Luận án Thi pháp truyện ngắn Việt Nam thời kỳ hậu chiến (1975-1985) - Đoàn Vũ Công Hoài

Luận án phân tích thi pháp truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1985. Nghiên cứu chuyên sâu về phong cách, nghệ thuật kể chuyện và đặc điểm văn học hậu chiến.

2017

193
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thi pháp truyện ngắn Việt Nam hậu chiến 1975 1985

Thi pháp học là hướng nghiên cứu văn học dựa trên ngôn ngữ để cắt nghĩa thế giới tinh thần của nhà văn. Phương pháp này tiếp cận tác phẩm qua ba phạm trù cốt lõi: không gian, thời gian nghệ thuật và phương thức biểu hiện. Giai đoạn 1975-1985 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong văn học Việt Nam. Đất nước thống nhất. Bối cảnh xã hội thay đổi sâu sắc. Văn học từ phục vụ kháng chiến chuyển sang phản ánh đời sống hòa bình. Truyện ngắn trở thành thể loại được nhiều nhà văn lựa chọn. Khả năng cập nhật nhanh chóng các hiện tượng đời sống khiến truyện ngắn phù hợp với nhu cầu sáng tạo mới. Luận án tiến sĩ của Đoàn Vũ Công Hoài (2017) do PGS. Tôn Thảo Miên hướng dẫn thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Đây là công trình nghiên cứu toàn diện về thi pháp truyện ngắn Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi nghệ thuật quan trọng. Luận án phân tích các yếu tố thi pháp từ quan niệm nghệ thuật về con người đến hình thức thể hiện. Phương pháp tiếp cận thi pháp học cho phép khám phá các chiều kích khác nhau như hình tượng tác giả và phong cách nghệ thuật trong chỉnh thể tác phẩm.

1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội và văn học sau năm 1975

Sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, đất nước bước vào thời kỳ hậu chiến. Bối cảnh lịch sử xã hội tạo ra những thay đổi sâu sắc trong đời sống tinh thần. Văn học nghệ thuật chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ thực tế mới. Chiến tranh kết thúc nhưng hậu quả để lại vô cùng nặng nề. Nhà văn vừa đối mặt với ký ức chiến tranh vừa hướng tới tương lai hòa bình. Giai đoạn này chứng kiến sự chuyển đổi quan niệm sáng tác. Từ văn học phục vụ kháng chiến sang phản ánh đời sống hậu chiến. Thiếu thốn vật chất và khó khăn kinh tế trở thành đề tài văn học mới đầy sức nặng.

1.2. Sự phát triển nghiên cứu thi pháp học tại Việt Nam

Thi pháp học du nhập vào Việt Nam từ trước năm 1975 qua một số trường đại học miền Nam. Hướng nghiên cứu ban đầu tiếp nhận theo hướng thi pháp xã hội học. Đến thập niên 1980, thi pháp học bắt đầu có sự đổi mới mạnh mẽ. Các nhà nghiên cứu chuyển sang tiếp cận thi pháp nội tại. Phương pháp này tập trung phân tích cấu trúc bên trong tác phẩm. Ngôn ngữ, hình tượng, kết cấu trở thành đối tượng nghiên cứu chính. Sự du nhập các lý thuyết từ Nga và phương Tây tạo nền tảng vững chắc cho nghiên cứu thi pháp học Việt Nam.

II. Phân tích thi pháp truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 1985

Giai đoạn 1975-1985 đánh dấu sự chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Việt Nam. Các nhà văn khắc họa chân dung con người vừa đẹp đẽ cao thượng vừa đời thường trần thế. Nhân vật văn học không còn đơn thuần là biểu tượng anh hùng. Họ trở thành những cá nhân với khát khao cái đẹp và hướng thiện. Đời sống hậu chiến đặt con người vào những tình huống phức tạp. Chiến tranh để lại vết thương sâu sắc trong tâm lý và đời sống hàng ngày. Nhà văn muốn lý giải tầm vóc sức mạnh đã làm nên chiến thắng. Đồng thời kêu gọi xóa bỏ bóng dáng chiến tranh ra khỏi đời sống. Truyện ngắn tư liệu, truyện ngắn nhật ký, truyện ngắn dòng ý thức xuất hiện ngày càng nhiều. Những thể loại lai tạo này phản ánh nhu cầu đổi mới cách thể hiện. Thập niên 1980 được gọi là thời kỳ lên ngôi của truyện ngắn Việt Nam trên văn đàn.

2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn hậu chiến

Con người trong truyện ngắn giai đoạn 1975-1985 được quan niệm như một nhân cách mới. Nhân vật cá nhân được đặt trong mối quan hệ đa chiều với xã hội. Số phận con người cụ thể gắn liền với số phận đất nước và nhân dân. Tâm lý nhân vật được chú ý phát triển nhằm tạo tính đa nghĩa của hình tượng. Các nhà văn khai thác chiều sâu nội tâm phức tạp. Con người hiện ra với đầy đủ mâu thuẫn giữa lý tưởng và thực tại đời sống. Đây là bước tiến quan trọng so với giai đoạn văn học trước đó trong cách nhìn nhận bản chất con người.

2.2. Thời gian và không gian nghệ thuật trong thi pháp truyện ngắn

Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn hậu chiến mang tính đa tầng phong phú. Ký ức chiến tranh đan xen với hiện tại hòa bình tạo cấu trúc thời gian phức tạp. Không gian nghệ thuật mở rộng từ chiến trường đến đời sống thường nhật. Không gian đô thị và nông thôn sau giải phóng trở thành bối cảnh phổ biến. Sự chuyển đổi không gian phản ánh thay đổi quan niệm sáng tác sâu sắc. Nhà văn sử dụng kỹ thuật hồi tưởng flashback để kết nối quá khứ và hiện tại. Nghệ thuật miêu tả không gian mang tính biểu tượng cao, giàu sức gợi hình.

III. Phương pháp nghiên cứu thi pháp truyện ngắn Việt Nam hậu chiến

Nghiên cứu thi pháp truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1985 đòi hỏi phương pháp tiếp cận đa chiều. Phương pháp luận dựa trên lý thuyết Marxist về văn học kết hợp với các lý thuyết thi pháp học hiện đại. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích cấu trúc tác phẩm và so sánh đối chiếu. Nghiên cứu đi từ tổng thể đến chi tiết, từ hình thức đến nội dung. Cốt truyện và tình huống truyện ngắn được phân tích qua lăng kính thi pháp học. Kết cấu trần thuật là yếu tố then chốt thể hiện phong cách nhà văn. Giọng điệu và ngôn ngữ trong truyện ngắn phản ánh thế giới quan nghệ thuật. Phương pháp thống kê và phân loại tác phẩm theo nhóm chủ đề được áp dụng. Hàng trăm tác phẩm truyện ngắn giai đoạn này được khảo sát hệ thống. Kết hợp phân tích định tính và định lượng đảm bảo tính khoa học khách quan cho công trình nghiên cứu.

3.1. Thi pháp cốt truyện và tình huống truyện ngắn

Cốt truyện trong truyện ngắn hậu chiến mang đặc điểm riêng biệt so với giai đoạn trước. Tình huống truyện ngắn thường xoay quanh mâu thuẫn giữa quá khứ và hiện tại. Nhân vật đối mặt với những lựa chọn đạo đức trong bối cảnh xã hội mới nhiều biến động. Cấu trúc tình huống thường là tình huống giới hạn đặt nhân vật vào hoàn cảnh éo le. Yếu tố bất ngờ trong kết cục tạo sức nặng nghệ thuật cho tác phẩm. Nhà văn khai thác tình huống đời thường nhưng chứa đựng ý nghĩa triết lý sâu xa về thân phận con người.

3.2. Thi pháp kết cấu và phương thức trần thuật

Kết cấu truyện ngắn giai đoạn 1975-1985 có nhiều biến đổi đáng chú ý. Kết cấu tuyến tính truyền thống được thay thế bằng kết cấu phức tạp hơn. Phương thức trần thuật đa dạng từ ngôi thứ nhất đến ngôi thứ ba linh hoạt sáng tạo. Tự sự kết hợp với trữ tình tạo giọng điệu riêng cho từng tác giả. Kỹ thuật dòng ý thức được nhiều nhà văn áp dụng trong truyện ngắn thành công. Ngôn ngữ truyện ngắn phát triển theo hướng giản dị đời thường nhưng giàu biểu cảm nghệ thuật. Sự sáng tạo trong kết cấu trần thuật góp phần nâng cao chất lượng tác phẩm.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu thi pháp truyện ngắn hậu chiến

Luận án về thi pháp truyện ngắn Việt Nam thời kỳ hậu chiến 1975-1985 mang giá trị khoa học lớn. Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa lý luận thi pháp học trong bối cảnh Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra bước chuyển đổi quan trọng trong quan niệm nghệ thuật về con người. Thi pháp truyện ngắn giai đoạn này thể hiện sự trưởng thành vượt bậc của văn xuôi Việt Nam. Các yếu tố thi pháp từ thời gian không gian đến giọng điệu ngôn ngữ đều có đổi mới. Cốt truyện tình huống kết cấu trần thuật mang dấu ấn thời đại rõ nét. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu phục vụ công tác giảng dạy văn học hiệu quả. Nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận cho phê bình văn học hiện đại. Các nhà nghiên cứu trẻ có thể tiếp tục khai thác hướng đi này. Di sản truyện ngắn giai đoạn 1975-1985 vẫn còn nhiều giá trị cần khám phá. Đây là cầu nối quan trọng giữa văn học kháng chiến và văn học đổi mới.

4.1. Đóng góp khoa học và ý nghĩa lý luận của luận án

Luận án đóng góp nhiều mặt cho nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại. Thứ nhất, luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về thi pháp truyện ngắn một cách toàn diện. Thứ hai, chỉ ra đặc trưng thi pháp riêng biệt của giai đoạn 1975-1985 rõ ràng. Thứ ba, phát hiện bước chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về con người mang tính đột phá. Ý nghĩa lý luận nằm ở việc bổ sung tri thức mới về thi pháp học Việt Nam. Kết quả nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới cho phê bình văn học hiện đại. Luận án xây dựng khung phân tích thi pháp có tính ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu văn học.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn và hướng phát triển nghiên cứu

Nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao trong đào tạo và giảng dạy văn học đại học. Kết quả luận án được sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên và nghiên cứu sinh. Phương pháp phân tích thi pháp có thể áp dụng cho các giai đoạn văn học khác nhau. Hướng phát triển nghiên cứu bao gồm so sánh thi pháp truyện ngắn giữa các thời kỳ. Nghiên cứu mở rộng sang thi pháp tiểu thuyết và thơ cùng giai đoạn. Liên kết với nghiên cứu văn học khu vực và quốc tế là hướng đi tiềm năng trong tương lai.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐOÀN VŨ CÔNG HOÀI THI PHÁP TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU CHIẾN (1975 – 1985) LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Hà Nội – 2017 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐOÀN VŨ CÔNG HOÀI THI PHÁP TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU CHIẾN (1975 – 1985) Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số: 62.21 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học PGS. Tôn Thảo Miên Hà Nội – 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu, những kết luận, nhận định trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác. Hà Nội, ngày 19 tháng 07 năm 2017 Tác giả luận án Đoàn Vũ Công Hoài MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU . Tính cấp thiết của đề tài . Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu . Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu . Đóng góp về khoa học của luận án . Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án . Cơ cấu của luận án . 7 Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu . Những nghiên cứu lý thuyết về thi pháp và thi pháp truyện ngắn . Những nghiên cứu về thi pháp truyện ngắn VN giai đoạn 1975-1985 . 24 Chương 2: Truyện ngắn Việt Nam 1975-1985, bước chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về con người . Bối cảnh lịch sử xã hội và văn học nghệ thuật sau năm 1975 . Quan niệm nghệ thuật về con người . 51 Chương 3: Thời gian và không gian, giọng điệu và ngôn ngữ trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985 . Thời gian và không gian nghệ thuật . Giọng điệu và ngôn ngữ . 93 Chương 4: Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985 trên bình diện thi pháp thể hiện . Thi pháp cốt truyện, tình huống …………. Thi pháp kết cấu, trần thuật ……………………………………….163 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ…………….167 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………168 PHỤ LỤC: TÁC PHẨM KHẢO SÁT TRONG LUẬN ÁN…………. Tính cấp thiết của đề tài 1. Thi pháp học là một trong những đường hướng nghiên cứu văn học có từ lâu, nhưng nó thực sự được các nhà nghiên cứu quan tâm vào những năm đầu của thế kỷ XX. Người ta căn cứ vào ngôn ngữ để cắt nghĩa thế giới tinh thần của nhà văn. Từ đó, trích đoạn để phân tích, so sánh, chỉ ra cách cảm nhận về tư tưởng thẩm mĩ trên ba phương diện: không gian, thời gian nghệ thuật và phương thức biểu hiện. Bởi nghệ thuật là một thế giới chủ quan của người nghệ sĩ. Nó kết tinh cách nhìn, cách nghĩ của nhà văn về thế giới. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của văn học là chỉ ra ý thức của chủ thể nghệ thuật, các phạm trù của thế giới khách quan và chủ quan như một phương cách nhìn ra thế giới. Cách tiếp cận thi pháp học cho phép người ta khám phá ra các chiều kích khác nhau như: hình tượng tác giả, phong cách nghệ thuật trong chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm. Ở Việt Nam thi pháp học du nhập vào một số trường đại học ở miền Nam trước năm 1975. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này mới chỉ được giới thiệu, tiếp nhận theo hướng thi pháp xã hội học. Vào những năm 80, thi pháp học bắt đầu có sự du nhập, đổi mới mạnh mẽ với các khuynh hướng ngôn ngữ học, kí hiệu học, cấu trúc luận, phân tâm học, phong cách học, thi pháp học lịch sử, tự sự học… Điều này thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu của Hoàng Trinh, Phan Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Nguyễn Phan Cảnh, Đỗ Đức Hiểu, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà, Đỗ Lai Thuý, Nguyễn Xuân Kính, Vương Trí Nhàn… Đây được coi như là hiện tượng mới của nghiên cứu văn học. Sau 1975, tình hình đất nước đã có nhiều biến đổi, đời sống xã hội chuyển từ chiến tranh sang hoà bình. Cuộc sống mới hiện ra với tất cả những bộn bề, phức tạp của nó. Đây là thời kỳ giao thoa giữa cái cũ và cái 1 mới, cái cũ vẫn chưa mất đi, cái mới manh nha hình thành. Những khó khăn sau giải phóng và khủng hoảng kinh tế xã hội cuối thập niên 70, cho thấy tính chất phức tạp và sự chi phối của nền kinh tế bao cấp đưa đến sự phân cực giữa trắng - đen, thiện - ác, tốt - xấu…; cơ chế quan liêu bao cấp hiện ra ngày càng rõ. Tất cả những điều trên đã tác động không nhỏ đến đời sống văn học, tạo ra những đề tài nóng bỏng cho nhà văn khai vỡ, phát triển theo quy luật mới, quy luật đời thường. Nhà văn Nguyễn Minh Châu nhận định khái quát về bức tranh xã hội Việt Nam những năm sau chiến tranh đang diễn ra “một cuộc đối chứng giữa nhân cách và phi nhân cách, giữa hoàn thiện và chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng và những khoảng bóng tối còn rơi rớt bên trong tâm hồn của mỗi con người” [30, 364]. Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã mở đường cho nền kinh tế bao cấp chuyển sang cá thể, cơ chế thị trường; cởi trói cho tư duy con người, đưa lại một bầu không khí dân chủ, cách nhìn thông thoáng, uyển chuyển về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội. Nhờ đổi mới, văn học có điều kiện chuyển mình với tinh thần nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Không khí cởi mở, dân chủ của đời sống và học thuật đã tác động mạnh mẽ đến chủ thể sáng tạo, khiến cho quan niệm của họ về hàng loạt vấn đề dần thay đổi. Từ quan niệm về hiện thực, con người cá nhân đến quan niệm về cách viết, về sự cần thiết của việc đổi mới thi pháp thể loại. Quá trình đổi mới văn học ở Việt Nam diễn ra hết sức sôi động và đa dạng trên các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch, ký,… Ngoài ra, phải nói đến lý luận, phê bình đã đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt khi đi sâu cắt nghĩa tiểu thuyết và truyện ngắn theo hướng thi pháp học. Truyện ngắn từng đóng vai trò xung kích, tiên phong trong quá trình hiện đại hoá văn học nước nhà ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX. Thể tài này tiếp tục năng động, cơ động, có khả năng cập nhật hiện thực đời sống hàng ngày - một hiện thực luôn vận động, biến chuyển không ngừng. 2 Năm 2008, báo Văn nghệ đã xuất bản tuyển tập 60 năm truyện ngắn báo Văn nghệ (gồm 5 tập với 5 giai đoạn: 1945 - 1954, 1954 -1965, 1965 - 1975, 1975 - 1986, 1986 - 2007). Bộ tuyển tập này đã đem đến cho người đọc một cái nhìn bao quát về các chặng đường trong 60 năm phát triển của truyện ngắn Việt Nam. Qua đó, có thể hình dung được bước đi, những đổi mới của thể loại, dấu ấn của lịch sử, thời đại và tư duy nghệ thuật của nhà văn qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Trong ba mươi năm chiến tranh, truyện ngắn đã hoàn thành xuất sắc vai trò, sứ mệnh của mình là phục vụ kháng chiến với đề tài chiến tranh, không gian chiến trường và hình tượng là người lính. Với khối lượng đồ sộ, truyện ngắn giai đoạn này đã cổ vũ tinh thần nhiều thế hệ vượt qua khó khăn của kháng chiến, lay động lòng người vươn lên trong niềm tin chiến thắng, thức tỉnh con người về mặt trái của nó. Năm 1975, đất nước bước sang thời bình, nhưng văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng vẫn còn lao theo quán tính của một nền văn học minh hoạ. Điều đó đã làm cho truyện ngắn xa rời cuộc sống, lạnh nhạt với tâm tư, tình cảm của con người. Tuy nhiên, đến cuối những năm 1970, truyện ngắn đã có sự chuyển động âm thầm, tích cực và cần thiết, tạo tiền đề cho quá trình đổi mới truyện ngắn đương đại. Tuy không phải là duy nhất, nhưng truyện ngắn lại tập trung nhiều các yếu tố đổi mới của nền văn học Việt Nam đang trăn trở chuyển mình. Có thể coi truyện ngắn giai đoạn 1975 -1985 là bước tiền trạm cho cái mới, là giai đoạn xây nền móng, vỡ giọng để phát triển rực rỡ từ sau năm 1985. Trong các sáng tác qua từng giai đoạn, thi pháp truyện ngắn có chiều hướng rạn nứt dần, mà nhiều người gọi là hậu hiện đại. Là hướng nghiên cứu thiên về cắt nghĩa cái lý của hình thức, hình thức mang tính quan niệm, tức là hình thức mang tính nội dung, thi pháp học là cơ sở quan trọng trong việc xác lập và phân chia các giai đoạn, thời kỳ và khuynh 3 hướng văn học. Cho nên, để có giai đoạn phát triển rực rỡ từ năm 1986, văn học phải có thời gian manh nha hình thành, chuẩn bị hay gọi là thể nghiệm, đó là giai đoạn 1975 – 1985. Chúng tôi lấy thi pháp để soi rọi, so sánh giữa các giai đoạn phát triển của văn học, đặc biệt là giai đoạn trước và sau đổi mới. Rõ ràng, văn học luôn cần những tổng kết qua từng giai đoạn, từ đó đánh giá về nội dung, nghệ thuật và thi pháp, khuyến khích tìm tòi và thể nghiệm mới trong sáng tác và nghiên cứu. Đề tài Thi pháp truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 - 1985 sẽ góp phần giải mã những nét độc đáo đối với truyện ngắn giai đoạn này dưới góc nhìn thi pháp học. Trên cơ sở đó, so sánh với các thể loại văn học khác, hoặc giữa các giai đoạn, tạo điều kiện cho truyện ngắn tiếp tục có những đóng góp và tác động trong thực tiễn sáng tạo. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Chọn đề tài Thi pháp truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985, luận án khái quát những nét chung về truyện ngắn Việt Nam giai đoạn hậu chiến (1975 – 1985), đồng thời phác thảo diện mạo của thi pháp học trong nghiên cứu truyện ngắn nói chung và truyện ngắn thời kì này nói riêng. Tìm hiểu truyện ngắn giai đoạn 1975 – 1985 trên quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian, không gian và phương thức thể hiện dưới góc nhìn thi pháp học; luận án khẳng định vị trí, vai trò và đóng góp của những nhà văn tiêu biểu thời kì này trong tiến trình vận động và đổi mới văn học Việt Nam thế kỉ XX. Nhiệm vụ nghiên cứu Đưa ra một cái nhìn chung về truyện ngắn giai đoạn 1975 – 1985 từ góc nhìn thi pháp học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ