Luận án tiến sĩ: Giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo ĐBSCL - Võ Thị Yên Hà

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích các giải pháp tài chính toàn diện nhằm hỗ trợ và thúc đẩy ngành xuất khẩu gạo của vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển bền

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ
202
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất cả nước, đóng vai trò chủ chốt trong an ninh lương thực và kim ngạch xuất khẩu gạo quốc gia. Giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo bao gồm hệ thống các chính sách, công cụ của Nhà nước nhằm huy động, phân phối và sử dụng hiệu quả nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất, chế biến và tiêu thụ gạo. Các công cụ chính sách tài chính chủ yếu bao gồm chi ngân sách nhà nước (NSNN), chính sách tín dụng ưu đãi, thuế, bảo hiểm và tỷ giá. Mục tiêu của các giải pháp này là tạo lập nguồn tài chính vững chắc, định hướng hoạt động xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và các cam kết WTO, việc xây dựng các giải pháp tài chính phù hợp, tuân thủ quy định quốc tế nhưng vẫn phát huy nội lực là nhiệm vụ cấp thiết. Nghiên cứu này tập trung phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp tài chính hiệu quả nhằm thúc đẩy xuất khẩu gạo vùng ĐBSCL phát triển bền vững.

1.1. Vị trí và vai trò của xuất khẩu gạo trong kinh tế ĐBSCL

ĐBSCL chiếm hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, là ngành kinh tế mũi nhọn của vùng. Xuất khẩu gạo không chỉ mang lại nguồn ngoại tệ lớn mà còn tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu nông dân. Ngành gạo tác động sâu rộng đến hệ thống hạ tầng, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ logistics trong khu vực. Sự phát triển của xuất khẩu gạo gắn liền với ổn định kinh tế - xã hội và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Do đó, hỗ trợ tài chính cho ngành này là đầu tư cho sự phát triển bền vững của cả vùng.

1.2. Các công cụ tài chính chính sách hỗ trợ xuất khẩu gạo

Các công cụ tài chính chính sách bao gồm chi NSNN cho đầu tư hạ tầng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chính sách tín dụng ưu đãi, đặc biệt là cho vay tạm trữ gạo, giúp doanh nghiệp ổn định nguồn cung và giá cả. Công cụ thuế và phí được điều tiết để khuyến khích sản xuất và xuất khẩu. Chính sách tỷ giá hối đoái cũng tác động đến giá trị xuất khẩu. Ngoài ra, bảo hiểm nông nghiệp và hỗ trợ thị trường là các công cụ quan trọng giúp giảm thiểu rủi ro cho nông dân và doanh nghiệp. Sự phối hợp đồng bộ giữa các công cụ này tạo nên hệ thống hỗ trợ tài chính toàn diện.

II. Phân tích thực trạng giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo ĐBSCL

Thực trạng các giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo ĐBSCL thời gian qua cho thấy cả kết quả đạt được và những hạn chế cần khắc phục. Chi NSNN đã góp phần cải thiện hạ tầng giao thông, thủy lợi và hệ thống kho chứa, nhưng nguồn lực còn phân tán và hiệu quả đầu tư chưa đồng đều. Chính sách tín dụng cho vay tạm trữ gạo đã phát huy tác dụng trong việc bình ổn giá và thu mua, song vẫn còn nhiều nông dân và doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận vốn. Hệ thống thu mua và xuất khẩu gạo ở ĐBSCL vẫn tồn tại nhiều khâu trung gian, làm giảm lợi nhuận của người sản xuất. Chất lượng gạo xuất khẩu đang dần được cải thiện nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, giá xuất khẩu thường thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan. Phân tích chuỗi giá trị cho thấy sự chênh lệch đáng kể trong phân bổ lợi ích giữa các thành phần tham gia.

2.1. Thực trạng chi ngân sách nhà nước cho xuất khẩu gạo

Chi NSNN cho xuất khẩu gạo ĐBSCL tập trung vào ba lĩnh vực chính: quy hoạch xây dựng vùng sản xuất gạo hàng hóa, đầu tư hạ tầng nông nghiệp nông thôn, và nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ. Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư còn dàn trải, chưa tập trung vào các dự án trọng điểm có sức lan tỏa lớn. Hiệu quả sử dụng vốn chưa cao do thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ và đánh giá tác động. Sự phối hợp giữa trung ương và địa phương trong phân bổ và giải ngân vốn đôi khi chưa nhịp nhàng, gây chậm trễ trong triển khai dự án. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ hiện đại hóa hạ tầng phục vụ sản xuất và xuất khẩu gạo.

2.2. Tình hình tín dụng cho vay tạm trữ gạo xuất khẩu

Chính sách tín dụng cho vay tạm trữ gạo đã hỗ trợ doanh nghiệp và thương lái trong việc thu mua, dự trữ gạo, giúp bình ổn thị trường và giá cả. Tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn còn nhiều rào cản đối với nông dân và cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ. Thủ tục vay vốn đôi khi phức tạp, yêu cầu tài sản thế chấp cao. Lãi suất ưu đãi tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa thực sự hấp dẫn để khuyến khích đầu tư dài hạn vào nâng cao chất lượng gạo. Sự biến động của thị trường thế giới cũng ảnh hưởng đến khả năng hoàn vốn của doanh nghiệp, tiềm ẩn rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Do đó, cần hoàn thiện cơ chế tín dụng để hỗ trợ hiệu quả hơn.

III. Giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo ĐBSCL

Để nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo ĐBSCL, cần triển khai đồng bộ các giải pháp tài chính trên nhiều phương diện. Trước hết, hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi với lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản và tiếp cận dễ dàng hơn cho mọi thành phần trong chuỗi giá trị. Tăng cường đầu tư công có trọng tâm, trọng điểm vào các dự án hạ tầng chiến lược như cảng sông, hệ thống logistics hiện đại và vùng nguyên liệu tập trung. Đa dạng hóa nguồn vốn hỗ trợ thông qua hợp tác công tư (PPP), quỹ phát triển nông nghiệp và thu hút đầu tư nước ngoài. Nghiên cứu áp dụng các công cụ tài chính mới như bảo hiểm giá nông sản, hợp đồng tương lai để giảm thiểu rủi ro. Song song đó, cần tăng cường đào tạo nâng cao năng lực tài chính cho nông dân và doanh nghiệp, giúp họ chủ động trong kinh doanh xuất khẩu.

3.1. Hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi cho ngành gạo

Giải pháp then chốt là xây dựng gói tín dụng ưu đãi dành riêng cho chuỗi giá trị gạo xuất khẩu. Gói tín dụng này cần có lãi suất cạnh tranh, thời hạn vay phù hợp với chu kỳ sản xuất và kinh doanh gạo. Đơn giản hóa thủ tục hành chính và giảm yêu cầu tài sản thế chấp, đặc biệt áp dụng cho nông dân và hợp tác xã. Ngân hàng Nhà nước cần có cơ chế tái chiết khấu đặc biệt cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay lĩnh vực này. Đồng thời, phát triển các sản phẩm tín dụng linh hoạt như cho vay theo chuỗi liên kết, vay theo dự án cụ thể nhằm tăng cường sự gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ.

3.2. Tăng cường đầu tư công và hỗ trợ tài chính trực tiếp

Đầu tư công cần tập trung vào các dự án có tác động lan tỏa lớn đối với ngành gạo. Ưu tiên xây dựng và nâng cấp hệ thống giao thông thủy bộ liên vùng, kho chứa và cơ sở chế biến hiện đại tại các vùng trọng điểm ĐBSCL. Tăng cường kinh phí cho nghiên cứu, chọn tạo giống lúa chất lượng cao, kháng sâu bệnh và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển thị trường, xúc tiến thương mại gạo quốc tế. Hỗ trợ tài chính trực tiếp cho nông dân áp dụng quy trình sản xuất bền vững (VietGAP, GlobalGAP) nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Các chính sách này cần được triển khai minh bạch, có giám sát đánh giá hiệu quả rõ ràng.

IV. Kết luận và ứng dụng giải pháp tài chính cho xuất khẩu gạo ĐBSCL

Nghiên cứu đã phân tích toàn diện thực trạng và đề xuất các giải pháp tài chính nhằm hỗ trợ hiệu quả hoạt động xuất khẩu gạo tại đồng bằng sông Cửu Long. Kết luận chính cho thấy, hệ thống chính sách tài chính hiện hành đã có những đóng góp tích cực nhưng vẫn còn nhiều bất cập về cơ chế, nguồn lực và hiệu quả thực thi. Các giải pháp đề xuất tập trung vào hoàn thiện tín dụng ưu đãi, tối ưu hóa đầu tư công, đa dạng hóa nguồn vốn và ứng dụng công cụ tài chính hiện đại. Ý nghĩa lý luận của luận án nằm ở việc hệ thống hóa cơ sở khoa học về vai trò của tài chính trong phát triển ngành gạo xuất khẩu. Về thực tiễn, các khuyến nghị chính sách được xây dựng sát với điều kiện thực tế, nhằm hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững ngành gạo ĐBSCL trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận, luận án đóng góp vào kho tàng kiến thức về tài chính công và chính sách nông nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế và hội nhập. Nghiên cứu đã hệ thống hóa các lý thuyết về vai trò của tài chính nhà nước, tín dụng ưu đãi và các công cụ hỗ trợ trong phát triển ngành hàng xuất khẩu chủ lực. Về thực tiễn, luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm về hiệu quả của các chính sách tài chính đã triển khai tại ĐBSCL. Các số liệu phân tích và đánh giá giúp các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý và doanh nghiệp có cơ sở khoa học để ra quyết định. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các vùng sản xuất nông sản xuất khẩu khác trên cả nước.

4.2. Khuyến nghị chính sách tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo

Khuyến nghị thứ nhất, Chính phủ cần ban hành chương trình tín dụng ưu đãi riêng cho ngành gạo với cơ chế linh hoạt, phù hợp thực tế sản xuất kinh doanh. Thứ hai, tăng cường phân bổ ngân sách đầu tư có trọng tâm vào hạ tầng logistics, chế biến sâu và nghiên cứu giống lúa chất lượng cao. Thứ ba, xây dựng và vận hành quỹ bảo hiểm giá nông sản để giảm thiểu rủi ro cho nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu. Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư tư nhân và nước ngoài vào chuỗi giá trị gạo. Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm từ các nước xuất khẩu gạo hàng đầu như Thái Lan và Ấn Độ trong việc xây dựng hệ thống hỗ trợ tài chính hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo của đồng bằng sông cửu long

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 XUẤT KHẨU GẠO VÀ TÀI CHÍNH VỚI VIỆC HỖ TRỢ XUẤT KHẨU GẠO 1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ XUẤT KHẨU GẠO 1.1 Đặc điểm của thị trường xuất khẩu gạo Kể từ khi xuất hiện tiền tệ, thị trường thường được hiểu là nơi diễn ra sự mua, bán hàng hóa (bao gồm hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình – dịch vụ). Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, giao dịch mua bán hàng hóa có thể diễn ra mà không cần gắn với một địa điểm địa lý nào. Người ta có thể tiến hành các thỏa thuận về mua bán hàng hóa với nhau qua điện thoại, fax hay thư điện tử mà không cần gặp nhau tại một nơi chốn cụ thể. Hàng hóa có thể được vận chuyển từ nơi này đến nơi khác mà không cần lấy một địa điểm nào làm trung gian; hay như trên những thị trường kỳ hạn, những thỏa thuận về hàng hóa và luồng vận động của tiền tệ có thể độc lập với luồng vận động của hàng hóa.

Như thế, nói đến thị trường là nói đến nội dung kinh tế mà nó biểu thị chứ không phải hình dung nó như một nơi mà những nội dung này xảy ra. Phạm vi địa lý là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho chúng ta xác định thị trường mang tính chất địa phương, vùng, quốc gia hay quốc tế. Phần lớn thị trường nông sản trong các nước đang phát triển thông qua các quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán, định ra cho thị trường một vị trí địa lý cụ thể. Trên thị trường, giá cả hàng hoá giao dịch được xác định thông qua quan hệ cung cầu.

Nền kinh tế thị trường luôn tồn tại sự cạnh tranh của các nhà sản xuất, dựa vào hình thái, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền. Cũng như mọi thị trường hàng hoá khác, thị trường gạo hàng hoá cũng là nơi cung và cầu về gạo hàng hoá gặp nhau, là nơi hình thành nên giá cả của gạo hàng hoá. Đối với thị trường gạo xuất khẩu là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, giá cả thị trường bị ảnh hưởng bởi những nước xuất khẩu lớn, thường xuyên. Tuy nhiên, bên 8 cạnh những điểm chung giống như thị trường các loại hàng hóa khác, thị trường gạo chịu ảnh hưởng trực tiếp của đặc điểm sản xuất và tiêu dùng gạo.

Về sản xuất: Do sản xuất gạo mang tính thời vụ và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng vùng miền nên lượng cung về gạo phụ thuộc rất lớn vào thời vụ thu hoạch. Vào thời vụ thu hoạch, ở những vùng sản xuất gạo tập trung quy mô lớn như ở đồng bằng sông Cửu Long lượng lúa có thể tăng lên nhanh chóng (có thể từ 15 triệu tấn trở lên). Vì vậy, theo quy luật cung cầu giá lúa thường xuống thấp vào vụ thu hoạch. Đây là đặc điểm rất quan trọng của thị trường gạo đòi hỏi Nhà nước cần có những chính sách và giải pháp thích hợp để vừa đẩy mạnh xuất khẩu gạo, vừa bảo vệ được lợi ích của người nông dân trồng lúa.

Như vậy, về nguồn cung gạo phụ thuộc rất lớn vào thời vụ thu hoạch, nhưng nhu cầu tiêu dùng lại quanh năm nên để hoạt động xuất khẩu gạo chủ động nguồn hàng và đảm bảo chất lượng gạo thì các công đoạn như chế biến, bảo quản gạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động xuất khẩu gạo. Đặc điểm này đặt ra cho mỗi quốc gia cũng như từng địa phương có lợi thế về sản xuất gạo lớn quan tâm đầu tư không chỉ tăng năng suất, chất lượng gạo mà còn phải quan tâm đến đầu tư phát triển công nghệ chế biến và bảo quản gạo. Về tiêu dùng: gạo là mặt hàng tiêu dùng không thể thiếu đối với cuộc sống của người dân, người trồng lúa đồng thời là người tiêu dùng lúa do họ sản xuất ra. Hiện nay ở nước ta hầu hết các hộ gia đình nông dân ở các vùng miền khác nhau, kể cả vùng sản xuất gạo phân tán họ vẫn quan tâm đến việc sản xuất một lượng lương thực để tự cấp tự túc.

Là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu nhưng trong xu hướng phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu tiêu dùng gạo của mỗi người dân có xu hướng giảm xuống. Vì vậy, ngay trong điều kiện được mùa thì nhu cầu tiêu dùng của mỗi người dân cũng không vì thế mà tăng theo. Tính đặc thù về nhu cầu tiêu dùng gạo của người dân trong nước cũng như thế giới đang có xu hướng chuyển nhanh sang tiêu dùng các loại gạo chất lượng cao, các loại gạo đặc sản. Như vậy, xu hướng tiêu dùng gạo (cầu về gạo) đang có sự thay đổi từ lượng sang chất.

Đặc điểm về cầu gạo đòi hỏi các chính phủ, nhất là những nước có truyền thống và nhiều lợi thế về sản xuất gạo như nước ta cần có chiến lược phát triển sản xuất gạo phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân 9 trong nước cũng như các nước trên thế giới mới có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu gạo đạt hiệu quả cao. Thị trường tiêu thụ gạo có thể được phân thành nhiều thị trường khác nhau, tuỳ thuộc vào tiêu chí lựa chọn và mục đích nghiên cứu. Để phục vụ mục tiêu nghiên cứu, chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu thị trường gạo chủ yếu là thị trường xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu gạo: là nơi diễn ra các giao dịch gạo hàng hoá đáp ứng nhu cầu ngoài nước.

Thị trường gạo thế giới (xuất khẩu) diễn ra chủ yếu ở châu Á, châu Phi và Mỹ La Tinh. Số lượng gạo nhập khẩu thường xuyên phân tán ra nhiều nước, hầu như không có nước nào hàng năm nhập khẩu đều đặn lượng gạo lớn. Do đó, cũng không có nước nhập khẩu cá biệt nào giữ vị trí áp đảo chi phối biến động cung cầu, giá cả trên thị trường thế giới. Mặt khác, đội ngũ các nước nhập khẩu gạo cũng không cố định qua các giai đoạn.

Lượng gạo nhập khẩu của toàn thế giới cũng như của từng nước thường xuyên biến động và mang tính thời vụ rõ rệt. Do kết quả thu hoạch mùa màng chi phối, có nước năm này nhập khẩu nhiều nhưng năm khác lại không nhập do thu hoạch trong nước tăng lên. Ở thị trường gạo thế giới, nhiều nước nghèo, nhất là Châu Phi, có nhu cầu tiêu dùng gạo rất lớn (còn hàng triệu người thiếu đói), nhưng nhập khẩu rất ít vì những khó khăn tài chính. Trong thị trường xuất khẩu, các khu vực, quốc gia khác nhau trên thế giới có nhu cầu tiêu dùng, điều kiện giao dịch khác nhau… Việc nắm bắt nhu cầu, điều kiện giao dịch trong từng khu vực, từng quốc gia rất quan trọng đối với chiến lược sản xuất trong nước.

Để nghiên cứu khả năng xuất khẩu trên thị trường gạo, chúng ta phải nghiên cứu năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Chính sự phân công lao động xã hội đã mở rộng trên phạm vi toàn thế giới, tự do thương mại quốc tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất, vận tải … đã hình 10 thành mạng lưới sản xuất và tiêu thụ toàn cầu. Ở góc độ toàn cầu, mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp là một giá trị, các giá trị này hợp lại với nhau sẽ tạo thành chuỗi giá trị toàn cầu. Có nhiều cách diễn tả chuỗi giá trị và tùy từng sản phẩm, dịch vụ, chuỗi giá trị có thể có cấu tạo và quy mô khác nhau.

Tuy nhiên, ở dạng khái quát và đơn giản nhất, chuỗi giá trị gồm các khâu liên tiếp sau: Nghiên cứu và phát triển; Thiết kế sản phẩm, dịch vụ; Sản xuất; Marketing và bán hàng; Phân phối; Dịch vụ khách hàng. Trong đó, giá trị gia tăng được tạo ra nhiều nhất là khâu: Nghiên cứu và phát triển; Marketing và bán hàng, còn khâu sản xuất có giá trị gia tăng là thấp nhất. Trong xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại, các nước đang tận dụng cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu vào những khâu tạo ra nhiều giá trị nhất. Các yếu tố cấu thành nên năng lực tham gia của gạo vào chuỗi giá trị toàn cầu bao gồm cả yếu tố trong chuỗi và ngoài chuỗi như: - Các yếu tố trong chuỗi: hộ nông dân, nhà chế biến, nhà phân phối, các công ty quảng cáo, … - Các yếu tố ngoài chuỗi: hệ thống luật pháp trong nước và quốc tế, các chính sách của chính phủ, hạ tầng cơ sở, đất đai, công nghệ,… Năng lực của các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thể hiện khả năng điều chỉnh linh hoạt các yếu tố đầu vào (giống, đất đai, lao động,…), các yếu tố đầu ra (chất lượng sản phẩm,…) cũng như mô hình tổ chức, quản lý để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Để đẩy mạnh khả năng xuất khẩu gạo hay nâng cao năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu để có thể tiêu thụ được nhanh, nhiều và lợi ích mang lại là tốt nhất chúng ta phải nghiên cứu những biến động của thị trường cũng như các nhân tố tác động đến nó để có những giải pháp thích hợp. Nhân tố ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu gạo Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu gạo trong đó nổi bật nhất là các nhân tố sau đây: Sự phát triển của dân số: Có thể nói đây là nhân tố quan trọng nhất, tác động mạnh nhất đến nhu cầu xuất khẩu gạo. Bởi vì con người sinh ra trước hết phải ăn để 11 tồn tại, sau đó mới có thể thực hiện các việc khác được. Do dân số tăng nhanh nên nhu cầu về lương thực (kể cả gạo) cũng tăng lên rất nhanh.

Sự thay đổi trong tập quán tiêu dùng lương thực: đối với việc tiêu dùng lương thực, ngoài việc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng về mặt vật chất, còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố văn hoá như quy định trong lễ giáo, thói quen tiêu dùng của các dân tộc. Cùng với sự phát triển của kinh tế, đặc biệt là phát triển của giao lưu kinh tế giữa các nước trong khu vực, tập quán tiêu dùng lương thực của con người cũng có những biến đổi hết sức sâu sắc. Các nước ở vùng ôn đới, người dân theo truyền thống chỉ dùng lúa mỳ làm lương thực, nhưng do tiếp xúc với nền văn minh Châu Á, họ cũng dần dần biết ăn và thích gạo ngày càng tăng. Ở Châu Mỹ, Châu Phi cũng có sự thay đổi tương tự, họ cũng biết ăn gạo và dùng gạo làm lương thực thay thế cho các loại lương thực khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ