem xét mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố này. Hơn nữa, có nhiều tác giả đã chỉ ra rằng VXH tác động tích cực đến kết quả kinh doanh (Akintimehin và cộng sự, 2019); Nasip và cộng sự, 2017) nhưng chưa tìm thấy nghiên cứu nào đồng thời có xem xét mối quan hệ của VXH đối với kết quả kinh doanh thông qua hai yếu tố trung gian là tiếp thu kiến thức (TTKT) và đổi mới sản phẩm (DMSP). Hơn nữa, nghiên cứu về VXH trong bối cảnh hội nhập, mở rộng quan hệ kinh tế theo mô hình kinh tế đặc thù của Việt Nam đang chuyển đổi và phát triển mạnh mẽ.

Việc thực hiện nghiên cứu này có nhiều ý nghĩa vì các nghiên cứu thực nghiệm trước về VXH được thực hiện nhiều ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Hơn nữa, tại Việt Nam, chưa tìm thấy các nghiên cứu có liên quan về VXH trong ngành dệt may.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ