Luận án tiến sĩ: Phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt Nam.

Trường đại học

Học viện Tài chính

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2016

173
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU

1.1. THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU

1.1.1. Nợ và nợ xấu

1.1.2. Thị trường mua bán nợ xấu

1.2. PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU

1.2.1. Khái niệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu

1.2.2. Điều kiện cần thiết để phát triển thị trường mua bán nợ xấu

1.2.3. Nguyên tắc hoạt động để phát triển thị trường mua bán nợ xấu

1.2.4. Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường mua bán nợ xấu

1.2.5. Tiêu chí đo lường sự phát triển của thị trường mua bán nợ xấu

1.3. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

1.3.1. Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu ở một số nước

1.3.2. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về phát triển thị trường mua bán nợ xấu

1.4. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM

2.1. THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY MUA BÁN NỢ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

2.1.1. Bối cảnh kinh tế gắn với phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015

2.1.2. Thực trạng nợ xấu của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015

2.1.3. Hoạt động của các công ty mua bán nợ

2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM

2.2.1. Thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng

2.2.2. Thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM

2.3.1. Những kết quả đạt được

2.3.2. Những vấn đề tồn tại

2.3.3. Nguyên nhân tồn tại

2.4. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025

3.1.1. Quan điểm phát triển thị trường mua bán nợ xấu

3.1.2. Mục tiêu phát triển thị trường mua bán nợ xấu

3.1.3. Định hướng phát triển thị trường mua bán nợ xấu đến năm 2025

3.2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025

3.2.1. Nhóm giải pháp chung

3.2.2. Nhóm giải pháp phía “cung” của thị trường mua bán nợ xấu

3.2.3. Nhóm giải pháp khuyến khích “cầu” của thị trường mua bán nợ xấu

3.3. XÂY DỰNG LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025

3.3.1. Giai đoạn sau năm 2018

3.3.2. Đối với Quốc hội

3.3.3. Đối với Chính phủ

3.3.4. Đối với các Bộ, Ngành

3.4. Kết luận Chương 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về phát triển thị trường mua bán nợ xấu

Luận án bắt đầu bằng việc hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về thị trường mua bán nợ xấuphát triển thị trường nợ xấu. Tác giả phân tích các yếu tố cấu thành thị trường này, bao gồm định nghĩa về nợ xấu, cơ chế hoạt động của thị trường, và các điều kiện cần thiết để phát triển. Luận án cũng đề cập đến các nguyên tắc hoạt động và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh vai trò của quản lý nợ xấutái cơ cấu nợ xấu trong việc duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của thị trường mua bán nợ xấu

Thị trường mua bán nợ xấu được định nghĩa là nơi diễn ra các giao dịch mua bán các khoản nợ không có khả năng thu hồi. Luận án chỉ ra rằng thị trường này đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề tài chính của ngân hàng và doanh nghiệp. Các đặc điểm chính bao gồm tính thanh khoản thấp, rủi ro cao, và sự phụ thuộc vào chính sách quản lý của nhà nước.

1.2. Điều kiện phát triển thị trường mua bán nợ xấu

Để phát triển thị trường mua bán nợ xấu, cần có sự hỗ trợ từ chính sách nhà nước, sự minh bạch trong thông tin, và sự tham gia của các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Luận án cũng đề cập đến vai trò của các công ty quản lý tài sản (AMC) trong việc xử lý nợ xấu và tạo điều kiện cho thị trường phát triển.

II. Thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

Luận án phân tích thực trạng nợ xấu tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015, chỉ ra rằng tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao. Tác giả đánh giá hoạt động của các công ty mua bán nợ như DATCVAMC, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong việc xử lý nợ xấu. Luận án cũng nhấn mạnh sự thiếu hụt các nhà đầu tư chuyên nghiệp và sự phụ thuộc quá lớn vào chính sách nhà nước.

2.1. Thực trạng nợ xấu và hoạt động của các công ty mua bán nợ

Giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ nợ xấu tại Việt Nam dao động từ 4-5% tổng dư nợ. Các công ty như DATC và VAMC đã thực hiện mua bán nợ xấu nhưng hiệu quả còn hạn chế do thiếu cơ chế thị trường và sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân.

2.2. Đánh giá thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu

Luận án chỉ ra rằng thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam chưa phát triển đúng tiềm năng. Nguyên nhân chính bao gồm thiếu cơ chế minh bạch, thiếu sự tham gia của các nhà đầu tư quốc tế, và sự phụ thuộc vào chính sách nhà nước.

III. Giải pháp phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

Luận án đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam đến năm 2025. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện khung pháp lý, khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân và quốc tế, và tăng cường tính minh bạch trong thông tin. Tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của chính sách nợ xấuquản trị rủi ro nợ xấu trong việc thúc đẩy thị trường.

3.1. Định hướng phát triển thị trường mua bán nợ xấu

Luận án đề xuất các mục tiêu cụ thể như tăng tính thanh khoản của thị trường, thu hút các nhà đầu tư chuyên nghiệp, và hoàn thiện cơ chế pháp lý. Các giải pháp này nhằm tạo điều kiện cho thị trường phát triển bền vững.

3.2. Giải pháp cụ thể để phát triển thị trường

Các giải pháp bao gồm xây dựng lộ trình phát triển thị trường, tăng cường vai trò của các công ty quản lý tài sản, và khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân. Luận án cũng đề xuất các chính sách hỗ trợ từ chính phủ để thúc đẩy thị trường.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU 1. THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU 1. Nợ và nợ xấu 1. Khái niệm nợ Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “Nợ là một thuật ngữ thường được sử dụng trong trường hợp nợ về tài sản.

Tuy nhiên, nợ cũng có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác. Trong trường hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó. Các công ty cũng có thể sử dụng nợ như là một phần trong chiến lược tài chính tổng thể của mình”. Nợ, theo cách hiểu thông thường, được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người vay vay một lượng tài sản nhất định.

Trong xã hội hiện đại, nợ thường được đi kèm với nguyên tắc hoàn trả, sự đảm bảo khả năng thanh toán với một mức lãi suất nhất định tính theo thời điểm. Với các tổ chức tín dụng, thì nợ bao gồm: Các khoản cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, các khoản bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các hình thức tín dụng khác. Như vậy, đối với các TCTD, hoạt động tín dụng là rộng hơn hoạt động cho vay. Theo đó, cấp tín dụng được định nghĩa là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Còn cho vay được định nghĩa là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng, thì cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các TCTD. Vì vậy, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nghĩa rộng khái quát ở trên hoặc theo nghĩa hẹp là cho vay [49]. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cấp tín dụng còn gọi là chủ nợ, bên được cấp tín dụng gọi là khách nợ.

Do đó, tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cấp tín dụng, lãi 11 suất phải trả. Trước khi có nợ thì cả hai bên (bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng) phải cùng nhau thống nhất phương thức trả nợ (thanh toán). Thông thường, người ta thanh toán bằng tổng số tiền tính theo một đơn vị tiền tệ nào đó, tuy nhiên cũng có trường hợp thanh toán bằng hàng hoá.

Thanh toán có thể được thực hiện theo phương thức trả lãi trong một khoảng thời gian hoặc trả một lúc khi kết thúc hợp đồng tín dụng. Nợ về cơ bản đã là một hàng hóa được mua bán giữa bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng, sau khi hợp đồng tín dụng đó có hiệu lực, thì nợ - lúc này được hiểu là quyền của chủ nợ cũng có thể trở thành một loại hàng hóa. Trong khuôn khổ Luận án, hàng hóa nợ được hiểu là quyền của chủ nợ, quyền này là kết quả của hoạt động kinh doanh cốt lõi đầu tiên - cho vay nợ. Chi tiết của “quyền chủ nợ” được quy định rõ trong hợp đồng tín dụng và các luật có liên quan - được xem như là “mô tả về quy cách chất lượng hàng hóa” khi nợ trở thành hàng hóa trên thị trường thứ cấp - thị trường của những người mua đi bán lại các khoản nợ.

Đặc biệt hơn, quyền của chủ nợ là một hàng hóa gắn liền và không thể tách rời với một hoặc nhiều tài sản - thường được xem là đảm bảo cho khả năng thực hiện nghĩa vụ của khách nợ (nếu có và có thể vô hình hoặc hữu hình). Như vậy: Hàng hóa nợ = Quyền chủ nợ + Tài sản bảo đảm cho khoản nợ Từ những nghiên cứu trên đây, có thể kết luận: Nợ là nghĩa vụ phải trả bằng tiền hoặc tài sản của cá nhân hoặc tổ chức này (gọi là khách nợ) đối với cá nhân hoặc tổ chức khác (chủ nợ). Nợ có thể có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm. Phân loại nợ Phân loại nợ được hiểu là quá trình các TCTD xem xét các danh mục nợ và đưa khoản nợ vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm tương đồng của khoản nợ.

Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp các TCTD có thể kiểm soát chất lượng danh mục nợ và trong trường hợp cần thiết, sẽ có các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong chất lượng tín dụng. Thông thường, các TCTD sử dụng hệ thống phân loại nội bộ, hệ thống phân loại quy định bởi các cơ quan giám sát chủ yếu để phục vụ mục tiêu báo cáo, so sánh và giám sát. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), thì khoản vay nợ được chia làm 5 nhóm: 12 Bảng 1.1: Đặc thù và thời hạn các khoản vay Khoản vay Đặc thù và thời hạn - Không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ 1.Đạt tiêu chuẩn - Tài sản được đảm bảo bằng tiền hoặc tương đương - Quá hạn dưới 90 ngày - Những điểm yếu tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ 2. Cần theo dõi - Các điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn - Quá hạn dưới 90 ngày - Các nhược điểm rõ rệt về tín dụng có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ 3.

Dưới tiêu chuẩn - Những khoản nợ đã được thỏa thuận lại - Quá hạn từ 90 đến 180 ngày - Không chắc chắn thu hồi được toàn bộ nợ dựa trên các điều kiện hiện tại 4. Đáng ngờ - Có khả năng thất thoát - Quá hạn từ 180 đến 360 ngày - Các khoản vay không thu hồi được 5. Mất - Luôn có khả năng thu hồi lại một phần - Quá hạn hơn 360 ngày Nguồn: [71] Bản chất của cách phân chia này là dựa vào hai yếu tố định tính và định lượng. Trên cơ sở phân loại của IMF và WB, các nước đã tiến hành phân loại nợ của các NHTM theo 5 nhóm như: Ý, Nhật Bản, Mỹ, Úc, Trung Quốc, Singapore, Việt Nam.

Tuy nhiên cũng có một số nước phân loại nợ thành 04 nhóm như Nga, Ấn Độ, Đức hoặc Tây Ban Nha 6 nhóm, Mexico 7 nhóm, Brazil 9 nhóm. Nợ xấu Nợ xấu hay nợ khó đòi thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non-performing loan” (NPL), “doubtful debt”. Thuật ngữ “bad debt” là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến trên báo chí còn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các chuyên gia thường sử dụng thuật ngữ “non-performing loans” (NPL), trong khi kế toán quốc tế lại hay dùng thuật ngữ “non-accrual loans” (theo hệ thống chuẩn mực kế toán của Mỹ US GAAP) hay “impaired loans” (theo Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39). Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại khá nhiều khái niệm nợ xấu khác nhau.

Có thể nhắc tới một số khái niệm nợ xấu như sau: a. Khái niệm nợ xấu - Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng Thế giới Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới thì nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn 13 của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp. - Khái niệm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG) Nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng.

AEG thống nhất định nghĩa như sau: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Nói cách khác, nợ xấu được xác định trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ bị nghi ngờ. - Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày [60].

Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể. Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng. Như vậy, lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được.

- Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Chuẩn mực kế toán quốc tế về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (non-performing). Chuẩn mực kế toán IAS 39 được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 14 chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống vì những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình nợ xấu trong nền kinh tế Việt Nam, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường này và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả quản lý nợ xấu. Tài liệu này không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của thị trường mua bán nợ xấu mà còn chỉ ra những lợi ích tiềm năng cho nền kinh tế, từ việc giảm thiểu rủi ro tài chính đến việc nâng cao khả năng thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.

Để mở rộng kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ kinh tế vai trò của ktnn trong việc quản lý nợ công ở việt nam, nơi phân tích vai trò của khu vực nhà nước trong quản lý nợ công, hay Luận văn tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế tại việt nam, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa nợ công và sự phát triển kinh tế. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh tài chính và kinh tế tại Việt Nam.