Luận án tiến sĩ về báo chí học và cải cách hải quan Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Luận án tiến sĩ phân tích báo chí học báo chí đối với vấn đề cải cách hiện đại hóa hải quan việt nam thời kỳ phát triển và, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2024

176
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các nghiên cứu về chức năng, vai trò, tác động của báo chí

1.2. Các nghiên cứu về báo chí, truyền thông đối với hoạt động hành chính công trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế

1.3. Các nghiên cứu về Hải quan và truyền thông đại chúng đối với hoạt động Hải quan

1.4. Giá trị, hạn chế của các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN VIỆT NAM

2.1. Cơ sở lý luận về báo chí đối với vấn đề cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam

2.2. Cơ sở chính trị, pháp lý đối với vấn đề cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế

2.3. Cơ sở thực tiễn về báo chí đối với vấn đề cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế

2.4. Tiêu chí đánh giá nội dung và hình thức thông tin báo chí về vấn đề CCHĐH Hải quan

2.5. Khung phân tích của đề tài Luận án

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ CẢI CÁCH HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN VIỆT NAM TRÊN BÁO CHÍ

3.1. Nội dung thông tin về vấn đề CCHĐH Hải quan Việt Nam

3.2. Hình thức chuyên tải thông tin về vấn đề CCHĐH Hải quan Việt Nam

3.3. Đánh giá chung về nội dung và hình thức chuyên tải thông tin của báo chí đối với vấn đề CCHĐH Hải quan

3.4. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: VAI TRÒ, TÁC ĐỘNG CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI CÔNG CHÚNG VỀ VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN VIỆT NAM

4.1. Khái quát về công chúng báo chí liên quan đến vấn đề cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam

4.2. Nhu cầu thông tin của công chúng và vai trò của báo chí đối với công chúng về vấn đề CCHĐH

4.3. Mức độ tác động của báo chí đối với vấn đề cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam

4.4. Đánh giá chung vai trò, tác động của báo chí đối với vấn đề CCHĐH Hải quan

4.5. Tiểu kết chương 4

5. CHƯƠNG 5: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ, CHẤT LƯỢNG CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN THỜI KỲ PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

5.1. Một số vấn đề đặt ra hiện nay

5.2. Giải pháp nâng cao vai trò, chất lượng của báo chí đối với CCHĐH Hải quan Việt Nam

5.3. Một số khuyến nghị

5.4. Đề xuất mô hình thông tin báo chí về vấn đề CCHĐH Hải quan

5.5. Tiểu kết chương 5

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cải cách hải quan Việt Nam

Cải cách hải quan tại Việt Nam là một trong những vấn đề quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Cải cách hải quan không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại. Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm qua, cho thấy sự cần thiết phải cải cách để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Chính sách hải quan hiện nay đang hướng tới việc hiện đại hóa quy trình nghiệp vụ, áp dụng công nghệ mới nhằm nâng cao hiệu quả công việc. Việc quản lý hải quan cũng cần phải được cải thiện để phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

1.1. Tình hình hiện tại của hải quan Việt Nam

Hải quan Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ khi thành lập vào năm 1945 đến nay. Luật hải quan đã được sửa đổi và bổ sung nhiều lần để phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực hiện cải cách hải quan. Các vấn đề như thủ tục hành chính phức tạp, thiếu minh bạch trong quy trình làm việc vẫn tồn tại. Điều này ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế này.

II. Vai trò của báo chí trong cải cách hải quan

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin về cải cách hải quan. Thông qua các bài viết, phỏng vấn và phân tích, báo chí giúp công chúng hiểu rõ hơn về các chính sách và quy định mới. Báo chí học không chỉ phản ánh thực trạng mà còn góp phần định hướng dư luận xã hội. Việc phân tích chính sách hải quan qua lăng kính báo chí giúp nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về các thay đổi trong quy trình hải quan. Điều này không chỉ tạo ra sự đồng thuận mà còn thúc đẩy sự tham gia của công chúng vào quá trình cải cách.

2.1. Tác động của báo chí đến nhận thức công chúng

Báo chí có khả năng tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi của công chúng. Thông qua việc cung cấp thông tin kịp thời và chính xác, báo chí giúp người dân và doanh nghiệp nắm bắt được các thông tin quan trọng liên quan đến cải cách hải quan. Các nghiên cứu cho thấy rằng, khi báo chí phản ánh đúng và đầy đủ về các chính sách, công chúng sẽ có xu hướng ủng hộ và tham gia tích cực hơn vào các hoạt động liên quan. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của quản lý hải quan mà còn tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn.

III. Thách thức và giải pháp cho báo chí trong cải cách hải quan

Mặc dù báo chí đã có những đóng góp tích cực trong việc truyền tải thông tin về cải cách hải quan, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Một số hạn chế như nội dung thông tin chưa đa dạng, hình thức truyền tải chưa phong phú, và thiếu sự phản biện xã hội. Để nâng cao vai trò của báo chí, cần có những giải pháp cụ thể như đào tạo nhân lực, cải thiện chất lượng nội dung và hình thức thông tin. Việc áp dụng công nghệ mới trong báo chí cũng là một yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả truyền thông.

3.1. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng báo chí

Để nâng cao chất lượng của báo chí trong việc phản ánh về cải cách hải quan, cần thiết phải có một khung phân tích rõ ràng. Việc xây dựng tiêu chí đánh giá nội dung và hình thức thông tin sẽ giúp các cơ quan báo chí có định hướng rõ ràng hơn trong việc sản xuất nội dung. Đồng thời, cần khuyến khích sự tham gia của các nhà báo trong việc nghiên cứu và phản ánh các vấn đề liên quan đến cải cách hải quan. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng thông tin mà còn tạo ra sự tin tưởng từ phía công chúng.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ báo chí học báo chí đối với vấn đề cải cách hiện đại hóa hải quan việt nam thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế phần 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về báo chí đối với vấn đề cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế; Chương 3: Đánh giá thực trạng thông tin về vấn đề cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam trên báo chí; Chương 4: Vai trò, tác động của báo chí đối với công chúng về vấn đề cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam; Chương 5: Một số van đề đặt ra và giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò, chất lượng của báo chí đối với cải cách hiện đại hóa Hải quan thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế. Nội dung của Luận án sẽ được trình bày theo thứ tự các chương nói trên. 20 CHUONG I: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN DE TAI LUAN AN 1. Các nghiên cứu về chức năng, vai trò, tác động của báo chí 1.

Nghiên cứu nước ngoài Về phương diện lý luận, tác giả E.Prôkhôrôp (Nga) trong cuốn Cơ sở hy luận của báo chí (tập 1) đã chỉ ra chức năng khởi đầu của báo chí là chức năng giao tiếp (communication), tổ chức các mối dây liên hệ với công chúng và các thiết chế xã hội. Chức năng thứ hai và quan trọng hơn cả là các chức năng của thông tin dai chúng, xác định vai trò của báo chí trong thực hiện các nhu cầu trọng yếu của những “người kết ước” với nó- đó là các thiết chế xã hội và công chúng. Các chức năng tư tưởng của báo chí thé hiện ở chỗ nó thường xuyên thúc day sự tăng cường và phát triển ý thức tự giác của quan chúng bằng định hướng toàn diện trong thực tiễn, được thé hiện trong quá trình hình thành các thành tố của ý thức đại chúng, trong đó đặc biệt chú ý đến những nhiệm vụ phát triển và nâng cao tính tích cực của dư luận xã hội [106; tr. Theo nha xã hội hoc Robert K.Merton (Mỹ) trong bài viết Some social functions of the mass media (tạm dịch: Một số chức năng xã hội của truyền thông đại ching), truyền thông đại chúng thực hiện nhiều chức năng khác nhau.

Căn cứ trên thuộc tính và bản chất thông tin mang tính tự thân của PTTTĐC, Robert K.Merton chỉ ra nhóm chức năng xã hội; căn cứ trên cau trúc về quyền sở hữu và điều hành đối với PTTTDC ông đề xuất các chức năng thuộc về nhận thức/tư tưởng như là thiết lập sự tuân thủ, hay tác động đến thị hiếu đại chúng mà báo chí và các PTTTĐC thực thi. Đồng thời có yếu tô phản chức năng như là sự gây mê do tình trang dư thừa thông tin và tính chất thụ động ở người tiếp nhận [ 140]. Nhà nghiên cứu Maxwell E. McCombs và Donald L.

21 Nghiên cứu tiến hành đánh giá về mối quan hệ giữa nội dung truyền thông đại chúng và các mối quan tâm của cử tri trong quá trình vận động bau cử tổng thống tại thị tran Chapel Hill (bang North Carolina, Mỹ) vào năm 1968. Với việc nghiên cứu nội dung truyền thông trên 5 tờ báo, 2 tạp chí, đồng thời tiến hành điều tra xem cử tri quan tâm tới những van dé gì nhiều nhất, McCombs và Shaw đã rút ra kết luận là các PTTTĐC có chức năng lập ra “chương trình nghị sự” cho công chúng dé công chúng theo dõi và thảo luận. Những van đề được nhắn mạnh trên các phương tiện truyền thông đều được cử tri quan tâm theo dõi. Nội dung cốt lõi của chức năng “thiết lập chương trình nghị sự” là các PTTTĐC có thể thu hút sự chú ý của công chúng vao một số van đề nhất định nao đó, đồng thời tránh né (hay quên đi) một số vấn đề khác.

Công trình nghiên cứu sau đó của Donald Shaw và S. Martin la The Funtion of Mass Media Agenda Setting [1 17; tr.902-920] đưa ra nhận định rang chức năng “Thiết lập chương trình nghị sự” có tác dụng làm gia tang sự déng thuận xã hội trong nội bộ các nhóm xã hội. Thiết lập chương trình nghị sự sau này cũng được nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục sử dụng đề đánh giá vai trò, tác động của truyền thông đại chúng đối với công chúng. Như công trình Agenda Setting role of mass media, 2008 (tạm dịch: Vai trò thiết lập chương trình nghị sự của truyền thông đại chúng) nhẫn mạnh các tổ chức truyền thông không chỉ là người truyền tải thông tin một cách thụ động, lặp lại lời nói của các nguồn chính thức hoặc truyền tải chính xác các sự kiện, mà thông qua việc lựa chọn và trình bày tin tức hàng ngày, các biên tập viên và phóng viên tập trung sự chú ý vào nhận thức của công chúng về những vấn đề quan trọng nhất trong ngày [145].

Nghiên cứu What Is Most Important for My Country Is Not Most Important for Me: Agenda-Setting Effects in China, 2012 (tam dịch: Diéu gi quan trọng nhất đối với đất nước của tôi, Không quan trọng nhất đổi với tôi: Hiệu ứng thiết lập chương trình nghị sự ở Trung Quốc), đã tiễn hành khảo sát ý kiến công chúng và phân tích nội dung của 3 tờ báo nồi tiếng nhất ở Thượng Hải (Trung Quốc), đồng thời khảo sát công chúng dé thăm dò xem van dé nào mà mọi người coi là quan trọng nhất đối với đât nước của họ và cũng như đôi với chính họ. Với 7 vân đê được khái quát từ nội 22 dung truyền thông của báo chí, công trình nghiên cứu phan nao khang định sự tồn tại của các tác động thiết lập chương trình nghị sự ở Trung Quốc, một quốc gia từ trước đến nay luôn nhân mạnh vai trò của việc sử dụng phương tiện thông tin trong việc định hình dư luận đối với chính sách chính thức của nhà nước [123]. Về nghiên cứu tác động của truyền thông đại chúng Việc nghiên cứu tác động của các PTTTDC được tác giả M.Weber nêu ra từ năm 1910 [72]. Nhà nghiên cứu này đã luận chứng về mặt phương pháp luận cho sự cần thiết của môn xã hội học báo chí và vạch ra phạm vi các vấn đề nghiên cứu, bao gồm: hướng vào các tập đoàn các tầng lớp xã hội khác nhau; phân tích các yêu cầu xã hội đối với nhà báo; coi trọng phương pháp phân tích báo chí; phân tích hiệu quả của báo chí đối với việc xây dựng con người.Weber đã chỉ ra tác dụng của báo chí trong việc hình thành ý thức quần chúng và vạch ra mối liên hệ của các nhân tô này với hành động xã hội của các cá nhân, các tầng lớp xã hội.

Trong lịch sử nghiên cứu về tác động xã hội của truyền thông đại chúng, theo tác giả J.Lazar có thé phân biệt ba giai đoạn khác nhau [dẫn theo 79]. Bao gồm: (1) Giai đoạn đầu, từ thập niên 1940 cho tới khoảng năm 1945: các nhà nghiên cứu cho rằng các PTTTĐC có một sức mạnh “vạn năng”; (2) Giai đoạn từ thập niên 1940 tới thập niên 1960: giới nghiên cứu nhận ra tính tương đối trong sự tác động của truyền thông đại chúng, và bác bỏ ý tưởng cho răng truyền thông đại chúng có thê ảnh hưởng trực tiếp lên suy nghĩ và ứng xử của người dân; (3) Giai đoạn thứ ba- bắt đầu từ giữa thập niên 1960 cho tới ngày nay: giới nghiên cứu có xu hướng đặt lại vấn đề và nghi ngờ có lẽ ảnh hưởng của truyền thông đại chúng không phải là yếu ớt và ít ỏi như trước đó người ta vẫn nghĩ, đặc biệt khi ra đời và phát triển các phương tiện như truyền hình và internet. Vào thập kỷ 40 của thế kỷ XX, các nghiên cứu về lý thuyết “sử dụng và hài lòng” được khởi xướng tại Mỹ, cho thấy con người dựa vào các nhu cầu cơ bản của mình như: cần tiếp nhận thông tin, nhu cầu giải trí, đáp ứng về tinh thần và tâm lý, mở rộng quan hệ xã hội, đề tiếp xúc với các phương tiện truyền thông. Tác giả Denis Mc Quail trong cuén Communication Models for the study of mass communication 23 nhấn mạnh rằng “không phải nghiên cứu việc các phương tiện truyền thông đã làm gì cho con người, mà chúng ta phải nghiên cứu con người đã làm gì thông qua những phương tiện truyền thông” [1 15].

Góc độ tiếp cận trên được nhìn từ phía công chúng, nghĩa là phân tích về mục đích mà công chúng tiếp xúc với phương tiện truyền thông và họ đã được đáp ứng thỏa mãn nhu cầu mong muốn như thế nào. Từ đó đánh giá được lợi ích mà truyền thông đại chúng mang lại và tác động vào nhận thức, tâm lý, hành vi của công chúng. Cũng đánh giá tác động của báo chí, tác giả Bernard Cohen trong tác phẩm “The Press and Foreign Policy” đã nêu: “Báo chi có thé không thành công khi muốn người ta nghĩ thé nào, nhưng nó đã thành công một cách đáng ngạc nhiên khi muốn họ nghĩ về cái gì” [111]. Nghiên cứu về cơ chế tác động của truyền thông đại chúng, các nhà nghiên cứu nước ngoài đã đưa ra nhiều mô hình truyền thông nhằm khái quát về hiện tượng truyền thông.

Nhà khoa học xã hội Harold Lasswell năm 1948 mô tả truyền thông bao gồm các yếu tố: Nguồn phát (từ ai?) > Thông điệp (nói gì?) > Kênh (bằng kênh nào?) > Người nhận (đến ai?) > Hiệu quả thế nào? Mô hình do tác giả Claude Shannon đưa ra năm 1949 là mô hình truyền thông hai chiều, đã khắc phục hạn chế của mô hình truyền thông một chiều của Harold Lasswell, trong đó nhắn mạnh vai trò của thông tin phản hồi, yếu tố nhiễu và chú ý tới hiệu quả truyền thông. Mô hình truyền thông hai chiều mềm dẻo là biểu hiện và phản ánh một trình độ phát triển cao của xã hội loài người. Những phản ứng của công chúng sau khi tiếp nhận các sản phẩm truyền thông sẽ là một trong số các yêu tố quyết định hoạt động truyền thông tiếp theo [dan theo 88; tr. Nghiên cứu về vai trò của truyền thông đại chúng, trong cuỗn “Media Power in politics” (tạm dịch: Sức mạnh của truyền thông trong đời sống chính trị) do Doris A.Graber biên soạn [118], với nhiều bài viết của các tác giả như Denis Mc Quail, Water Lippmann, Larry J.Sabato đã phân tích về vai trò, tác động của truyền thông và dư luận xã hội đôi với đời sông chính trị hiện đại.

Thông qua thực tê các cuộc vận 24 động tranh cử của Mỹ, cuốn sách đề cao ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thông đại chúng đặc biệt là báo chí đối với quan điểm chính trị của các tầng lớp dân cư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Cải cách hải quan Việt Nam: Luận án tiến sĩ về báo chí học và hội nhập quốc tế" khám phá những thay đổi quan trọng trong hệ thống hải quan của Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của báo chí trong việc nâng cao nhận thức và thúc đẩy sự hội nhập quốc tế. Tác giả phân tích các chính sách cải cách, những thách thức và cơ hội mà ngành hải quan đang đối mặt, đồng thời chỉ ra tầm quan trọng của việc truyền thông hiệu quả để hỗ trợ quá trình này. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách mà báo chí có thể góp phần vào sự phát triển bền vững của hệ thống hải quan, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ quản lý khoa học và công nghệ chính sách tài chính điều chỉnh di động xã hội của nhân lực khoa học và công nghệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế nghiên cứu trường hợp viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam. Bài viết này sẽ cung cấp thêm thông tin về chính sách tài chính và quản lý khoa học trong bối cảnh hội nhập, giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa các lĩnh vực này.