Tổng quan luận án
Tình trạng thoái hóa đất và xói mòn bề mặt lưu vực đang gia tăng dưới tác động tổng hợp của các yếu tố tự nhiên và hoạt động khai thác tài nguyên của con người, đặc biệt tại các khu vực địa hình đồi núi dốc. Theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam có trên 13 triệu hecta đất bị suy thoái thành đất trống, đồi núi trọc, trong đó có khoảng 1,2 triệu hecta đã bị xói mòn trơ sỏi đá. Với đặc điểm địa hình có 3/4 diện tích là đồi núi, nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, mạng lưới sông suối ngắn và dốc làm giảm khả năng giữ nước, gia tăng tốc độ dòng chảy mặt và nguy cơ lũ quét, xói mòn đất dốc là một hiểm họa đối với sản xuất nông - lâm nghiệp. Báo cáo của FAO – UNEP chỉ ra rằng hàng năm trên phạm vi toàn cầu có từ 5 đến 7 triệu hecta đất mất hoàn toàn khả năng sản xuất do xói mòn.
Để định lượng lượng đất mất và bùn cát vận chuyển, mô hình toán học là công cụ có chi phí thấp, cho phép mô phỏng trên các quy mô lưu vực khác nhau và dự báo theo nhiều kịch bản. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu trong nước và quốc tế trước đây chủ yếu dựa trên Phương trình mất đất phổ dụng (USLE) hoặc các mô hình kinh nghiệm tĩnh. Các mô hình này có phạm vi ứng dụng mang tính địa phương, độ chính xác suy giảm khi áp dụng cho lưu vực mới, chưa mô tả quá trình bồi lắng, vận chuyển cơ học của hạt bùn cát và không có khả năng tính toán chi tiết cho từng trận mưa theo các bước thời gian ngắn. Luận án "Nghiên cứu xây dựng mô hình toán mô phỏng dòng chảy và vận chuyển bùn cát trên lưu vực vừa và nhỏ" do tác giả Đào Tấn Quy thực hiện (Trường Đại học Thủy lợi, năm 2017) tập trung giải quyết khoảng trống này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung chính:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng mô hình toán mô phỏng xói mòn và vận chuyển bùn cát trên lưu vực vừa và nhỏ.
- Thử nghiệm mô hình đã xây dựng cho một số lưu vực vừa và nhỏ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình toán mô phỏng xói mòn và vận chuyển bùn cát.
- Phạm vi nghiên cứu: Các lưu vực sông suối vừa và nhỏ. Về mặt thực nghiệm không gian, mô hình được kiểm định tại hai lưu vực miền núi thuộc tỉnh Sơn La: lưu vực Nậm Sập và lưu vực Phiêng Hiềng. Dữ liệu tính toán dựa trên các bản đồ hiện trạng sử dụng đất (năm 2015), chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn và số liệu thực đo các trận mưa tại các trạm đo trên lưu vực.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất được các nhà khoa học Đức tiến hành từ năm 1877; đến năm 1907, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) ban hành chính sách bảo vệ tài nguyên đất. Theo thống kê của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ xói mòn dao động từ 30 đến 40 tấn/ha/năm, toàn cầu có khoảng 1.960 triệu hecta đất có nguy cơ xói mòn (chiếm 15% diện tích đất thế giới, trong đó 50% bị xói mòn trầm trọng), làm thất thoát từ 75 đến 109 triệu tấn đất mỗi năm, gây thiệt hại ước tính 400 tỷ USD/năm. Tổng lượng phù sa từ các hệ thống sông lớn đổ ra biển ước tính tăng từ 9 tỷ tấn lên 24 tỷ tấn/năm.
| Hệ thống sông |
Quốc gia |
Lượng phù sa hàng năm (tỷ tấn) |
| Hoàng Hà |
Trung Quốc |
1.600 |
| Ganges |
Ấn Độ |
1.455 |
| Amazon |
Một số nước |
363 |
| Mississippi |
Mỹ |
300 |
| Kosi |
Ấn Độ |
172 |
| Mekong |
Một số nước |
170 |
| Nile |
Một số nước |
111 |
Về mặt lý thuyết động lực, nghiên cứu xói mòn thế giới phân hóa theo hai trường phái:
- Trường phái Bennett: Cho rằng việc hình thành các rãnh trên bề mặt là do động năng của dòng chảy cuốn trôi vật chất rắn; các biện pháp kiểm soát tập trung vào cơ giới để giảm lưu tốc dòng chảy mà không nhất thiết phải giảm tổng lượng dòng chảy mặt.
- Trường phái Ellison: Khẳng định dòng chảy gia tăng do suy thoái cấu trúc đất dưới tác động phân tán của hạt mưa; kiểm soát xói mòn phải tập trung vào bề mặt lưu vực thông qua lớp phủ thực vật và biện pháp canh tác.
Các mô hình kinh nghiệm tính toán xói mòn được phát triển qua nhiều giai đoạn:
- Zingg (1940) đề xuất phương trình tính lượng mất đất theo chiều dài ($L$) và độ dốc ($S$) sườn: $A = C \cdot S^{1,60} \cdot L^{0,60}$ (hoặc dạng rút gọn $A = C \cdot S^{1,60}$).
- Smith (1941) bổ sung các yếu tố luân canh, làm đất, lớp phủ thực vật ($C$) và hệ số thực hành bảo tồn ($P$): $A = C \cdot S^{7/5} \cdot L^{3/5} \cdot P$.
- Ellison (1947) xây dựng công thức thể hiện năng lượng động học của mưa làm bong tách hạt đất: $E = K \cdot V^{4,33}$.
- Musgrave (1947) tính toán xói mòn lưu vực đầu nguồn: $E = I \cdot R \cdot S^{1,35} \cdot L^{0,35} \cdot P_{30}^{1,75}$.
- Wischmeier và Smith (1965, 1978) hoàn thiện Phương trình mất đất phổ dụng USLE: $A = R \cdot K \cdot LS \cdot C \cdot P$. Chỉ số xói mòn mưa ($R$) được tính theo nhiều tác giả tùy điều kiện số liệu: Brown và Foster (1987) ($R = \sum V_j \cdot I_{30}$); Renard và Freimund (1994) ($R = 0,07397 \cdot F^2 / 17,2$ với $F \ge 55\text{ mm}$); Larionov ($R = 0,258 \cdot X_i \cdot I_{i,30}^{0,149}$).
| Tác giả |
Phương pháp / Công thức tính chỉ số xói mòn do mưa ($R$) |
| Roose (1975) |
$R = 0,5 \cdot P \cdot 1,73$ (theo lượng mưa năm $P$) |
| Morgan (1974) |
$R = 9,28 \cdot P - 8,838$ (theo lượng mưa năm $P$) |
| Foster và cộng sự (1981) |
$R = 0,276 \cdot P \cdot I_{30}$ (theo mưa năm $P$ và $I_{30}$) |
| El-Swaify và cộng sự (1985) |
$R = 38,5 + 0,35 \cdot P$ (theo lượng mưa năm $P$) |
| Wanapiryarat và cộng sự (1986) |
$R = -3,2353 + 1,789 \cdot \ln(x)$ (theo lượng mưa ngày $x$) |
| Nguyễn Trọng Hà |
$R = 0,548257 \cdot P - 59,9$ (theo lượng mưa năm $P$) |
- Williams (1975) cải biên USLE thành mô hình MUSLE tính cho từng trận lũ: $msf = 0,95 \cdot (V \cdot Q_s)^{0,56} \cdot K \cdot LS \cdot C \cdot P$.
Bên cạnh mô hình kinh nghiệm, các mô hình nhận thức (mô hình dựa trên quá trình vật lý) được thiết lập từ phương trình liên tục Bennett (1974): $\frac{\partial q_s}{\partial x} + \frac{\partial (c y \rho_s)}{\partial t} = D_r + D_l$. Các mô hình tiêu biểu gồm:
- ANSWERS (Beasley và cộng sự, 1980): Chia lưu vực thành các ô lưới độc lập, chưa xét xói mòn lòng kênh và dòng ngầm.
- CREAMS (Knisel, 1980): Tách biệt dòng chảy, xói mòn mặt và khe rãnh trong nông nghiệp.
- AGNPS (Young và cộng sự, 1989): Mô hình lưới ô vuông tính cho trận mưa đơn và nhiều năm, phân tích 5 cấp hạt (sét, thịt, hạt kết nhỏ, hạt kết lớn, cát).
- KINEROS (Woolhiser và cộng sự): Tích hợp sóng động học 1 chiều, xói mòn mưa rơi và xói mòn thủy lực.
- WEPP (Flanagan và Nearing, 1995): Ứng dụng phương trình Foster và Meyer (1972) tính toán xói mòn mảng $D_i = K_i \cdot I_e^2 \cdot G_e \cdot C_e \cdot S_f$.
- EUROSEM (Morgan và cộng sự, 1998): Mô hình dự báo xói mòn châu Âu, mô phỏng xói mòn bắn tóe, khe rãnh và dòng nhập lưu.
- SWAT (Jeff Arnold, USDA-ARS): Mô hình thủy văn tích hợp MUSLE, mô phỏng sử dụng đất và bùn cát dài hạn.
Tại Việt Nam, nghiên cứu xói mòn trải qua 3 giai đoạn theo Nguyễn Quang Mỹ: trước 1954 (biện pháp canh tác truyền thống), 1954–1975 (Chu Đình Hoàng nghiên cứu giọt mưa; Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên nghiên cứu đất đồi núi), và từ 1975 đến nay. Các nghiên cứu gần đây ứng dụng USLE/RUSLE kết hợp GIS gồm có: Phạm Ngọc Dũng (1998) tại Tây Nguyên; Nguyễn Trọng Hà xác định $R, K$; Phạm Hùng (2004) xác định ngưỡng mưa gây lũ quét; Lại Vĩnh Cẩm (2005) tại 4 lưu vực miền Bắc; Phạm Hữu Tỵ (2009) dùng RUSLE và ảnh Landsat ETM+, SRTM tại Thừa Thiên Huế; Nguyễn Văn Dũng (2012) tại vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh; Lê Mạnh Hùng (2014) dùng SWAT tính toán bùn cát sông Mekong về Kratie ($NSE = 0,86$, $PBIAS = 11,2%$, tải lượng trung bình 162 triệu tấn/năm); Trần Quốc Vinh (2012) tại Tam Nông (Phú Thọ); Trương Văn Cảnh (2015) tại sông Cu Đê.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra gồm:
- Các nghiên cứu trong nước chưa đánh giá được sự phân bố lượng bùn cát theo thời gian cho từng trận mưa đơn và chưa phản ánh sự biến thiên của cấp độ dốc địa hình.
- Hầu hết các ứng dụng dựa vào các phần mềm thương mại mã nguồn đóng của nước ngoài (ANSWERS, WEPP, EUROSEM, SWAT) có chi phí cao, bộ thông số hiệu chuẩn theo điều kiện quốc tế dẫn đến sai số khi áp dụng tại Việt Nam.
- Thuật toán giải giải tích trong WEPP, SWAT bắt buộc phải giả thiết đồng nhất độ dốc sườn, không phản ánh đúng địa hình thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận theo hướng mô hình nhận thức dựa trên các quy luật thủy lực và cơ chế vật lý của quá trình xói mòn do nước, bao gồm xói mòn bắn tóe (splash erosion), xói mòn bề mặt (sheet erosion), xói mòn rãnh (rill erosion) và vận chuyển bùn cát trong kênh.
- Khung lý thuyết và các phương trình toán học:
- Mô hình thấm: Luận án sử dụng phương pháp tính toán tổn thất thấm trực tiếp từ phương trình Green – Ampt Mein – Larson (1973), bỏ qua bốc hơi và đọng trũng:
$$f_i = K_e \left(1 + \frac{(\phi - \theta_0)\psi_c}{I}\right)$$
Trong đó: $f_i$ là cường độ thấm thực (m/s); $K_e$ là độ dẫn thủy lực bão hòa (m/s); $\phi$ là độ xốp của đất ($\text{m}^3/\text{m}^3$); $\theta_0$ là độ bão hòa ban đầu ($\text{m}^3/\text{m}^3$); $\psi_c$ là sức căng mao dẫn (m); $I$ là độ sâu thấm tích lũy (m).
- Hệ phương trình dòng chảy mặt (sóng động học 1 chiều):
Phương trình liên tục: $\frac{\partial h}{\partial t} + \frac{\partial (uh)}{\partial x} = r$
Phương trình động lượng rút gọn ($S_0 = S_f$): kết hợp với công thức Manning $u = \alpha h^{m-1}$, ta có hệ phương trình:
$$\frac{\partial h}{\partial t} + \frac{\partial (\alpha h^m)}{\partial x} = r$$
Với điều kiện biên $h(0,t) = 0$ ($t \ge 0$) và điều kiện ban đầu $h(x,0) = 0$ ($x \ge 0$). Vận tốc dòng chảy tính theo công thức Manning: $u = \frac{1}{n} R_H^{2/3} S_f^{1/2}$.
- Hệ phương trình dòng chảy trong kênh/sông:
Phương trình liên tục: $\frac{\partial A}{\partial t} + \frac{\partial (uA)}{\partial x} = q_A$
Phương trình động lượng sóng động học: $Q = \alpha A R_H^{m-1} \Rightarrow \frac{\partial A}{\partial t} + \frac{\partial Q}{\partial x} = q_A$.
- Phương trình diễn toán xói mòn và vận chuyển bùn cát:
Phương trình liên tục Bennett: $\frac{\partial (\rho_s C_s h)}{\partial t} + \frac{\partial q_s}{\partial x} = \theta(x,t)$
Được biến đổi thành phương trình vi phân tuyến tính biểu diễn lưu lượng bùn cát $q(t)$:
$$\frac{dq(t)}{dt} = -\frac{1}{k} q(t) + \frac{1}{k} p(t)$$
Phương trình này được giải số trị bằng phương pháp Runge-Kutta bậc 4 (RK4).
-
Phương pháp giải số trị:
Luận án đề xuất sử dụng lược đồ sai phân hữu hạn Lax – Friedrichs có bổ sung trọng số thời gian và không gian (Lax-Friedrichs Weight - LFW) trên lưới chữ nhật không gian - thời gian ($x, t$) để giải hệ phương trình đạo hàm riêng dòng chảy mặt và bùn cát. Thuật toán này bảo đảm tính ổn định và hội tụ của nghiệm mà không đòi hỏi phải đơn giản hóa hay đồng nhất độ dốc lưu vực.
-
Phương pháp thực hiện và nguồn dữ liệu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu và kế thừa số liệu điều tra cơ bản.
- Phương pháp viễn thám và GIS: Sử dụng các phần mềm ArcGIS, MapInfo để biên tập số hóa bản đồ địa hình (DEM), bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, mạng lưới sông ngòi và bản đồ đẳng trị mô đun dòng chảy.
- Phương pháp mô hình toán: Viết mã nguồn hoàn chỉnh bằng ngôn ngữ lập trình C++, thiết lập 2 thành phần cơ bản và các mô đun chuyên biệt, thiết kế giao diện đồ họa phục vụ nhập dữ liệu và vận hành mô phỏng.
- Nguồn số liệu: Số liệu mưa từng trận, chuỗi lưu lượng và hàm lượng bùn cát quan trắc thực tế tại các trạm thuộc lưu vực Nậm Sập và Phiêng Hiềng (tỉnh Sơn La).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về mô hình toán mô phỏng vận chuyển bùn cát trên lưu vực vừa và nhỏ
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các khái niệm, cơ chế vật lý và nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn đất: lượng mưa và cường độ mưa, thành phần cơ giới đất (đất sét liên kết chặt; đất cát thấm nhanh nhưng khó cuốn trôi; đất thịt dễ bị xói mòn nhất), đặc điểm địa hình (độ dốc $S$ và chiều dài sườn $L$), lớp phủ thực vật (tán rừng giữ lại từ 5% đến 30% lượng mưa theo MacDonald, giảm động năng va đập và tăng lượng thấm) và các hoạt động kinh tế - xã hội.
| Tác nhân / Dạng xói mòn |
Biểu hiện |
Nguồn năng lượng |
Nhân tố môi trường chi phối |
| Xói mòn do gió (Wind erosion) |
Vết lằn, ụ đất, đám khí bụi |
Năng lượng gió, sự nhiễu động không khí |
Vận tốc và hướng gió; độ nhám đất; thảm phủ thực vật; cấu trúc và chất hữu cơ |
| Xói mòn khô (Dry mechanical) |
Lở đất |
Lực trọng trường, áp lực canh tác |
Cường độ canh tác; độ dốc; mức độ kết dính của đất |
| Xói mòn bề mặt |
Mảng cát, lớp bồi |
Tác động của giọt mưa |
Lớp phủ cây trồng; công nghệ và cấu trúc kiểm soát xói mòn |
| Xói mòn dạng tuyến (Linear erosion) |
Rãnh nước, dòng suối nhỏ |
Năng lượng dòng chảy |
Vận tốc, độ dốc, độ nhám; thể tích dòng chảy, khả năng thấm và tầng đá mẹ |
| Di chuyển khối đất |
Trượt lở, lũ bùn |
Trọng lực, mất cân bằng khối đất |
Khối lượng lớp thổ nhưỡng + nước + cây trồng; độ ẩm; độ dốc và tầng đá |
Chương này phân tích chi tiết bảng tra hệ số che phủ $C$ của Hội Khoa học đất Quốc tế theo độ che phủ thực vật (từ 0% đến 100%) cho các trạng thái rừng nhiệt đới, bãi chăn thả, cây hàng năm và tầng cây bụi; đồng thời điểm luận chi tiết các công thức xác định hệ số $K$ (theo Wischmeier và Smith: $100K = 2,1 \cdot 10^{-4}(12-a)M^{1,14} + 3,25(b-2) + 2,5(c-3)$), hệ số địa hình $LS = (x/22,13)^n (0,065 + 0,045s + 0,0065s^2)$ và hệ số thực hành bảo tồn $P = P_c \cdot P_{st} \cdot P_{ter}$. Tác giả tổng kết các nghiên cứu trong nước, đối chiếu ưu nhược điểm của các mô hình hiện có và xác lập luận cứ cho việc xây dựng mô hình toán tự chủ mã nguồn.
Chương 2: Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng mô hình toán mô phỏng vận chuyển bùn cát trên lưu vực vừa và nhỏ
Chương 2 trình bày chi tiết cấu trúc toán học của mô hình. Tác giả thiết lập hệ phương trình thấm Green – Ampt, hệ phương trình vi phân sóng động học cho dòng chảy mặt và dòng chảy lòng dẫn, phương trình liên tục bùn cát Bennett kết hợp nghiệm Runge-Kutta RK4. Sơ đồ sai phân hữu hạn Lax – Friedrichs cải tiến có bổ sung trọng số (LFW) được xây dựng để rời rạc hóa hệ phương trình trên lưới không-thời gian.
Mô hình được cấu trúc hóa thành 3 quá trình cơ bản:
- Quá trình liên rãnh: Mô phỏng khả năng xói mòn và lượng bùn cát sinh ra do tác động phân tán của hạt mưa và dòng chảy tràn đưa vào rãnh.
- Quá trình rãnh: Mô phỏng sự tập trung dòng chảy, khả năng xói rãnh và vận chuyển bùn cát trong các rãnh sườn dốc.
- Quá trình lòng kênh/sông: Mô phỏng động lực dòng chảy trong sông, xác định sức tải bùn cát và lượng bùn cát vận chuyển tích lũy tới cửa ra lưu vực.
Về mặt công nghệ phần mềm, mô hình được lập trình bằng C++ gồm hai khối thành phần chính, tích hợp các chương trình con chuyên biệt cho từng bài toán thủy lực - bùn cát và trang bị giao diện người dùng trực quan cho các thao tác: khởi động, mở tệp dữ liệu đầu vào và thực thi mô phỏng.
Chương 3: Thử nghiệm mô hình để mô phỏng dòng chảy và vận chuyển bùn cát cho một số lưu vực vừa và nhỏ
Chương 3 triển khai ứng dụng thử nghiệm mô hình trên hai lưu vực thực tế tại tỉnh Sơn La:
- Lưu vực Nậm Sập: Tác giả thu thập và số hóa dữ liệu vị trí địa lý, địa hình (DEM), thổ nhưỡng, hiện trạng thảm phủ, mạng lưới thủy văn, trạm quan trắc và bản đồ đẳng trị mô đun dòng chảy; tiến hành phân chia tiểu lưu vực. Quá trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình được thực hiện thông qua so sánh đường quá trình lưu lượng ($Q$) và đường quá trình hàm lượng bùn cát ($C_s$) tính toán so với số liệu thực đo tại trạm (kèm phân tích dữ liệu bùn cát tại khu vực Thác Mộc).
- Lưu vực Phiêng Hiềng: Thiết lập cơ sở dữ liệu số về địa hình, thổ nhưỡng, hiện trạng sử dụng đất năm 2015, chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn; phân chia các tiểu lưu vực; thực hiện hiệu chỉnh và kiểm định đường quá trình lưu lượng và nồng độ bùn cát tính toán so với thực đo.
Bên cạnh đó, chương 3 tiến hành phân tích độ nhạy của các thông số mô hình khi có sự biến động của điều kiện mặt đệm và dữ liệu khí tượng; đồng thời phân tích định lượng tương quan giữa cường độ mưa, độ dốc địa hình với cường độ xói mòn liên rãnh và xói mòn rãnh trên các lưu vực nghiên cứu.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới của luận án được xác định gồm:
- Xây dựng thành công mô hình toán nhận thức mô phỏng dòng chảy, xói mòn và vận chuyển bùn cát trên lưu vực vừa và nhỏ, sử dụng thuật toán sơ đồ sai phân hữu hạn Lax – Friedrichs có bổ sung trọng số thời gian và không gian (LFW) để giải hệ phương trình dòng chảy và phương trình vận chuyển bùn cát, bảo đảm tính ổn định và hội tụ số trị trên địa hình thực tế.
- Xây dựng được phương trình tương quan giữa xói mòn liên rãnh, xói mòn rãnh với độ dốc địa hình và cường độ mưa trên các lưu vực nghiên cứu (lưu vực Nậm Sập và lưu vực Phiêng Hiềng, tỉnh Sơn La), tạo cơ sở dự báo lượng bùn cát bị xói mòn và vận chuyển theo từng trận mưa.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ kết quả nghiên cứu:
- Đề xuất chuyển giao mô hình và bộ cơ sở dữ liệu số cho các cơ quan quản lý tại địa phương (Sơn La và các tỉnh miền núi phía Bắc) làm công cụ giám sát, tra cứu, đánh giá tác động của xói mòn đất đến sản xuất nông nghiệp và bồi lắng lòng hồ/sông suối.
- Khuyến nghị ứng dụng mô hình để hỗ trợ công tác quy hoạch tài nguyên nước, thiết kế công trình thủy lợi và bố trí cơ cấu cây trồng, quy hoạch sử dụng đất dốc nhằm giảm thiểu nguy cơ suy thoái đất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Mô hình tập trung mô phỏng các quá trình xói mòn do nước (bắn tóe, xói mòn bề mặt, xói rãnh và xói mòn lòng dẫn), chưa tích hợp đầy đủ cơ chế trượt lở đất quy mô lớn, lũ bùn đá và xói mòn do trọng lực.
- Khi tính toán lượng mưa sinh dòng chảy, mô hình áp dụng phương pháp lược bỏ bốc hơi và đọng trũng, chỉ tập trung giải bài toán tổn thất thấm theo Green – Ampt.
- Phạm vi kiểm định thực tế giới hạn trên hai lưu vực vừa và nhỏ tại tỉnh Sơn La.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục thử nghiệm, hiệu chỉnh và kiểm định mô hình cho các lưu vực có quy mô, điều kiện khí hậu, địa chất và thảm phủ thực vật khác nhau tại các vùng miền trên toàn quốc.
- Bổ sung các mô đun tính toán tương tác dài hạn giữa thay đổi sử dụng đất, biến đổi khí hậu và các hiện tượng di chuyển khối đất phức tạp.
Giá trị tham khảo
Kết quả của luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Thủy văn học, Kỹ thuật tài nguyên nước, Mô hình hóa môi trường và Khoa học đất: Tham khảo phương pháp xây dựng mô hình toán nhận thức, phương trình thủy lực sóng động học và kỹ thuật lập trình C++ cho các bài toán xói mòn - bùn cát.
- Các chuyên gia nghiên cứu thuật toán số trị: Tham khảo cách thiết lập sơ đồ sai phân hữu hạn Lax – Friedrichs có trọng số (LFW) và phương pháp Runge-Kutta RK4 trong giải phương trình liên tục Bennett.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La và các tỉnh miền núi phía Bắc): Sử dụng bộ công cụ để tính toán xói mòn đất, dự báo bồi lắng và lập quy hoạch bảo vệ đất dốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng thuật toán số trị nào để giải hệ phương trình dòng chảy và vận chuyển bùn cát?
Tác giả sử dụng lược đồ sai phân hữu hạn Lax – Friedrichs có bổ sung trọng số thời gian và không gian (LFW) để giải hệ phương trình sóng động học dòng chảy mặt và dòng chảy kênh, kết hợp với phương pháp Runge-Kutta bậc 4 (RK4) để giải phương trình tích phân biểu diễn lưu lượng bùn cát qua mặt cắt.
2. Quá trình thấm nước mưa sinh dòng chảy được mô hình hóa theo lý thuyết nào?
Quá trình thấm được tính toán trực tiếp từ phương trình thấm Green – Ampt Mein – Larson (1973): $f_i = K_e [1 + (\phi - \theta_0)\psi_c / I]$. Mô hình lựa chọn phương án tính toán chỉ trừ tổn thất do thấm xuống đất, bỏ qua tổn thất do bốc hơi và giữ nước trong các vũng, ao trũng.
3. Khác biệt cơ bản giữa mô hình của luận án với các mô hình kinh nghiệm (như USLE, MUSLE) là gì?
Mô hình của luận án là mô hình nhận thức dựa trên các phương trình vật lý thủy lực và phương trình liên tục Bennett, cho phép mô phỏng chi tiết đường quá trình lưu lượng và hàm lượng bùn cát theo từng bước thời gian ngắn cho từng trận mưa đơn lẻ, đồng thời mô tả được cả quá trình xói mòn liên rãnh, xói mòn rãnh và chuyển tải/bồi lắng trong lòng kênh trên địa hình có độ dốc biến thiên.
4. Mô hình toán được lập trình bằng ngôn ngữ nào và gồm các thành phần cấu trúc gì?
Mô hình được viết hoàn chỉnh bằng ngôn ngữ C++, gồm 2 thành phần cơ bản và các mô đun tính toán chuyên biệt cho xói mòn liên rãnh, xói mòn rãnh, thủy lực kênh và vận chuyển bùn cát ra cửa lưu vực, đi kèm giao diện đồ họa hỗ trợ mở tệp dữ liệu và vận hành mô phỏng.
5. Luận án đã thử nghiệm mô hình trên những lưu vực cụ thể nào?
Mô hình đã được thử nghiệm, hiệu chỉnh và kiểm định đường quá trình lưu lượng và nồng độ bùn cát tính toán so với thực đo tại hai lưu vực miền núi vừa và nhỏ thuộc tỉnh Sơn La: lưu vực Nậm Sập và lưu vực Phiêng Hiềng.
Kết luận
Luận án của tác giả Đào Tấn Quy đã xây dựng thành công cơ sở khoa học và bộ chương trình tính toán hoàn chỉnh cho mô hình toán nhận thức mô phỏng dòng chảy, xói mòn và vận chuyển bùn cát trên lưu vực vừa và nhỏ. Thông qua việc ứng dụng sơ đồ sai phân hữu hạn Lax – Friedrichs có trọng số (LFW) và phương pháp Runge-Kutta RK4 trên nền ngôn ngữ C++, nghiên cứu đã khắc phục được hạn chế của các mô hình kinh nghiệm tĩnh và các phần mềm thương mại mã nguồn đóng. Kết quả kiểm định thực tế tại lưu vực Nậm Sập và Phiêng Hiềng (tỉnh Sơn La) cùng các phương trình tương quan được thiết lập đã chứng minh tính khả thi của mô hình, cung cấp công cụ phục vụ công tác quy hoạch tài nguyên nước và quản lý bền vững đất dốc tại Việt Nam.