Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu phát triển hình thái cơ thể và yếu tố liên quan của trẻ 2-5 tuổi ở miền Bắc

Luận án tiến sĩ phân tích sự phát triển hình thái cơ thể và các yếu tố liên quan ở trẻ 25 tuổi tại một số khu vực miền Bắc, cung cấp dữ liệu quan trọng cho

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Nhân chủng học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

164
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển hình thái cơ thể trẻ 2 5 tuổi

Sự phát triển hình thái cơ thể trẻ 2-5 tuổi là giai đoạn then chốt trong quá trình tăng trưởng. Đây là thời kỳ trẻ hoàn thiện các chỉ số nhân trắc như chiều cao, cân nặng, vòng đầu và chu vi cánh tay. Luận án tiến sĩ của Vũ Văn Tâm năm 2020 tại Đại học Quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu chuyên sâu vấn đề này. Nghiên cứu được thực hiện tại ba khu vực miền Bắc: nông thôn miền núi (Cao Mã Pờ, Hà Giang), thành thị miền núi (Phường Phương Lâm, Hòa Bình) và nông thôn đồng bằng (Vân Xuân, Vĩnh Phúc). Các chỉ số hình thái cơ thể phản ánh trực tiếp tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe tổng thể của trẻ. Theo WHO, giai đoạn 2-5 tuổi chiếm tỷ lệ cao các trường hợp suy dinh dưỡng thể thấp còi trên toàn cầu. Tại Việt Nam, tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em vẫn là vấn đề y tế công cộng được quan tâm. Việc đo lường chính xác các chỉ số hình thái giúp đánh giá kịp thời tình trạng phát triển, từ đó có can thiệp phù hợp.

1.1. Khái niệm hình thái cơ thể và các chỉ số nhân trắc

Hình thái cơ thể là tổng hợp các đặc điểm vật lý bên ngoài của cơ thể người, bao gồm kích thước, hình dạng và tỷ lệ các phần cơ thể. Các chỉ số nhân trắc được sử dụng phổ biến gồm: cân nặng, chiều cao, vòng đầu, chu vi cánh tay giữa và độ dày nếp gấp da. Mỗi chỉ số mang ý nghĩa đánh giá khác nhau. Cân nặng và chiều cao phản ánh tình trạng dinh dưỡng ngắn hạn và dài hạn. Vòng đầu liên quan đến sự phát triển não bộ. Các chỉ số này được so sánh với bảng chuẩn WHO để phân loại tình trạng phát triển bình thường, suy dinh dưỡng hay thừa cân béo phì ở trẻ.

1.2. Đặc điểm tăng trưởng trẻ 2 5 tuổi theo khu vực

Trẻ 2-5 tuổi có tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với giai đoạn sơ sinh nhưng vẫn đòi hỏi chế độ dinh dưỡng đầy đủ. Tại miền Bắc Việt Nam, sự khác biệt giữa các khu vực thể hiện rõ nét. Trẻ em nông thôn miền núi thường có chỉ số hình thái thấp hơn so với trẻ thành thị và đồng bằng. Điều này liên quan đến điều kiện kinh tế, trình độ dân trí và tiếp cận dịch vụ y tế. Nghiên cứu cho thấy tộc người Mông ở Hà Giang có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn đáng kể so với các vùng khác.

II. Phân tích các yếu tố liên quan đến phát triển cơ thể trẻ

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hình thái cơ thể trẻ 2-5 tuổi. Yếu tố dinh dưỡng đóng vai trò quyết định nhất. Trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ có chiều cao và cân nặng thấp hơn chuẩn. Tình trạng thừa cân béo phì cũng ngày càng gia tăng ở khu vực thành thị. Yếu tố kinh tế xã hội có mối liên hệ mật thiết. Gia đình có thu nhập thấp thường không đảm bảo chế độ ăn đầy đủ cho trẻ. Trình độ học vấn của cha mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến cách chăm sóc và nuôi dưỡng. Yếu tố dân tộc cũng tạo ra sự khác biệt đáng kể. Nghiên cứu tại các nước Nam Mỹ cho thấy trẻ em tộc người bản xứ có tỷ lệ thấp còi cao hơn trẻ em tộc người khác. Tại Việt Nam, trẻ em dân tộc thiểu số ở miền núi có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn trẻ em Kinh ở đồng bằng. Sâu răng cũng là yếu tố tác động tiêu cực đến phát triển cơ thể. Trẻ bị sâu răng ăn uống kém dẫn đến thiếu hụt dinh dưỡng.

2.1. Ảnh hưởng của dinh dưỡng và tình trạng suy dinh dưỡng

2.2. Vai trò của yếu tố kinh tế xã hội và dân tộc

III. Phương pháp nghiên cứu phát triển hình thái cơ thể trẻ

Phương pháp nghiên cứu trong luận án được thiết kế chặt chẽ với ba địa bàn đại diện. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang kết hợp mô tả được áp dụng. Phương pháp tính tuổi dựa trên ngày sinh thực tế của trẻ. Mẫu nghiên cứu bao gồm trẻ từ 2 đến 5 tuổi tại ba khu vực khác nhau miền Bắc. Phương pháp chọn mẫu đảm bảo tính đại diện cho từng khu vực. Cỡ mẫu được tính toán khoa học dựa trên công thức thống kê. Các phép đo nhân trắc được thực hiện bởi nhân viên được đào tạo bài bản. Cân nặng đo bằng cân điện tử精度 cao. Chiều cao đo bằng thước đo chiều cao di động. Vòng đầu đo bằng thước dây không co giãn. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá theo chuẩn WHO 2006 sử dụng phần mềm Anthro. Tình trạng sâu răng được đánh giá theo chỉ số DMF và def. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS với mức ý nghĩa p<0.05.

3.1. Kỹ thuật đo lường và thu thập dữ liệu hình thái

3.2. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và sâu răng

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu phát triển trẻ em

Luận án đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu sự phát triển hình thái cơ thể trẻ 2-5 tuổi tại ba khu vực miền Bắc. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các khu vực. Trẻ em nông thôn miền núi có chỉ số hình thái thấp nhất. Trẻ em thành thị miền núi có chỉ số trung bình. Trẻ em nông thôn đồng bằng có chỉ số tốt hơn cả. Yếu tố dinh dưỡng, kinh tế xã hội và dân tộc có ảnh hưởng显著 đến phát triển cơ thể trẻ. Tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi phổ biến ở khu vực miền núi. Sâu răng cũng là vấn đề đáng lo ngại tác động xấu đến phát triển thể chất. Các phát hiện này có giá trị khoa học và thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc xây dựng chính sách dinh dưỡng trẻ em. Đề xuất can thiệp phù hợp từng đối tượng và khu vực cần được triển khai. Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng cần ưu tiên vùng miền núi dân tộc thiểu số.

4.1. Giá trị khoa học của luận án

4.2. Ứng dụng thực tiễn và kiến nghị

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự phát triển hình thái cơ thể và các yếu tố liên quan của trẻ 25 tuổi ở một số khu vực miền bắc

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu; Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu; Chƣơng 2: Đối tượng, địa bàn và phương pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận; Kết luận và kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về hình thái cơ thể trẻ em 1. Sự tăng trưởng và phát triển hình thái cơ thể trẻ em Trẻ em là một cơ thể đang lớn, sự tăng trưởng cơ thể là một đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ em.

Cơ thể trẻ em nói chung và các cơ quan nói riêng không hoàn toàn giống người trưởng thành. Những đặc điểm về giải phẫu, sinh lý của trẻ em cũng có đặc điểm riêng. Từ thế kỉ thứ XVIII, nhà triết học nổi tiếng người Pháp là J.J Rousseau đã khẳng định rằng “Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ”. Mỗi giai đoạn của trẻ có những đặc điểm về hình thái, giải phẫu và sinh lý khác nhau.

Sự tăng trưởng là một khái niệm bao gồm quá trình lớn lên và phát triển hoàn thiện cơ thể. Có hai loại tăng trưởng: tăng trưởng về thể chất và tăng trưởng về chức năng. Hai quá trình này có mối liên quan mật thiết với nhau, nhưng thời điểm trưởng thành không giống nhau [62]. Tuy nhiên, sự lớn lên và phát triển là sự vận động đi lên theo chiều hướng hoàn thiện về cả cấu tạo và chức năng của cơ thể trẻ.

Vì cấu tạo và chức năng cơ thể trẻ chưa hoàn thiện ở giai đoạn mẫu giáo nên sự tăng trưởng của trẻ chịu rất nhiều ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài. Mô hình tăng trưởng thể chất của trẻ em không phải đứng yên mà thay đổi theo thời gian. Những nghiên cứu gần đây cho thấy, ở lứa tuổi mầm non đều có sự gia tăng về chiều cao, cân nặng, đặc biệt tăng nhanh ở khu vực thành phố. Theo nghiên cứu của Lê Nam Trà, Trần Đình Long năm 1997, chiều cao, cân nặng của cả nam và nữ đều tăng cao hơn 1 cm so với hằng số sinh học người Việt Nam (1975) trong giai đoạn 1-9 tuổi [60].

Ở trẻ 2-5 tuổi mức tăng chiều cao diễn ra đều đặn, mỗi năm tăng khoảng 4,75-7,08 cm, cân nặng tăng 0,98-1,69 kg [61]. Cân nặng theo tuổi của trẻ em đều tăng rất nhanh trong năm đầu đời, nhưng từ năm thứ hai trở đi mức độ tăng có chiều hướng chậm hơn và duy trì mức tăng cho đến 9 - 10 tuổi. Sau đó cân nặng tiếp tục tăng mạnh ở lứa tuổi trước dậy thì và dậy thì [99]. Nếu tính theo BMI, trong năm đầu chỉ số BMI tăng dần nhưng từ năm 2 tuổi đến 6 tuổi thì chỉ số BMI thường giảm dần theo tuổi ở cả hai giới [61, 99].

và cộng sự nghiên cứu trên 10844 trẻ 0-60 tháng cho thấy tốc độ tăng 4 trưởng thay đổi phổ biến nhất là trẻ dưới 6 tháng tuổi, ít thay đổi hơn là giai đoạn 6- 24 tháng và ít hơn nữa là giai đoạn 24-60 tháng [134]. Giai đoạn 2-5 tuổi, trẻ em có chức năng vận động phát triển nhanh, hoạt động vui chơi có vai trò chủ đạo đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ em và quyết định sự phát triển tâm lý. Giai đoạn này việc giáo dục thể chất và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển tâm sinh lý có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ [62]. Một số đặc điểm về hình thái cơ thể trẻ em Các kích thước và chỉ số hình thái là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và thể lực của trẻ.

Theo Bộ Y tế, các giá trị sinh học về hình thái của trẻ giai đoạn 2-5 tuổi cần được đánh giá bao gồm chiều cao, cân nặng, BMI, vòng đầu, vòng ngực, vòng cánh tay trái duỗi. Đây là những kích thước và chỉ số nhân trắc quan trọng phản ánh rõ rệt sự phát triển cơ thể trẻ giai đoạn này. Chiều cao: là một trong những kích thước nhân trắc quan trọng nhất để đánh giá thể chất và sức khỏe ở trẻ em. Chiều cao chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như di truyền, dinh dưỡng, vận động thể lực v.

trong đó yếu tố dinh dưỡng là rất quan trọng đối với giai đoạn trẻ 2-5 tuổi. Sự tăng trưởng của chiều cao chia làm 3 giai đoạn là: giai đoạn tăng trưởng chậm, giai đoạn dậy thì và giai đoạn sau dậy thì [15]. Cân nặng: cũng là một kích thước nhân trắc cơ bản trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Cân nặng cơ thể thường chia làm 2 phần: phần cố định chiếm 1/3 tổng cân nặng cơ thể bao gồm: xương, da, các tạng và thần kinh; phần thay đổi chiếm 2/3 tổng số cân nặng bao gồm 3/4 cơ, 1/4 mỡ và nước.

Sự tăng giảm cân nặng phần lớn có liên quan đến vấn đề dinh dưỡng [53]. BMI: là chỉ số khối cơ thể dùng để đánh giá mức độ gầy hay béo của một người. Chỉ số này được nhà khoa học người Bỉ Adolphe Quetelet đưa ra năm 1982, tuy nhiên nó có nhược điểm là không tính được lượng chất béo trong cơ thể. Đến năm 1997, WHO khuyến cáo sử dụng chỉ số BMI/tuổi để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ là SDD hay TC-BP [176].

Vòng đầu: Kích thước vòng đầu phản ánh sự tăng trưởng của não bộ. Trẻ sơ sinh có kích thước não khoảng 350g và khi 1 tuổi đạt 1000g, đến 2 tuổi não đạt 5 khoảng 1200g. Não người trưởng thành khoảng 1250g ở nữ và 1400g ở nam. Như vậy, sau giai đoạn 1 tuổi não bộ có sự phát triển chậm lại về khối lượng, tuy nhiên cần phải theo dõi sự phát triển của não bộ thông qua kích thước vòng đầu [53].

Vòng ngực: là một chỉ số hình thái có liên quan mật thiết với chiều cao, cân nặng của cơ thể. Sự phát triển của lồng ngực cũng ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan bên trong như hô hấp, tuần hoàn v. Vòng cánh tay trái duỗi: VCTTD của trẻ tăng nhanh ở giai đoạn đầu đời, từ sau 2 tuổi thì kích thước VCTTD tăng chậm lại. Kích thước VCTTD chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi dinh dưỡng, vì vậy đây cũng là một chỉ số quan trọng trong đánh giá nhanh tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em [2].

Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể trẻ em 1. Yếu tố kinh tế - xã hội Yếu tố kinh tế có mối quan hệ qua lại với tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Nguyên nhân gốc rễ của SDD là tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung, bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế [150]. Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay của các nước phát triển, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tác động đến xã hội ngày càng sâu sắc [94].

Ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển, tỷ lệ trẻ SDD cao hơn hẳn các nước phát triển. Trên thế giới, trẻ SDD tập trung chủ yếu ở hai châu lục là Châu Phi và Châu. Thu nhập là một biểu hiện quan trọng phản ánh tình trạng KT-XH. Nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (1991) về ảnh hưởng của tình trạng kinh tế - xã hội đến sự phát triển của trẻ em học đường ở Bangladesh cho thấy trẻ từ các gia đình có thu nhập cao có cân nặng và chiều cao theo tuổi cao hơn trẻ từ các gia đình có thu nhập thấp [82].

Một nghiên cứu khác ở Anh về vấn đề liên quan giữa tình trạng thất nghiệp của người cha với sự phát triển của trẻ cho thấy những trẻ có bố bị thất nghiệp có chiều cao thấp hơn những đứa trẻ khác [147]. Cơ cấu nhân khẩu ảnh hưởng đến sự phân bố và tiêu thụ thực phẩm trong gia đình. Quy mô gia đình cũng ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ đặc biệt ở các nước đang phát triển. Một nghiên cứu trên trẻ em học đường ở Mexico (1991) đã đưa ra kết luận rằng có mối liên hệ giữa yếu tố kinh tế - xã hội với khẩu phần ăn và tình trạng dinh dưỡng 6 của trẻ.

Gia đình đông con có chế độ ăn nghèo nàn hơn gia đình ít con, đặt biệt là thức ăn có nguồn gốc động vật, nghiên cứu cũng cho thấy trẻ sinh ra trong gia đình đông con thì có chiều cao thấp hơn [109]. Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa SDD ở trẻ em với các yếu tố kinh tế, xã hội. Những hộ có thu nhập cao hơn thì trẻ thường được ăn uống tốt hơn, do đó tình trạng dinh dưỡng của trẻ tốt hơn. Bên cạnh đó, một bộ phận hộ gia đình có thu nhập cao nhưng vẫn có trẻ em bị SDD, điều này gợi ý cho các phân tích về sử dụng thu nhập ở hộ gia đình cũng cần được quan tâm.

Các hộ gia đình nghèo, đặc biệt là hộ nghèo đói lương thực, thực phẩm có tỷ lệ SDD cao. Yếu tố vùng trong đó có cả yếu tố dân tộc được phân tích cho thấy ở những vùng khó khăn và hay xảy ra thiên tai trẻ em bị SDD nhiều hơn. Tuy nhiên yếu tố vùng và yếu tố thu nhập thường đi đôi với nhau. Điều này phản ánh rõ sự phân hoá giữa các vùng kinh tế của nước ta hiện nay.

Trình độ văn hoá của bố, mẹ có liên quan với tỷ lệ SDD giữa các nhóm trẻ, con của các gia đình mà bố, mẹ biết chữ có tình trạng dinh dưỡng tốt hơn so với gia đình mà bố mẹ không biết chữ. Tuy nhiên, khi đưa trình độ văn hoá lên cao dần và phân tích từng bộ số liệu cho thấy sự khác biệt không lớn về tỷ lệ SDD giữa nhóm gia đình bố mẹ có 7-10 năm đi học và nhóm gia đình mà bố mẹ có trình độ văn hoá cao hơn. Điều này có thể giải thích nhóm bố mẹ có trình độ văn hoá cao thường bận rộn hơn với công việc và ít có thời gian chăm sóc con [33]. Khẩu phần ăn Khẩu phần ăn là yếu tố tác động trực tiếp và quan trọng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ.

Ở độ tuổi học đường, trẻ phát triển chậm hơn giai đoạn trước nhưng là giai đoạn chuẩn bị quan trọng cho sự phát triển nhanh chóng khi vào tuổi dậy thì nên nhu cầu năng lượng của trẻ khá cao. Thói quen ăn uống, khẩu phần ăn không hợp lý sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Đất nước ta đang trên đà phát triển, hội nhập quốc tế, điều kiện KT-XH đã có nhiều cải thiện. Điều đó đã dẫn đến những sự thay đổi trong mô hình của bệnh tật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ