Luận án TS Kinh tế: Giải pháp tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh Tập đoàn VNPT

Tìm hiểu các giải pháp tài chính giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của VNPT. Phân tích chiến lược tài chính, quản lý chi phí và tối ưu hóa lợi nhuận.

Trường đại học

Học viện Tài chính

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

205
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh VNPT

Luận án tiến sĩ của Vũ Khắc Hùng (2021) thuộc Học viện Tài chính nghiên cứu toàn diện vấn đề giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, phân tích các nhân tố tác động đến vị thế thị trường của VNPT. Luận án chỉ ra rằng năng lực cạnh tranh thể hiện qua nhiều tiêu chí: sản phẩm, thị phần, kết quả kinh doanh và kênh phân phối. Mối quan hệ tương hỗ giữa các tiêu chí này tạo thành cơ sở đánh giá toàn diện. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, VNPT đối mặt áp lực cạnh tranh gay gắt từ cả doanh nghiệp trong nước lẫn quốc tế. Giải pháp tài chính được phân thành hai nhóm chính: giải pháp tài chính vĩ mô liên quan đến chính sách nhà nước và giải pháp tài chính vi mô thuộc phạm vi quản trị doanh nghiệp. Nghiên cứu tổng hợp kinh nghiệm quốc tế từ các tập đoàn viễn thông lớn để rút ra bài học áp dụng cho VNPT.

1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp là khả năng chiếm lĩnh và duy trì thị phần trên thị trường thông qua sản phẩm chất lượng, bí quyết sản xuất kinh doanh đặc thù, năng lực quản trị vượt trội và khả năng ứng dụng khoa học công nghệ. Mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận bền vững. Theo C. Mác, sản phẩm là kết quả quá trình lao động phục vụ nhu cầu con người. Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm bao gồm bất kỳ thứ gì đáp ứng được nhu cầu và mang lại lợi nhuận. Đa dạng hóa sản phẩm là biện pháp quan trọng giúp phân tán rủi ro kinh doanh.

1.2. Phân loại giải pháp tài chính cho doanh nghiệp

Giải pháp tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh được chia thành hai nhóm lớn. Giải pháp tài chính vĩ mô bao gồm chính sách thuế, tín dụng, ưu đãi đầu tư và cơ chế tài chính từ nhà nước nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Giải pháp tài chính vi mô bao gồm quản trị dòng vốn, cơ cấu nguồn vốn, chiến lược đầu tư và phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp. Cả hai nhóm giải pháp có mối quan hệ mật thiết, bổ trợ lẫn nhau trong việc nâng cao sức cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp trên thị trường.

II. Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh và tài chính VNPT

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ngành bưu chính viễn thông quốc gia. Luận án phân tích thực trạng tài sản, nguồn vốn và kết quả kinh doanh của VNPT qua các giai đoạn. Kết quả cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh có nhiều biến động, nguồn nhân lực tuy đông nhưng chất lượng chưa đồng đều. Về năng lực cạnh tranh, VNPT sở hữu lợi thế mạng lưới rộng khắp và thương hiệu lâu đời. Tuy nhiên, doanh nghiệp đối mặt thách thức từ sự cạnh tranh quyết liệt của Viettel, Mobifone và các nhà cung cấp dịch vụ số mới. Thực trạng sử dụng giải pháp tài chính vĩ mô cho thấy VNPT được hưởng một số ưu đãi nhưng chưa tận dụng triệt để. Giải pháp tài chính vi mô còn hạn chế trong việc tối ưu hóa cơ cấu vốn và quản trị dòng tiền. Đánh giá tổng thể cho thấy khoảng cách giữa tiềm năng và thực tế khai thác vẫn còn lớn, đòi hỏi cải cách mạnh mẽ hơn nữa.

2.1. Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh và nguồn nhân lực

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của VNPT được đo lường qua các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư. Kết quả phân tích cho thấy tốc độ tăng trưởng doanh thu có xu hướng chững lại trước áp lực cạnh tranh. Nguồn nhân lực VNPT đông đảo về số lượng nhưng cơ cấu chưa hợp lý, thiếu hụt nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực công nghệ mới. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi số. Đây là yếu tố nội tại quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của tập đoàn.

2.2. Đánh giá thực trạng sử dụng giải pháp tài chính tại VNPT

Về giải pháp tài chính vĩ mô, VNPT được hưởng cơ chế ưu đãi thuế, hỗ trợ tín dụng từ nhà nước nhưng mức độ tận dụng chưa cao. Cơ chế tài chính nội bộ còn nặng nề, chưa linh hoạt. Về giải pháp tài chính vi mô, chiến lược huy động vốn của VNPT chủ yếu dựa vào nguồn vay ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp hơn mức tối ưu. Quản trị dòng tiền chưa hiệu quả, đầu tư dàn trải vào nhiều lĩnh vực ngoài lõi. Việc phân tích và đánh giá rủi ro tài chính còn sơ khai, thiếu công cụ quản trị tài chính hiện đại.

III. Giải pháp tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh cho VNPT

Luận án đề xuất hệ thống giải pháp tài chính toàn diện nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của VNPT. Nhóm giải pháp tài chính vĩ mô kiến nghị nhà nước hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế ưu đãi thuế phù hợp cho doanh nghiệp viễn thông đầu tư hạ tầng số. Chính sách tín dụng ưu tiên cho dự án chuyển đổi số và phát triển công nghệ 5G cần được đẩy mạnh. Nhóm giải pháp tài chính vi mô tập trung vào tái cơ cấu nguồn vốn, tối ưu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu. VNPT cần xây dựng chiến lược đầu tư trọng điểm, tránh dàn trải nguồn lực. Quản trị dòng tiền hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ tài chính trong kiểm soát ngân sách. Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ số tăng nguồn thu. Xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả đầu tư minh bạch. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao cũng được nhấn mạnh. Các điều kiện thực hiện bao gồm cam kết từ ban lãnh đạo, nguồn lực tài chính ban đầu và lộ trình triển khai cụ thể theo từng giai đoạn 2020-2025.

3.1. Giải pháp tài chính vĩ mô từ nhà nước

Nhà nước cần hoàn thiện chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp viễn thông đầu tư hạ tầng vùng sâu vùng xa. Cơ chế tín dụng ưu tiên cho dự án chuyển đổi số, phát triển công nghệ 5G và Internet vạn vật. Chính sách tài chính khuyến khích liên doanh liên kết, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ cao. Hoàn thiện khung pháp lý quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước, tạo điều kiện cho VNPT chủ động trong quyết định đầu tư. Xây dựng cơ chế giám sát tài chính hiệu quả, minh bạch.

3.2. Giải pháp tài chính vi mô trong quản trị doanh nghiệp

VNPT cần tái cơ cấu nguồn vốn, tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu, giảm phụ thuộc vào vay ngân hàng. Xây dựng chiến lược đầu tư trọng điểm vào dịch vụ số, IoT, điện toán đám mây. Ứng dụng công nghệ tài chính trong quản trị dòng tiền và kiểm soát ngân sách. Đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ giá trị gia tăng, dịch vụ số. Xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả đầu tư minh bạch. Phát triển nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao, đào tạo kỹ năng quản trị tài chính hiện đại cho đội ngũ cán bộ.

IV. Kết luận và ứng dụng giải pháp tài chính cho VNPT

Luận án tiến sĩ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh và giải pháp tài chính, phân tích toàn diện thực trạng hoạt động tài chính và năng lực cạnh tranh của VNPT. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò quyết định của giải pháp tài chính trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh của tập đoàn viễn thông quốc gia. Hệ thống giải pháp đề xuất bao gồm cả cấp vĩ mô và vi mô, phù hợp với định hướng phát triển của VNPT giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn 2030. Ứng dụng thực tiễn cho thấy khi triển khai đồng bộ các giải pháp tài chính, VNPT có thể tối ưu hóa nguồn lực, tăng hiệu quả đầu tư và cải thiện đáng kể năng lực cạnh tranh. Nghiên cứu cũng chỉ ra điều kiện tiên quyết là sự cam kết của ban lãnh đạo, nguồn lực con người và lộ trình triển khai phù hợp. Bài học kinh nghiệm từ các tập đoàn viễn thông quốc tế là minh chứng cho tính khả thi của mô hình quản trị tài chính chiến lược. Đây là đóng góp khoa học có giá trị cho cả lý luận và thực tiễn quản trị doanh nghiệp viễn thông Việt Nam.

4.1. Định hướng phát triển VNPT và cơ hội thị trường

VNPT đặt mục tiêu đến năm 2025 trở thành tập đoàn công nghệ số hàng đầu Việt Nam, tầm nhìn 2030 vươn tầm khu vực. Cơ hội lớn đến từ chuyển đổi số quốc gia, phát triển đô thị thông minh, chính phủ điện tử. Thị trường IoT, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo đang mở rộng nhanh chóng. VNPT sở hữu lợi thế hạ tầng viễn thông rộng khắp và thương hiệu uy tín lâu đời. Tận dụng tốt cơ hội đòi hỏi nguồn lực tài chính dồi dào và chiến lược đầu tư đúng đắn.

4.2. Điều kiện thực hiện và lộ trình triển khai giải pháp

Điều kiện thực hiện bao gồm sự cam kết quyết tâm từ ban lãnh đạo tập đoàn. Cần bố trí nguồn lực tài chính ban đầu đủ lớn cho đầu tư chuyển đổi số. Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý, tạo cơ chế thoáng cho doanh nghiệp nhà nước. Lộ trình triển khai chia thành hai giai đoạn: giai đoạn 2020-2025 tập trung tái cơ cấu tài chính và đầu tư hạ tầng số; giai đoạn 2025-2030 mở rộng thị trường quốc tế. Giám sát đánh giá định kỳ đảm bảo giải pháp đi đúng hướng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ giải pháp tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn bưu chính viễn thông việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Cạnh tranh là nguồn gốc và sự phát triển. Trong tự nhiên, đấu tranh sinh tồn là nguồn gốc của cạnh tranh để tìm môi trường phát triển, điều kiện sống tốt nhất.

Và nếu quần thể này, hoặc cá thể này, chiếm được vị trí tốt hơn, thì các quần thể khác sẽ ở vị trí bất lợi, kém hơn hoặc bị tiêu diệt biến mất, nhưng đồng thời quần thể/cá thể khác sẽ xuất hiện, với khả năng chịu đựng và thích nghi tốt hơn với môi trường mới. Hiện tượng trên diễn ra thường xuyên, liên tục, đã dẫn đến đấu tranh sinh tồn ở một cấp độ mới, quyết liệt hơn về qui mô cũng như phương thức cạnh tranh. Cạnh tranh diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực, trong nền kinh tế, quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển diễn ra tương tự trong tự nhiên, nhưng là cạnh tranh để phát triển. Cạnh tranh của doanh nghiệp.

Khái niệm cạnh tranh. Cạnh tranh, bản chất cạnh tranh là phương pháp, cách thức (thủ thuật) dành lợi thế về phía mình. Chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về cạnh tranh, nhất quán về thuật ngữ, thực tế có một số định nghĩa về cạnh tranh của nhiều nhà kinh tế, đã được thừa nhận, điển hình như: Theo Các Mác [13]: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Định nghĩa này phù hợp với cạnh tranh doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, trong điều kiện phát triển ổn định, chưa xuất hiện độc quyền.

Nói cách khác, thị trường bó hẹp trong phạm vi quốc gia, chưa xuất hiện trào lưu hội nhập sâu rộng như trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên định nghĩa này, trên giác độ lợi nhuận thì vẫn phù hợp trong điều kiện toàn cầu hoá về kinh tế. 10 Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng [68] thì: “Cạnh tranh là đua tranh để dành ưu thế về mình”. Định nghĩa này mang tính tổng quát đúng trong lĩnh vực kinh tế và cho cả lĩnh vực xã hội nói chung.

Tuy nhiên, xét trong lĩnh vực kinh tế, thì khái niệm này quá rộng, nội dung của nó chưa thể hiện mục tiêu cụ thể của cạnh tranh, chưa nêu rõ thủ pháp để đạt tới mục tiêu đã định. Cho nên khái niệm này chưa gắn cụ thể vào cạnh tranh kinh tế trong điều kiện phát triển và hội nhập hiện nay. Ngoài ra, đã có khá nhiều định nghĩa về cạnh tranh với những nội dung tương tự, như: + Theo Từ điển rút gọn về kinh doanh thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường, nhằm giành cùng một loại tài nguyên, sản xuất cùng một loại sản phẩm, hoặc khách hàng về phía mình”. + Theo Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì: “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm, tạo thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.Samuel Son [47] - nhà kinh tế học Hoa Kỳ, thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp để dành khách hàng và thị trường”.

Như vậy, tổng hợp theo mục tiêu cạnh tranh kinh tế, quan điểm và nội dung cạnh tranh giữa các chủ thể trong nền kinh tế thị trường của các nhà kinh tế là tương đồng. Đó là sự đấu tranh để giành giật thị trường, người tiêu thụ sản phẩm và các điều kiện sản xuất – kinh doanh. Những khái niệm này vẫn được sử dụng để nghiên cứu về cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế hiện nay. Những khái niệm trên, mặc dù được đưa ra trong các thời điểm khác nhau, nhưng nội dung tương đối thống nhất: • Mục đích của cạnh tranh là giành phần thắng trên thương trường.

• Công cụ cạnh tranh (phương tiện, biện pháp) sử dụng mang tính đặc thù. • Môi trường diễn ra cạnh tranh là cụ thể và đồng nhất. 11 Từ cách trình bầy như trên, thì cạnh tranh kinh tế có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể, bằng các công cụ (thủ pháp) đặc thù để giành các điều kiện sản xuất kinh doanh có lợi nhất, nhằm chiếm lĩnh thị phần, với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Cạnh tranh kinh tế có nội dung rộng hơn cạnh tranh doanh nghiệp do phạm vi cạnh tranh kinh tế rộng hơn, nhiều ngành nghề, nhiều doanh nghiệp và mở rộng hơn là cạnh tranh kinh tế quốc gia, quốc tế.

Cùng với sự phát triển kinh tế và mở rộng thị trường, cạnh tranh kinh tế đồng thời cũng được mở rộng, phát triển và gia tăng theo mức độ cao hơn. Cạnh tranh doanh nghiệp. Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc lập. Mục tiêu sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp là chiếm lĩnh thị trường, thu lợi nhuận tối đa.

Chính vì vậy mà các doanh nghiệp cùng sản xuất – kinh doanh cùng loại sản phẩm, luôn luôn cạnh tranh với nhau, nhằm độc chiếm thị trường. Cạnh tranh là hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế. Nhiều nhà kinh tế đã đưa ra những giải đáp quan điểm cạnh tranh của mình, nhằm làm rõ thêm định nghĩa cạnh tranh doanh nghiệp: Nguồn gốc dẫn đến cạnh tranh theo C.Mác [14]: “Sự phân công lao động trong xã hội đặt những người sản xuất hàng hóa độc lập đối diện với nhau, những người này không thừa nhận một uy lực nào khác, ngoài uy lực cạnh tranh”. Ở góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được C.Mác đề cập như sau: “cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch”.Mác đã đề cập đến vấn đề cạnh tranh trong một không gian hẹp, chủ nghĩa tư bản lúc này cạnh tranh được xem là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau để tồn tại, quan niệm về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc độ khá tiêu cực.

12 Lịch sử hình thành và phát triển của cạnh tranh cho thấy trong thời kỳ Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, cạnh tranh mang tính đối kháng là phổ biến với mục tiêu thôn tính đối phương, buộc đối phương phải phụ thuộc vào mình. Trong phương thức cạnh tranh này, các chủ thể tham gia cạnh tranh dùng mọi thủ đoạn để chiến thắng đối phương, cạnh tranh này mang tính hủy diệt. Loại hình cạnh tranh này có thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển lên một cấp độ cao hơn, nhưng đã gây nên sự lãng phí tài nguyên, nhân lực…của xã hội một cách quá mức. Khi điều kiện tài nguyên thiên nhiên dần bị cạn kiệt, xu thế hội nhập là một quá trình tất yếu.

Các quốc gia, các đối tác kinh tế thấy rằng cạnh tranh đối kháng là không có lợi cho bất kỳ bên nào và cũng không còn phù hợp với thực tiễn. Vì vậy các chủ thể kinh tế (cả Nhà nước) đã chuyển cạnh tranh đối kháng, sang cạnh tranh hợp tác. Thể hiện quan điểm này, trong thực tiễn nhiều tổ chức hợp tác kinh tế thương mại khu vực và toàn cầu được hình thành: EU, OECD, NAFTA, AFTA, ASEAN, APEC… và lớn nhất là WTO. Các liên minh này có tính chất chặt, lỏng khác nhau, nhưng đều thể hiện được ý chí hợp tác giữa các bên trong liên minh, trong quá trình phát triển sản xuất – kinh doanh.

Hợp tác để phát triển là một xu thế, nhưng cạnh tranh vẫn tồn tại và sẽ ở mức độ cao hơn. Đồng thời các đối tác trong liên minh vẫn phải giải quyết mâu thuẫn giữa tự do thương mại và bảo hộ mậu dịch. Như vậy, cạnh tranh doanh nghiệp là môi trường và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Hiểu theo mặt trái, cạnh tranh doanh nghiệp là doanh nghiệp mạnh đè bẹp doanh nghiệp yếu, là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật khách hàng hoặc thị trường mà kết quả cuối cùng là để tiêu thụ được ngày càng nhiều hàng hoá với lợi nhuận cao; Theo hướng mở rộng, trong mối tương quan giữa các doanh nghiệp, xu thế toàn cầu hóa và nhu cầu mua sắm của xã hội thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là quá trình các doanh nghiệp tìm tòi, đưa ra các biện pháp, giải pháp kinh tế tích cực, 13 sáng tạo nhằm tồn tại được trên thị trường, thu được nhiều lợi nhuận trên cơ sở tạo ra các ưu thế về sản phẩm cũng như trong tiêu thụ sản phẩm.

Cạnh tranh và cạnh tranh doanh nghiệp là tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Sự cạnh tranh biểu hiện sự tự do trong sản xuất kinh doanh, đa dạng, có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, nhiều người hoạt động sản xuất kinh doanh và hướng tới đạt được mục tiêu doanh nghiệp trong từng thời kỳ, hướng tới khách hàng, người tiêu dùng và toàn xã hội. Cạnh tranh giúp cho: (1) Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng cải tiến, đổi mới, sử dụng công nghệ mới hiện đại tiên tiến, sử dụng nguồn tài nguyên một cách tối ưu… nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín, vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. (2) Đối với người tiêu dùng, cạnh tranh giúp cho chất lượng sản phẩm ngày càng nâng cao, mức giá phù hợp với khả năng giúp thoả mãn nhu cầu về hàng hoá dịch vụ của người tiêu dùng.

(3) Đối với nền kinh tế thì cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng của mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện để giải phóng lực lượng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hoá nền sản xuất xã hội. Cạnh tranh phát huy tính tháo vát và óc sáng tạo của các nhà quản lý doanh nghiệp, gợi mở định hướng nhu cầu người tiêu dùng thông qua việc tạo ra nhiều sản phẩm mới, nâng cao chất lượng đời sống xã hội. Để cạnh tranh doanh nghiệp phát huy tối đa hiệu quả là động lực phát triển nền kinh tế xã hội, nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý, xử lý các vấn đề cạnh tranh độc quyền, các vấn đề cộng đồng như việc yêu cầu doanh nghiệp xử lý các chất thải, ô nhiễm môi trường và các vấn đề xã hội khác. Phân loại cạnh tranh doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ