Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về báo chí đối với vấn đề cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế; Chương 3: Đánh giá thực trạng thông tin về vấn đề cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam trên báo chí; Chương 4: Vai trò, tác động của báo chí đối với công chúng về vấn đề cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam; Chương 5: Một số van đề đặt ra và giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò, chất lượng của báo chí đối với cải cách hiện đại hóa Hải quan thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế. Nội dung của Luận án sẽ được trình bày theo thứ tự các chương nói trên. 20 CHUONG I: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN DE TAI LUAN AN 1. Các nghiên cứu về chức năng, vai trò, tác động của báo chí 1.
Nghiên cứu nước ngoài Về phương diện lý luận, tác giả E.Prôkhôrôp (Nga) trong cuốn Cơ sở hy luận của báo chí (tập 1) đã chỉ ra chức năng khởi đầu của báo chí là chức năng giao tiếp (communication), tổ chức các mối dây liên hệ với công chúng và các thiết chế xã hội. Chức năng thứ hai và quan trọng hơn cả là các chức năng của thông tin dai chúng, xác định vai trò của báo chí trong thực hiện các nhu cầu trọng yếu của những “người kết ước” với nó- đó là các thiết chế xã hội và công chúng. Các chức năng tư tưởng của báo chí thé hiện ở chỗ nó thường xuyên thúc day sự tăng cường và phát triển ý thức tự giác của quan chúng bằng định hướng toàn diện trong thực tiễn, được thé hiện trong quá trình hình thành các thành tố của ý thức đại chúng, trong đó đặc biệt chú ý đến những nhiệm vụ phát triển và nâng cao tính tích cực của dư luận xã hội [106; tr. Theo nha xã hội hoc Robert K.Merton (Mỹ) trong bài viết Some social functions of the mass media (tạm dịch: Một số chức năng xã hội của truyền thông đại ching), truyền thông đại chúng thực hiện nhiều chức năng khác nhau.
Căn cứ trên thuộc tính và bản chất thông tin mang tính tự thân của PTTTĐC, Robert K.Merton chỉ ra nhóm chức năng xã hội; căn cứ trên cau trúc về quyền sở hữu và điều hành đối với PTTTDC ông đề xuất các chức năng thuộc về nhận thức/tư tưởng như là thiết lập sự tuân thủ, hay tác động đến thị hiếu đại chúng mà báo chí và các PTTTĐC thực thi. Đồng thời có yếu tô phản chức năng như là sự gây mê do tình trang dư thừa thông tin và tính chất thụ động ở người tiếp nhận [ 140]. Nhà nghiên cứu Maxwell E. McCombs và Donald L.
21 Nghiên cứu tiến hành đánh giá về mối quan hệ giữa nội dung truyền thông đại chúng và các mối quan tâm của cử tri trong quá trình vận động bau cử tổng thống tại thị tran Chapel Hill (bang North Carolina, Mỹ) vào năm 1968. Với việc nghiên cứu nội dung truyền thông trên 5 tờ báo, 2 tạp chí, đồng thời tiến hành điều tra xem cử tri quan tâm tới những van dé gì nhiều nhất, McCombs và Shaw đã rút ra kết luận là các PTTTĐC có chức năng lập ra “chương trình nghị sự” cho công chúng dé công chúng theo dõi và thảo luận. Những van đề được nhắn mạnh trên các phương tiện truyền thông đều được cử tri quan tâm theo dõi. Nội dung cốt lõi của chức năng “thiết lập chương trình nghị sự” là các PTTTĐC có thể thu hút sự chú ý của công chúng vao một số van đề nhất định nao đó, đồng thời tránh né (hay quên đi) một số vấn đề khác.
Công trình nghiên cứu sau đó của Donald Shaw và S. Martin la The Funtion of Mass Media Agenda Setting [1 17; tr.902-920] đưa ra nhận định rang chức năng “Thiết lập chương trình nghị sự” có tác dụng làm gia tang sự déng thuận xã hội trong nội bộ các nhóm xã hội. Thiết lập chương trình nghị sự sau này cũng được nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục sử dụng đề đánh giá vai trò, tác động của truyền thông đại chúng đối với công chúng. Như công trình Agenda Setting role of mass media, 2008 (tạm dịch: Vai trò thiết lập chương trình nghị sự của truyền thông đại chúng) nhẫn mạnh các tổ chức truyền thông không chỉ là người truyền tải thông tin một cách thụ động, lặp lại lời nói của các nguồn chính thức hoặc truyền tải chính xác các sự kiện, mà thông qua việc lựa chọn và trình bày tin tức hàng ngày, các biên tập viên và phóng viên tập trung sự chú ý vào nhận thức của công chúng về những vấn đề quan trọng nhất trong ngày [145].
Nghiên cứu What Is Most Important for My Country Is Not Most Important for Me: Agenda-Setting Effects in China, 2012 (tam dịch: Diéu gi quan trọng nhất đối với đất nước của tôi, Không quan trọng nhất đổi với tôi: Hiệu ứng thiết lập chương trình nghị sự ở Trung Quốc), đã tiễn hành khảo sát ý kiến công chúng và phân tích nội dung của 3 tờ báo nồi tiếng nhất ở Thượng Hải (Trung Quốc), đồng thời khảo sát công chúng dé thăm dò xem van dé nào mà mọi người coi là quan trọng nhất đối với đât nước của họ và cũng như đôi với chính họ. Với 7 vân đê được khái quát từ nội 22 dung truyền thông của báo chí, công trình nghiên cứu phan nao khang định sự tồn tại của các tác động thiết lập chương trình nghị sự ở Trung Quốc, một quốc gia từ trước đến nay luôn nhân mạnh vai trò của việc sử dụng phương tiện thông tin trong việc định hình dư luận đối với chính sách chính thức của nhà nước [123]. Về nghiên cứu tác động của truyền thông đại chúng Việc nghiên cứu tác động của các PTTTDC được tác giả M.Weber nêu ra từ năm 1910 [72]. Nhà nghiên cứu này đã luận chứng về mặt phương pháp luận cho sự cần thiết của môn xã hội học báo chí và vạch ra phạm vi các vấn đề nghiên cứu, bao gồm: hướng vào các tập đoàn các tầng lớp xã hội khác nhau; phân tích các yêu cầu xã hội đối với nhà báo; coi trọng phương pháp phân tích báo chí; phân tích hiệu quả của báo chí đối với việc xây dựng con người.Weber đã chỉ ra tác dụng của báo chí trong việc hình thành ý thức quần chúng và vạch ra mối liên hệ của các nhân tô này với hành động xã hội của các cá nhân, các tầng lớp xã hội.
Trong lịch sử nghiên cứu về tác động xã hội của truyền thông đại chúng, theo tác giả J.Lazar có thé phân biệt ba giai đoạn khác nhau [dẫn theo 79]. Bao gồm: (1) Giai đoạn đầu, từ thập niên 1940 cho tới khoảng năm 1945: các nhà nghiên cứu cho rằng các PTTTĐC có một sức mạnh “vạn năng”; (2) Giai đoạn từ thập niên 1940 tới thập niên 1960: giới nghiên cứu nhận ra tính tương đối trong sự tác động của truyền thông đại chúng, và bác bỏ ý tưởng cho răng truyền thông đại chúng có thê ảnh hưởng trực tiếp lên suy nghĩ và ứng xử của người dân; (3) Giai đoạn thứ ba- bắt đầu từ giữa thập niên 1960 cho tới ngày nay: giới nghiên cứu có xu hướng đặt lại vấn đề và nghi ngờ có lẽ ảnh hưởng của truyền thông đại chúng không phải là yếu ớt và ít ỏi như trước đó người ta vẫn nghĩ, đặc biệt khi ra đời và phát triển các phương tiện như truyền hình và internet. Vào thập kỷ 40 của thế kỷ XX, các nghiên cứu về lý thuyết “sử dụng và hài lòng” được khởi xướng tại Mỹ, cho thấy con người dựa vào các nhu cầu cơ bản của mình như: cần tiếp nhận thông tin, nhu cầu giải trí, đáp ứng về tinh thần và tâm lý, mở rộng quan hệ xã hội, đề tiếp xúc với các phương tiện truyền thông. Tác giả Denis Mc Quail trong cuén Communication Models for the study of mass communication 23 nhấn mạnh rằng “không phải nghiên cứu việc các phương tiện truyền thông đã làm gì cho con người, mà chúng ta phải nghiên cứu con người đã làm gì thông qua những phương tiện truyền thông” [1 15].
Góc độ tiếp cận trên được nhìn từ phía công chúng, nghĩa là phân tích về mục đích mà công chúng tiếp xúc với phương tiện truyền thông và họ đã được đáp ứng thỏa mãn nhu cầu mong muốn như thế nào. Từ đó đánh giá được lợi ích mà truyền thông đại chúng mang lại và tác động vào nhận thức, tâm lý, hành vi của công chúng. Cũng đánh giá tác động của báo chí, tác giả Bernard Cohen trong tác phẩm “The Press and Foreign Policy” đã nêu: “Báo chi có thé không thành công khi muốn người ta nghĩ thé nào, nhưng nó đã thành công một cách đáng ngạc nhiên khi muốn họ nghĩ về cái gì” [111]. Nghiên cứu về cơ chế tác động của truyền thông đại chúng, các nhà nghiên cứu nước ngoài đã đưa ra nhiều mô hình truyền thông nhằm khái quát về hiện tượng truyền thông.
Nhà khoa học xã hội Harold Lasswell năm 1948 mô tả truyền thông bao gồm các yếu tố: Nguồn phát (từ ai?) > Thông điệp (nói gì?) > Kênh (bằng kênh nào?) > Người nhận (đến ai?) > Hiệu quả thế nào? Mô hình do tác giả Claude Shannon đưa ra năm 1949 là mô hình truyền thông hai chiều, đã khắc phục hạn chế của mô hình truyền thông một chiều của Harold Lasswell, trong đó nhắn mạnh vai trò của thông tin phản hồi, yếu tố nhiễu và chú ý tới hiệu quả truyền thông. Mô hình truyền thông hai chiều mềm dẻo là biểu hiện và phản ánh một trình độ phát triển cao của xã hội loài người. Những phản ứng của công chúng sau khi tiếp nhận các sản phẩm truyền thông sẽ là một trong số các yêu tố quyết định hoạt động truyền thông tiếp theo [dan theo 88; tr. Nghiên cứu về vai trò của truyền thông đại chúng, trong cuỗn “Media Power in politics” (tạm dịch: Sức mạnh của truyền thông trong đời sống chính trị) do Doris A.Graber biên soạn [118], với nhiều bài viết của các tác giả như Denis Mc Quail, Water Lippmann, Larry J.Sabato đã phân tích về vai trò, tác động của truyền thông và dư luận xã hội đôi với đời sông chính trị hiện đại.
Thông qua thực tê các cuộc vận 24 động tranh cử của Mỹ, cuốn sách đề cao ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thông đại chúng đặc biệt là báo chí đối với quan điểm chính trị của các tầng lớp dân cư.