Luận án tiến sĩ luật học: Khám phá địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

Luận án tiến sĩ luật học phân tích địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, làm rõ quyền và nghĩa vụ trong khuôn khổ pháp luật hiện hành.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Tác giả

Nguyên Trí Tuệ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học

2003

189
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Cái mới của luận án

0.6. Ý nghĩa của luận án

0.7. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

1.1. Vai trò của Doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

1.2. Nền kinh tế thị trường và các loại hình chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

1.3. Doanh nghiệp tư nhân với tư cách là một loại hình doanh nghiệp của thành phần kinh tế tư nhân

1.4. Những đặc trưng của DNTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

1.5. Khái niệm, nội hàm và cách tiếp cận về địa vị pháp lý của DNTN

1.5.1. Về khái niệm "địa vị pháp lý" và cách tiếp cận địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

1.5.2. Bản chất pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

1.5.3. Nội hàm khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

1.5.4. Các yếu tố chi phối tới địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

2.1. Khái quát về sự phát triển của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

2.2. Sự điều chỉnh pháp luật về thành lập và đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp tư nhân

2.3. Quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp tư nhân trong một số lĩnh vực chủ yếu theo quy định hiện hành và thực trạng áp dụng

2.3.1. Các quy định chung về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân

2.3.2. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, thuế và thực trạng áp dụng

2.3.3. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của DNTN trong lĩnh vực lao động và thực trạng áp dụng

2.3.4. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của DNTN trong lĩnh vực xuất khẩu, thương mại và thực trạng áp dụng

2.3.5. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của DNTN trong lĩnh vực đất đai và thực trạng áp dụng

2.4. Sự điều chỉnh pháp luật về chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp tư nhân

2.5. Một số quy định về quản lý nhà nước đối với DNTN và ảnh hưởng của chúng tới việc thực hiện các quy định pháp luật về DNTN

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DNTN

3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện địa vị pháp lý của DNTN

3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật

3.2.2. Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân

3.2.3. Một số giải pháp cụ thể khuyến khích, trợ giúp các doanh nghiệp tư nhân

3.2.3.1. Hoàn thiện hệ thống các chính sách khuyến khích trợ giúp đối với doanh nghiệp tư nhân
3.2.3.2. Giải pháp về mặt bằng sản xuất kinh doanh
3.2.3.3. Giải pháp về vốn - tài chính
3.2.3.4. Giải pháp về thuế
3.2.3.5. Giải pháp về chính sách thị trường và tiếp cận thị trường
3.2.3.6. Giải pháp về chính sách lao động
3.2.3.7. Giải pháp về hỗ trợ xuất khẩu đối với doanh nghiệp tư nhân
3.2.3.8. Cải tiến thủ tục hải quan

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Lý luận về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

Luận án tập trung phân tích địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân (DNTN) trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam. Tác giả đưa ra khái niệm về địa vị pháp lý, bao gồm vị trí, vai trò và bản chất pháp lý của DNTN. Luận án nhấn mạnh rằng DNTN là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế nhiều thành phần, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Tác giả cũng phân tích các yếu tố chi phối địa vị pháp lý của DNTN, bao gồm quy định pháp luật, chính sách kinh tế, và hệ thống pháp luật hiện hành.

1.1. Vai trò của DNTN trong nền kinh tế thị trường

DNTN đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm. Luận án chỉ ra rằng, từ khi Luật Doanh nghiệp tư nhân ra đời năm 1990, DNTN đã phát triển mạnh mẽ và đóng góp đáng kể vào GDP của Việt Nam. Tuy nhiên, DNTN vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh nghiệm và sự hỗ trợ từ chính sách doanh nghiệp. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo môi trường thuận lợi cho DNTN phát triển.

1.2. Khái niệm và nội hàm của địa vị pháp lý

Luận án định nghĩa địa vị pháp lý của DNTN là vị trí pháp lý mà DNTN được hưởng trong hệ thống pháp luật, bao gồm các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Tác giả phân tích các yếu tố cấu thành địa vị pháp lý, bao gồm quyền lợi doanh nghiệp, trách nhiệm pháp lý, và quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của DNTN. Luận án cũng chỉ ra sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật Việt Nam để phù hợp với thực tiễn phát triển của DNTN.

II. Thực trạng địa vị pháp lý của DNTN theo pháp luật hiện hành

Luận án đánh giá thực trạng địa vị pháp lý của DNTN theo pháp luật hiện hành, bao gồm các quy định về thành lập, hoạt động, và chấm dứt hoạt động của DNTN. Tác giả chỉ ra rằng, mặc dù Luật Doanh nghiệp đã tạo cơ sở pháp lý cho DNTN, nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong việc áp dụng các quy định này. Luận án cũng phân tích các quyền và nghĩa vụ của DNTN trong các lĩnh vực như tài chính, lao động, và xuất khẩu, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong việc thực thi các quy định này.

2.1. Quyền và nghĩa vụ của DNTN

Luận án phân tích các quyền và nghĩa vụ của DNTN theo pháp luật hiện hành, bao gồm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, và nghĩa vụ đóng thuế. Tác giả chỉ ra rằng, mặc dù DNTN được hưởng nhiều quyền lợi, nhưng việc thực thi các quyền này vẫn gặp nhiều khó khăn do sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Luận án cũng đề xuất các giải pháp để hoàn thiện các quy định này.

2.2. Quản lý nhà nước đối với DNTN

Luận án đánh giá vai trò của quản lý nhà nước đối với DNTN, bao gồm các quy định về đăng ký kinh doanh, quản lý thuế, và kiểm tra hoạt động. Tác giả chỉ ra rằng, mặc dù Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc hỗ trợ DNTN, nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong việc thực thi các chính sách này. Luận án đề xuất các giải pháp để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với DNTN.

III. Phương hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của DNTN

Luận án đề xuất các phương hướng và giải pháp để hoàn thiện địa vị pháp lý của DNTN, bao gồm việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường quản lý nhà nước, và hỗ trợ DNTN trong các lĩnh vực như vốn, thuế, và thị trường. Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải tạo môi trường pháp lý thuận lợi để DNTN có thể phát huy hết tiềm năng của mình.

3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật

Luận án đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến DNTN, bao gồm việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật khác. Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải tạo sự đồng bộ và minh bạch trong các quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của DNTN.

3.2. Hỗ trợ DNTN trong các lĩnh vực chính

Luận án đề xuất các giải pháp hỗ trợ DNTN trong các lĩnh vực như vốn, thuế, và thị trường. Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải tạo điều kiện thuận lợi cho DNTN tiếp cận các nguồn vốn, giảm bớt gánh nặng thuế, và mở rộng thị trường xuất khẩu. Luận án cũng đề xuất các giải pháp để cải thiện thủ tục hải quan và hỗ trợ DNTN trong việc tiếp cận thị trường quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Thực trạng về địa vị pháp lý của Đoanh nghiệp tư nhân theo pháp luật hiện hành. Chương này tác gia lập trung giải quyết các nội dung chính của địa vi pháp lý cha DNTN đó là: Quá trình phát triển của pháp luật về DNTN, các quyền và nghĩa vụ của DNTN theo Luật Doanh nghiệp và trong một số Tinh vực chủ yếu theo quy định pháp luật hiện hành. Chương TH: Phương hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân. Trong chương này tác gia nêu lên những đề xuất và kiến nghị đúc rút từ quá trình nghiên cứu đề tài nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý của DNTN.

Cuối cùng là phần kết luận. - CHƯƠNG NHŨNG VÂN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CUA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1. VAI TRO CUA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 1. Nền kinh tế thi trường và các loại hình chủ thể kinh doanh trong nên kinh tế thị trường Từ giữa những năm 80 của thế ky XX Dang và Nhà nước ta chủ trương chuyển đổi sang nên kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng Xã hội chủ nghĩa.

Đại hội Dang toàn quốc lần thứ VI (1986), đã xác dịnh những phương hướng, chủ trương, chính sách và các biện pháp nhằm phát triển các thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thi trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, trong đó “Muốn phát triển manh mẽ lực lượng san xuất, đi đôi với việc bố trí lại cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư theo ngành và theo vùng, phải xác định đúng cơ cấu thành phần kinh tế. chúng ta chủ trương: đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc đoanh, kinh tế tập thể, tang cường nguồn tích luỹ, tập trung của Nhà nước và nguồn vốn ngoài nước, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác”|13, tr. “Việc thực hiện các định hướng, chủ trương, chính sách và giải pháp này, chúng ta cần xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận đụng quan điểm của Lê - nin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”|13, tr. Nhất quán quan điểm này, Đại hội VII, VIH và các Nghĩ quyết gần đây của Đảng đã đề ra chủ trương phát triển kinh tế ngoài quốc đoanh, trong đó có các doanh nghiệp tu nhân, “thực hiện nhất quán, lâu đài chính sách phat trién của nền kinh tế nhiều thành phần.

Cải thiện đời sống của nhân dan làm mục Liêu đầu tiên, hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các ngành kinh té và hình thức tổ chức kinh doanh. Tao điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi dé các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm làm ăn lâu đài”| 13, tr. ” Mở rộng các hình Hiức kinh doanh, liên kết giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước ”[ 13, tr. Thực tiễn đổi mới kinh tế ở nước ta những năm qua cho thấy việc chuyển đổi từ nên kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế nhằm phát huy mọt tiểm lực trong đân cư để phát triển kinh tế xã hội là đúng đắn, nhưng cũng là những vấn dé mới mé và cực kỳ phức tạp.

Hiến pháp 1992 đã ghi nhận và phản ánh đường lối đổi mới kinh tế này của Dang. Điều 16 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 quy định; # phát huy mọi tiểm năng các thành phần kinh tế: kinh tế quốc đoanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức. Điều 21 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: “kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh đoanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh. Trên cơ sở Hiến pháp, trong hệ thống pháp luật kinh tế cũng cần phải có các qui định thích hợp cho các loại hình chủ thể kinh doanh.

Trở lại thời điểm đầu những năm 90, nhằm đáp ứng những yêu cầu đặt ra của nền kinh tế về việc tạo lập các hình thức pháp lý về các loại hình chủ thể kinh doanh, để cho các nhà đầu tư có thể lựa chọn hình thức thích hợp và đảm bảo an toàn pháp lý cho việc bỏ vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, lần đầu tiên Luật Công ty và Luật Đoanh nghiệp tu nhân được ban hành. Để quyết định đầu tư và tiến hành các hoạt động kinh doanh, ngoài việc quan tâm đến khả nang sinh lời trong hoạt động kinh doanh, các nhà đầu tư còn quan tâm đến sự an toàn pháp lý trong hoạt động kinh doanh, mà trước hết là loại hình tổ chức hoạt động kinh doanh được pháp luật ghi nhận và bao hộ sao cho phù hợp với: e Mức độ phức tạp và qui mô hoạt động kinh doanh dự định tiến hành; e Nhu cầu và khả nang về vốn cũng như huy động vốn; e Những yêu cầu về tổ chức quản lý các hoạt động kinh doanh ; e Mức độ hòa nhập hay hiệp tác với các chủ thể kinh doanh khác; e Những rủi ro có thể gap phải khi khởi sự và tiến hành các hoạt động kinh doanh. Nói một cách khác, họ cần được thừa nhận và trở thành một chủ thể kinh doanh hợp pháp dé tiến hành đầu tu các hoạt động kinh doanh, mà hiện tại ở nước ta dang được pháp luật điều chỉnh dưới những giác độ và tên gọi khác nhàm, Trước hết, khái niệm kinh doanh được hiểu theo qui định tại Điều 3 của Luật doanh nghiệp “Tà việc thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dich vu trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi". Theo định nghĩa này, sẽ được coi là hành vi kinh doanh, khi đồng thời đáp ứng các dấu hiệu sau : Thứ nhất: Hành vị đó mang tính chất nghề nghiệp.

Tính chất nghề nghiệp ở đây cần được hiểu là ở chỗ, chủ thể của hành vi đó khi tham gia thương trường, ho thực hiện nguyên tắc phân công lao động xã hội. Thú hai: Hành vi diễn ra trên thị trường được pháp luật thừa nhận và bảo hộ có nghĩa là thị trường hợp pháp. Thứ ba: Hành vi có mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Thứ tư: Hành vi đó phải là những hành vi thường xuyên.

Điều đó có nghĩa là những, hành vi được tiến hành cùng với và song song với thoi gian, được lập di lập lại. Mac dù không có định nghĩa pháp lý, song chúng tôi cho rang, chủ thể kinh doanh là những pháp nhân hay thể nhân thực hiện trên thực tế những hành vi kinh doanh. Ở day, cũng cần lưu ý rằng: theo qui định của pháp luật liện hành, cũng còn có sự khác biệt nhất định giữa hành vi kinh doanh và hành vi thương mai và do đó không có sự đồng nhất giữa chủ thể kinh doanh và thương nhân. Điều 5 của Luật Thương mai nước ta (được Quốc hội thông qua ngày 10/5/1997) quy định: "Hành vị thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm phát sinh quyền và nghia vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan” và “hoạt động thương mai là việc thực hiên một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dich vụ thương mai và các hoạt động xúc tiến thương mat nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội".

Trong khi đó, Điều 45 của Luật giải thích khái niệm hành vi thương mại bằng việc liệt kê !4 dang hoạt động. Vì thế, khái niệm hành vị thương mai theo Điều 5 của Luật thương mại có nội hàm chật hẹp hơn khái nệm kinh doanh theo Điều 3 của Luật doanh nghiệp. Cũng theo Điều 5 khoản 6 của Luật Thương mại thì "thương nhân gồm cá nhân, pháp nhan, tổ hợp tác, hộ gia đình có dang ký kinh doanh hoạt động thương mại mét cách độc lập, thường xuyên”. Như vậy sẽ có vấn đề thực tế đặt ra là, có những chủ thể kinh doanh thực hiện những hoạt động nằm ngoài sự liệt kê đó và những hành vi đó sẽ không được coi là hành vi thương mai.

Như vậy, khó có thể đồng nhất khái niệm thương nhân với khái niệm chủ thể kinh đoanh hiểu theo nghĩa hành vi kinh doanh. 2 Trong hệ thống pháp luật hiện hành và khoa bọc pháp lý, một khái niệm được sử dụng khá quen thuộc là doanh nghiệp. Theo Điều 3 của Luật doanh nghiệp “Doanh nghiệp là tô chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, dược đăng ký kinh doanh theo quy dinh của pháp luật nhằm mục dich thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy, theo định nghĩa pháp ly đó thì doanh nghiệp phải là những don vị tồn tại trước hết vì mục đích kinh doanh và là chủ thể kinh doanh.

Nhung, mặt khác, theo sự suy luận lô gich từ pháp luật hiện bành thì hiện nay, không phải tất cả các chủ thể kinh đoanh được thành lập "nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” đều được coi là doanh nghiệp. Điều này được suy ra từ nội dung của Pháp luật về phá sản doanh nghiệp ở nước 1a, mà theo đó ấn định đốt tượng áp dụng Luật phá sản doanh nghiệp là mot số có giới hạn về các chủ thể kinh doanh được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. D6 là; - Doanh nghiệp Nhà nước - Doanh nghiệp tư nhân - Doanh nghiệp tập thể - Công ty (bao gồm công ty trách nhiệm hữu han và công ty cổ phần) - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) - Đoanh nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội. Như vậy, còn có một loạt chủ thể kinh doanh hợp pháp ( như hộ gia đình, tổ hợp tác, nhóm kinh doanh.) không được Luat phá sản doanh nghiệp coi là doanh nghiệp.

Từ đó, các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước (DNNN), Doanh nghiệp tư nhân (DNTN), Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty liên doanh, Hợp tác xã , Cá nhân và nhóm kinh doanh và trong chừng mực nhất định là các tổ hợp tác và hộ gia đình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ luật học: Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về vị thế pháp lý của các doanh nghiệp tư nhân trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tài liệu này phân tích các quy định pháp lý hiện hành, đánh giá thực trạng áp dụng, và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân, cũng như những thách thức pháp lý mà họ phải đối mặt trong quá trình hoạt động.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ chế định kết hôn trong luật hôn nhân và gia đình vấn đề lý luận và thực tiễn, nghiên cứu về các quy định pháp lý trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm quy định bắt buộc về hình thức và thực tiễn áp dụng tại thành phố hà nội cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu lực của các giao dịch dân sự. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học thẩm quyền dân sự của toà án nhân dân theo cấp và lãnh thổ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự tại Việt Nam.