Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Giao dịch dân sự có điều kiện theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phùng Bích Ngọc, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phùng Trung Tập, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2021 (chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, mã số: 9 38 01 03).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong hệ thống pháp luật dân sự, giao dịch dân sự là một chế định xuất hiện từ sớm và giữ vai trò trung tâm trong việc điều chỉnh các quan hệ tài sản, nhân thân. Chế định giao dịch dân sự có điều kiện đóng vai trò thiết yếu trong việc tạo khuôn khổ pháp lý linh hoạt cho các chủ thể xác lập quyền và nghĩa vụ gắn liền với những biến cố thực tế của nền kinh tế thị trường. Mặc dù Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã tiếp tục kế thừa chế định này, các quy định hiện hành vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập và tranh cãi:
- Khái niệm giao dịch dân sự có điều kiện trong luật thực định chưa được làm rõ, dẫn đến sự thiếu tính logic và mâu thuẫn với các quy phạm khác có sử dụng thuật ngữ "điều kiện" (như điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, thực hiện nghĩa vụ có điều kiện, hợp đồng có điều kiện, tặng cho có điều kiện).
- Quy định hiện hành chưa thiết lập cơ chế bảo vệ thỏa đáng quyền lợi của bên yếu thế khi giao dịch dân sự có điều kiện bị hủy bỏ hoặc bị tuyên bố vô hiệu.
- Thực tiễn xét xử tại Tòa án cho thấy sự lúng túng của cơ quan tư pháp trong việc nhận định, phân loại giao dịch; có tình trạng nhầm lẫn giữa việc thực hiện nghĩa vụ có điều kiện hoặc thực hiện hợp đồng có điều kiện với giao dịch dân sự có điều kiện; nhầm lẫn giữa việc giao nghĩa vụ cho người hưởng di sản với di chúc có điều kiện. Mặc dù Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Án lệ số 39/2020/AL liên quan đến giao dịch dân sự có điều kiện, nhiều khía cạnh pháp lý phức tạp vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là hệ thống hóa các vấn đề lý luận về giao dịch dân sự có điều kiện trong BLDS năm 2015, cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá tính hợp lý và bất hợp lý của các quy định pháp luật thực định, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp luật dân sự tại Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về giao dịch dân sự có điều kiện (khái niệm, đặc điểm, phân loại, điều kiện có hiệu lực và hậu quả pháp lý).
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về giao dịch dân sự có điều kiện trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về giao dịch dân sự có điều kiện thông qua các bản án, quyết định của Tòa án, từ đó xây dựng các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm lý luận, học thuyết pháp lý về giao dịch dân sự nói chung và giao dịch dân sự có điều kiện nói riêng; hệ thống quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam và một số quốc gia; thực tiễn xét xử, áp dụng pháp luật của Tòa án tại Việt Nam; cùng các định hướng, giải pháp hoàn thiện khung pháp luật.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào các yếu tố lý thuyết (khái niệm, đặc điểm, phân loại, hiệu lực, tiêu chuẩn xác định sự kiện là điều kiện) và thực tiễn (các quy định chung, quy định riêng về hợp đồng, di chúc, hứa thưởng có điều kiện; thực trạng xét xử và bất cập).
- Về không gian: Trọng tâm là pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, kết hợp khảo cứu, so sánh với pháp luật của các nước như Pháp, Đức, Nhật Bản, Nga, Thái Lan, Trung Quốc.
- Về thời gian: Tập trung vào các quy định của BLDS năm 2015 và các bản án thực tiễn trong giai đoạn áp dụng BLDS năm 2005 đến BLDS năm 2015; khi cần thiết có đối chiếu các quy định pháp luật lịch sử đã hết hiệu lực để đánh giá quá trình phát triển lập pháp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã thực hiện rà soát có hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài
- Công trình của Arthur L. Corbin (1919), "Conditions in the Law of Contract": Đi sâu phân tích thuật ngữ "điều kiện" trong luật hợp đồng và luật tài sản, phân biệt điều kiện với các điều khoản thông thường ("term", "provision", "clause"). Corbin phân chia điều kiện thành ba loại: điều kiện tiên quyết (condition precedent), điều kiện giải quyết/sau đó (condition subsequent) và điều kiện đồng thời (concurrent condition).
- Bài viết của Ollie C. Reeves (1926), "Conditional Sale Contracts in Indiana": Phân tích dạng hợp đồng mua bán tài sản có điều kiện tại bang Indiana, tập trung vào quyền và nghĩa vụ của bên mua và bên bán.
- Công trình của O.N. Sadikov (1988), "Soviet Civil Law": Tiếp cận giao dịch có điều kiện là giao dịch đặc biệt, trong đó quyền và nghĩa vụ của các bên phụ thuộc vào sự kiện tự nhiên hoặc sự kiện xã hội có thể xảy ra hoặc không xảy ra (gồm điều kiện trì hoãn và điều kiện hủy bỏ).
- Công trình của Vladimir Orlov (2011), "Introduction to Business Law in Russia": Phân tích Điều 157 BLDS Nga, xác định hợp đồng có điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ phụ thuộc vào sự kiện hoặc hành vi của các bên hoặc của người thứ ba, trong đó sự kiện phải là điều chưa biết trước tại thời điểm xác lập.
- Bài báo của K-L Liew (1995), "Conditional contracts and caveatable interests: a mutual exclusion?": Nghiên cứu các điều kiện tiên quyết trong hợp đồng mua bán đất đai phụ thuộc vào sự phê duyệt của cơ quan quy hoạch hoặc bên thứ ba tại New South Wales và Tây Úc.
- Công trình của Charles Fried (2015), "Contract as promise, a theory of contractual obligation": Tiếp cận hợp đồng có điều kiện dưới góc độ lý thuyết lời hứa ràng buộc.
- Bài viết của Gwilym J. Davies (2015), "Conditional contracts for the sale of land in Canada": Nghiên cứu việc áp dụng các điều kiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bất động sản.
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Sách chuyên khảo và giáo trình:
- Cuốn "Pháp luật về hợp đồng" của TS. Nguyễn Mạnh Bách (1995) phân tích đặc tính biến cố và tính hiện hữu của điều kiện, phân chia thành điều kiện đình chỉ và điều kiện hủy bỏ.
- Sách dịch "Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản" của Ztaca Vacaxum và Tori Aritdumi (1995) luận giải bản chất giao dịch pháp lý phụ thuộc vào sự kiện tương lai.
- Hai công trình của PGS. Đỗ Văn Đại: "Luật thừa kế Việt Nam bản án và bình luận bản án" (2009) chỉ ra sự bất cập khi BLDS chưa chính thức định danh di chúc có điều kiện dù Điều 653 BLDS 2005 có quy định về điều kiện hưởng di sản; và "Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án" (2010) phân tích các bản án thực tế về hợp đồng có điều kiện phát sinh, thực hiện và hủy bỏ.
- Giáo trình "Luật hợp đồng" của PGS. Ngô Huy Cương (2013) đề xuất sử dụng thuật ngữ "giao dịch có điều kiện" thay cho "giao dịch dân sự có điều kiện".
- Sách "Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự" của TS. Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên, 2016) và "Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2015" của PGS. Nguyễn Văn Cừ và PGS.TS. Trần Thị Huệ (đồng chủ biên, 2017) phân tích tính khách quan của sự kiện tương lai làm điều kiện giao dịch.
- Bài viết tạp chí và luận văn, luận án:
- Các bài viết của TS. Phạm Công Lạc (1995) trên Tạp chí Luật học (số 01 và 02/1995) chỉ ra rằng định nghĩa hiện hành bỏ sót hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện và đề xuất mở rộng khái niệm.
- Bài báo của PGS.TS. Phùng Trung Tập (2008) trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật đề xuất bổ sung quy định về di chúc có điều kiện.
- Các nghiên cứu của Nguyễn Như Bích (2011) trên Tạp chí Tòa án nhân dân làm rõ hiệu lực của hợp đồng có điều kiện gắn liền với tính hợp pháp của sự kiện là điều kiện.
- Bài viết của TS. Phạm Văn Tuyết (2011) trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về tính khách quan của biến cố.
- Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thu Quỳnh (2011) về hợp đồng dân sự có điều kiện; luận văn của Xaysavhan Pengboubpha (2012) về thừa kế di chúc theo pháp luật Lào (đối chiếu nguyên tắc Semel heres, semper heres); luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Loan (2019) về điều kiện có hiệu lực của di chúc.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Qua tổng quan tài liệu, luận án nhận diện các khoảng trống sau:
- Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận điều kiện dưới góc độ hợp đồng hoặc giải quyết các vấn đề thừa kế đơn lẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về chế định giao dịch dân sự có điều kiện dưới góc độ lý luận và thực tiễn lập pháp tại Việt Nam.
- Thiếu khung tiêu chí pháp lý cụ thể để xác định thế nào là một "sự kiện là điều kiện" hợp pháp nhằm phân biệt rõ ràng với các điều khoản nghĩa vụ thông thường.
- Chưa làm rõ các hệ quả pháp lý đặc thù và cơ chế bảo vệ quyền lợi cho bên yếu thế khi điều kiện bị tác động trái pháp luật, hoặc khi giao dịch có điều kiện bị tuyên bố vô hiệu, bị hủy bỏ.
- Chưa giải quyết dứt điểm các xung đột, nhầm lẫn mang tính hệ thống trong thực tiễn xét xử giữa giao dịch dân sự có điều kiện với việc thực hiện nghĩa vụ có điều kiện và việc giao nghĩa vụ trong di chúc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng hai học thuyết pháp lý nền tảng để xây dựng khung phân tích:
- Học thuyết về tự do ý chí (Autonomy of Will): Luận giải quyền tự do xác lập giao dịch của các chủ thể. Giao dịch dân sự có điều kiện là sự biểu đạt cao nhất của ý chí tự do, cho phép các bên tự đặt ra các biến cố tương lai để quyết định việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mà không bị cơ quan công quyền can thiệp trái pháp luật.
- Học thuyết về sự dung hòa giữa tự do ý chí và lợi ích xã hội: Luận giải giới hạn của sự tự do ý chí. Ý chí của các bên khi đặt ra điều kiện không được tuyệt đối hóa mà phải chịu sự ràng buộc bởi trật tự công cộng, đạo đức xã hội và không được xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bên yếu thế trong quan hệ dân sự.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn liền với quan điểm, đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai theo từng chương:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để bóc tách các khái niệm pháp lý, nhận định của các học giả và xây dựng hệ thống luận điểm.
- Phương pháp phân tích lịch sử: Khảo lược sự hình thành và biến chuyển của các quy phạm điều chỉnh giao dịch có điều kiện qua các thời kỳ lập pháp dân sự Việt Nam.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định của BLDS năm 2015 với pháp luật dân sự của các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law và Common Law (Pháp, Đức, Nhật Bản, Nga, Thái Lan...) nhằm tìm kiếm kinh nghiệm lập pháp phù hợp.
- Phương pháp nghiên cứu bản án (phân tích án lệ và thực tiễn xét xử): Đánh giá trực tiếp các bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân các cấp nhằm phát hiện các sai sót, nhầm lẫn trong áp dụng luật thực định.
- Phương pháp quy nạp, diễn dịch: Rút ra các kết luận lý luận và định hình giải pháp lập pháp từ dữ liệu thực tiễn và văn bản luật.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: BLDS năm 2015, BLDS năm 2005, BLDS năm 1995 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan.
- Án lệ và các quyết định xét xử: Án lệ số 39/2020/AL; các Quyết định giám đốc thẩm của TANDTC (Quyết định số 403/2011/DS-GĐT, 192/2006/DS-GĐT, 26/2007/DS-GĐT, 03/2014/DS-GĐT); các Quyết định của TAND cấp cao (Quyết định số 13/2016/DS-GĐT tại TP.HCM, Quyết định số 45/2016/DS-GĐT tại Đà Nẵng); các Bản án sơ thẩm/phúc thẩm (Bản án số 06/2015/KDTM-ST của TAND Quận 5, Bản án số 204/2012/DS-ST của TAND TP.HCM, Bản án số 42/2010/DS-ST của TAND huyện Châu Thành - Long An, Bản án số 109/2007/DS-ST của TAND thị xã Châu Đốc - An Giang).
- Tài liệu học thuật: Sách chuyên khảo, giáo trình, bài báo khoa học trong nước và các ấn phẩm quốc tế bằng tiếng Anh và tiếng Nga.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao dịch dân sự có điều kiện
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận cho toàn bộ luận án, bao gồm các nội dung chính:
- Khái niệm và đặc điểm: Luận án làm rõ giao dịch dân sự là hành vi pháp lý mang tính ý chí nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra giao dịch dân sự có điều kiện mang đầy đủ các đặc trưng của giao dịch dân sự nói chung, đồng thời sở hữu các đặc điểm đặc thù:
- Hiệu lực của giao dịch hoặc quyền, nghĩa vụ của các bên bị phụ thuộc vào một sự kiện khách quan trong tương lai.
- Sự kiện được chọn làm điều kiện là sự kiện chưa chắc chắn xảy ra (mang tính dự liệu, ngẫu nhiên).
- Sự kiện là điều kiện phải hợp pháp, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
- Tiêu chí của điều kiện: Luận án phân tích sự khác nhau giữa điều kiện có hiệu lực chung của giao dịch dân sự (quy định tại Điều 117 BLDS 2015) và "sự kiện là điều kiện" do các bên thỏa thuận hoặc ấn định. Sự kiện làm điều kiện có thể là hiện tượng tự nhiên hoặc hành vi của con người nhưng phải thuộc về tương lai tại thời điểm giao kết.
- Phân loại giao dịch dân sự có điều kiện: Phân loại theo chiều hướng tác động của điều kiện gồm giao dịch có điều kiện phát sinh (điều kiện đình chỉ) và giao dịch có điều kiện hủy bỏ (điều kiện chấm dứt); phân loại theo tính chất phụ thuộc của điều kiện (điều kiện ngẫu nhiên, điều kiện phụ thuộc ý chí một bên, điều kiện hỗn hợp).
- Lịch sử quy định và hiệu lực pháp lý: Điểm lại quá trình ghi nhận chế định từ các sắc lệnh thời kỳ trước đến BLDS 1995, 2005 và 2015. Luận giải điều kiện có hiệu lực và hậu quả pháp lý khi điều kiện xảy ra, không xảy ra hoặc bị tác động cố ý cản trở, thúc đẩy; giải quyết mối quan hệ giữa việc hủy bỏ giao dịch với việc bảo vệ quyền lợi bên thứ ba ngay tình.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật dân sự Việt Nam về giao dịch dân sự có điều kiện
Chương 2 phân tích thực trạng văn bản luật và dữ liệu xét xử thực tế:
- Thực trạng pháp luật và so sánh quốc tế:
- Quy định chung: BLDS năm 2015 quy định về giao dịch dân sự có điều kiện tại Điều 120, song nội dung còn quá vắn tắt, chưa bao quát được toàn diện hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện và chưa có cơ chế xử lý rõ ràng về trách nhiệm bồi thường khi hủy bỏ giao dịch.
- So sánh quốc tế: Pháp luật các nước như Nhật Bản (Điều 127-134 BLDS Nhật Bản), Pháp, Nga (Điều 157 BLDS Nga), Thái Lan đều có sự phân biệt rành mạch giữa điều kiện đình chỉ và điều kiện hủy bỏ, đồng thời quy định cụ thể chế tài giả định điều kiện đã xảy ra hoặc chưa xảy ra khi có hành vi gian lận tác động đến sự kiện.
- Quy định riêng: Luận án phân tích tính rời rạc trong các quy định về hợp đồng có điều kiện, di chúc có điều kiện (luật chưa công nhận danh chính ngôn thuận hình thức di chúc có điều kiện mà chỉ ghi nhận gián tiếp qua nghĩa vụ của người thừa kế tại Điều 653 BLDS 2005 / Điều 662 BLDS 2015), và hứa thưởng có điều kiện.
- Thực tiễn áp dụng và những nhầm lẫn tại Tòa án:
Qua nghiên cứu hồ sơ xét xử và Án lệ số 39/2020/AL, luận án vạch rõ 4 dạng nhầm lẫn phổ biến của cơ quan xét xử:
| Dạng sai sót, nhầm lẫn trong xét xử |
Biểu hiện cụ thể qua thực tiễn bản án |
Hậu quả pháp lý |
| 1. Nhầm lẫn giữa GDDS có điều kiện với thực hiện nghĩa vụ có điều kiện |
Tòa án đồng nhất điều kiện làm phát sinh giao dịch với điều kiện để thực hiện nghĩa vụ đã phát sinh hiệu lực (thể hiện trong Bản án số 06/2015/KDTM-ST và 204/2012/DS-ST). |
Xác định sai thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng và áp dụng sai trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ. |
| 2. Nhầm lẫn giữa hủy bỏ do vi phạm nghĩa vụ với điều kiện hủy bỏ xảy ra |
Khi một bên không thực hiện công việc, Tòa án coi đó là điều kiện hủy bỏ xảy ra thay vì giải quyết theo chế định vi phạm nghĩa vụ hợp đồng (phân tích tại Bản án số 42/2010/DS-ST). |
Áp dụng sai chế tài bồi thường thiệt hại và hoàn trả tài sản giữa các bên. |
| 3. Nhầm lẫn giữa di chúc có điều kiện với giao nghĩa vụ cho người thừa kế |
Xem việc người lập di chúc buộc người thừa kế thực hiện nghĩa vụ thờ cúng hoặc chăm sóc là một điều kiện làm phát sinh quyền thừa kế mà không phân biệt bản chất di tặng/nghĩa vụ tài sản. |
Giải quyết lúng túng khi người thừa kế vi phạm nghĩa vụ, không rõ di sản thuộc về ai hoặc bị chia theo pháp luật. |
| 4. Nhầm lẫn giữa hợp đồng có điều kiện với thực hiện hợp đồng có điều kiện |
Không phân định hợp đồng đã có hiệu lực nhưng tạm hoãn thực hiện với hợp đồng chưa hề phát sinh hiệu lực do biến cố tương lai chưa xảy ra. |
Tuyên bố hợp đồng vô hiệu không đúng căn cứ hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn. |
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam về giao dịch dân sự có điều kiện
Chương 3 xây dựng hệ thống kiến nghị nhằm khắc phục các bất cập đã nhận diện:
- Định hướng hoàn thiện:
- Thứ nhất: Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và cải cách tư pháp.
- Thứ hai: Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật dân sự và nâng cao tính dự báo trước sự hình thành, phát triển phức tạp của các quan hệ giao lưu dân sự.
- Thứ ba: Bảo đảm nguyên tắc công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đặc biệt là quyền lợi của bên yếu thế và người thứ ba ngay tình.
- Giải pháp lập pháp và áp dụng cụ thể:
- Hoàn thiện quy định chung: Sửa đổi, bổ sung Điều 120 BLDS năm 2015 theo hướng định nghĩa đầy đủ giao dịch dân sự có điều kiện (bao hàm cả hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương); minh định tiêu chí sự kiện là điều kiện; bổ sung quy định cụ thể về hậu quả pháp lý khi một bên cố ý ngăn cản hoặc thúc đẩy sự kiện xảy ra; quy định rõ cơ chế bồi thường khi giao dịch bị hủy bỏ.
- Hoàn thiện quy định riêng: Bổ sung các điều khoản độc lập điều chỉnh "Hợp đồng có điều kiện"; chính thức ghi nhận chế định "Di chúc có điều kiện" trong phần thừa kế của BLDS (quy định rõ quyền đặt điều kiện hợp pháp, hậu quả pháp lý khi người thừa kế không hoàn thành điều kiện, cách xử lý di sản và hoàn trả chi phí hợp lý đã bỏ ra); hoàn thiện quy chế hứa thưởng có điều kiện.
- Giải pháp áp dụng pháp luật: Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định về giao dịch dân sự có điều kiện trong xét xử; đẩy mạnh tuyển chọn, phát triển thêm các án lệ để tháo gỡ vướng mắc cho các thẩm phán địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án công bố các đóng góp khoa học mới cả về phương diện lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về lý luận:
- Xây dựng hệ thống lý luận chuyên sâu và toàn diện đầu tiên về giao dịch dân sự có điều kiện trong khoa học pháp lý dân sự Việt Nam.
- Định nghĩa lại khái niệm giao dịch dân sự có điều kiện một cách khoa học, khắc phục sự khiếm khuyết của luật thực định khi loại trừ hành vi pháp lý đơn phương.
- Làm sáng tỏ bản chất của "sự kiện là điều kiện" dựa trên nền tảng kết hợp giữa học thuyết tự do ý chí và học thuyết về sự dung hòa tự do ý chí với lợi ích xã hội.
- Phân định rõ ràng ranh giới pháp lý giữa giao dịch dân sự có điều kiện với các khái niệm lân cận như: điều kiện có hiệu lực của giao dịch, thực hiện nghĩa vụ có điều kiện, nghĩa vụ kèm theo trong hợp đồng tặng cho và di chúc.
- Đóng góp về thực tiễn và hoàn thiện pháp luật:
- Nhận diện có căn cứ khoa học 4 dạng nhầm lẫn điển hình của Tòa án nhân dân trong thực tiễn xét xử tranh chấp giao dịch dân sự có điều kiện.
- Cung cấp luận cứ hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật thực định, đề xuất lộ trình sửa đổi BLDS năm 2015 ở cả phần quy định chung lẫn quy định riêng (hợp đồng, di chúc, hứa thưởng có điều kiện).
- Đề xuất các giải pháp khả thi cho Hội đồng Thẩm phán TANDTC trong việc ban hành văn bản hướng dẫn và phát triển án lệ nhằm nâng cao chất lượng xét xử.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ biên bản họp Hội đồng chấm luận án, bản nhận xét của các ủy viên (TS. Nguyễn Văn Cường, TS. Vương Thanh Thúy, TS. Nguyễn Triều Dương) và Bản giải trình của nghiên cứu sinh ngày 11/01/2022, những hạn chế và hướng nghiên cứu được xác định:
- Hạn chế của luận án:
- Một số nội dung lý luận tại Chương 1 còn mang tính học thuật thuần túy, mối liên kết với thực trạng áp dụng pháp luật ở một vài điểm chưa thực sự liền mạch.
- Việc đưa ra các quy định của hệ thống văn bản pháp luật cũ tại mục khái lược lịch sử còn có yếu tố nhạy cảm về kỹ thuật lập pháp.
- Giải pháp kiến nghị sửa đổi trực tiếp nhiều điều khoản cụ thể trong BLDS có thể dẫn tới sự xáo trộn tính ổn định của bộ luật; hướng tiếp cận ban hành Nghị quyết hướng dẫn của TANDTC có tính khả thi trước mắt cao hơn nhưng chưa được luận án phân bổ dung lượng tương xứng lúc ban đầu.
- Bản thảo luận án và tóm tắt ban đầu còn một số lỗi chính tả, lỗi kỹ thuật trình bày và thiếu một số thông tin bắt buộc tại trang bìa lót (đã được tác giả chỉnh sửa, giải trình sau buổi bảo vệ).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại và hoàn trả chi phí bảo quản, tôn tạo di sản khi điều kiện trong di chúc có điều kiện không được người thụ hưởng thực hiện.
- Khảo cứu thực tiễn thi hành Án lệ số 39/2020/AL và các tranh chấp thương mại phức tạp có thỏa thuận điều kiện tiên quyết trong hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) hoặc chuyển nhượng dự án đầu tư.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp trung ương: Cung cấp luận cứ thực tiễn và kỹ thuật lập pháp để sửa đổi, bổ sung BLDS trong tương lai; đồng thời là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Tòa án nhân dân tối cao trong việc xây dựng Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 120 BLDS năm 2015 và phát triển nguồn án lệ.
- Đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư: Là cẩm nang phân tích nghiệp vụ giá trị, chỉ rõ các lỗi sai thường gặp khi định danh giao dịch, giúp phân biệt rõ giữa giao dịch có điều kiện và thực hiện nghĩa vụ có điều kiện, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho các bên đương sự.
- Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý: Tài liệu phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật khi học tập chuyên sâu môn Luật Dân sự, Luật Hợp đồng và Luật Thừa kế; cung cấp hệ thống tài liệu so sánh quốc tế phong phú về pháp luật các nước Pháp, Đức, Nhật Bản, Nga.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa lại "giao dịch dân sự có điều kiện" như thế nào để khắc phục hạn chế của Điều 120 BLDS 2015?
Tác giả chỉ ra rằng Điều 120 BLDS 2015 dùng cụm từ "các bên có thỏa thuận" đã vô hình trung đồng nhất giao dịch có điều kiện với hợp đồng, bỏ sót hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện (như di chúc, hứa thưởng). Luận án định nghĩa lại: Giao dịch dân sự có điều kiện là giao dịch (bao gồm cả hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương) mà trong đó hiệu lực của giao dịch, hoặc việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự được xác định phụ thuộc vào việc xảy ra hay không xảy ra của một hoặc một số sự kiện khách quan trong tương lai do các bên thỏa thuận hoặc do người xác lập đơn phương ấn định một cách hợp pháp.
2. Sự kiện được chọn làm điều kiện trong giao dịch dân sự phải đáp ứng những tiêu chí nào?
Căn cứ các nghiên cứu lý luận và án lệ được phân tích trong luận án, sự kiện là điều kiện phải thỏa mãn đầy đủ ba yêu cầu:
- Phải là sự kiện thuộc về tương lai tại thời điểm giao dịch được xác lập (chưa xảy ra).
- Phải là sự kiện mang tính chất chưa chắc chắn (có thể xảy ra hoặc không thể xảy ra một cách khách quan).
- Phải hợp pháp, tức nội dung của sự kiện không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
3. Tòa án thường nhầm lẫn giữa giao dịch dân sự có điều kiện với thực hiện nghĩa vụ có điều kiện ở điểm nào?
Tòa án thường nhầm lẫn ở chỗ: trong giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh, bản thân hiệu lực của toàn bộ giao dịch bị treo lại cho tới khi sự kiện xảy ra; nếu sự kiện không xảy ra thì giao dịch không phát sinh hiệu lực. Ngược lại, trong quan hệ thực hiện nghĩa vụ có điều kiện, giao dịch đã có hiệu lực pháp lý ràng buộc ngay từ thời điểm giao kết, nhưng thời điểm thi hành nghĩa vụ cụ thể bị trì hoãn cho đến khi có một điều kiện nhất định. Việc nhầm lẫn này dẫn đến xác định sai thời điểm phát sinh quyền khởi kiện và sai căn cứ áp dụng chế tài vi phạm.
4. Án lệ số 39/2020/AL có vai trò gì trong luận án?
Án lệ số 39/2020/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua về giao dịch dân sự có điều kiện. Luận án sử dụng án lệ này làm căn cứ thực tiễn trung tâm để chứng minh sự thừa nhận chính thức của cơ quan xét xử cao nhất đối với hiệu lực của hợp đồng có điều kiện, đồng thời chỉ ra rằng các hướng dẫn áp dụng án lệ vẫn cần được tiếp tục làm rõ, giải thích thống nhất nhằm tránh tình trạng các Tòa án địa phương áp dụng tùy nghi.
5. Luận án đề xuất cơ chế xử lý nào đối với chế định di chúc có điều kiện?
Luận án đề xuất bổ sung điều khoản độc lập về di chúc có điều kiện vào phần Thừa kế trong BLDS:
- Thừa nhận quyền của người lập di chúc được đặt điều kiện cho người thụ hưởng, miễn là điều kiện không trái luật và đạo đức xã hội.
- Quy định rõ: nếu người hưởng di sản đã nhận di sản nhưng cố tình không thực hiện điều kiện (như nghĩa vụ chăm sóc, thờ cúng) thì phải hoàn trả lại di sản cho các thừa kế khác, nhưng được trừ các chi phí hợp lý đã bỏ ra làm gia tăng giá trị di sản.
- Trường hợp người hưởng di sản chết trước khi kịp hoàn thành điều kiện thì phần di chúc có điều kiện không phát sinh hiệu lực, chi phí họ đã bỏ ra sẽ được thanh toán từ khối di sản.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phùng Bích Ngọc là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về chế định giao dịch dân sự có điều kiện trong pháp luật dân sự Việt Nam. Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý thuyết về tự do ý chí và sự dung hòa với lợi ích công cộng, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn của quy phạm thực định cũng như 4 dạng sai sót điển hình trong thực tiễn xét xử. Các đề xuất sửa đổi BLDS năm 2015, bổ sung chế định di chúc có điều kiện và ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho tiến trình hoàn thiện thể chế pháp luật dân sự tại Việt Nam.