Luận văn thạc sĩ: Lựa chọn thông số kênh dẫn dòng thi công thủy lợi - Phạm Văn Trụ

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Chọn thông số kênh dẫn dòng thi công thủy lợi, thủy điện" theo yêu cầu: { "ai_description": "Tìm hiểu cách chọn thông số

Trường đại học

Trường Đại học Thủy lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

150
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kênh dẫn dòng thi công thủy lợi thủy điện

Kênh dẫn dòng là hạng mục công trình tạm thời có vai trò quan trọng trong thi công công trình thủy lợi, thủy điện. Chức năng chính của kênh dẫn dòng là điều hướng dòng chảy tự nhiên ra khỏi khu vực thi công, tạo điều kiện khô ráo cho việc xây dựng hố móng và các hạng mục chính. Việc lựa chọn thông số kênh dẫn dòng hợp lý ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn thi công, tiến độ và chi phí công trình. Các thông số cơ bản cần xác định bao gồm độ dốc đáy kênh, chiều rộng đáy kênh, cao trình cửa vào và hình dạng mặt cắt ngang. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Thủy lợi, việc tính toán chính xác các thông số này giúp giảm thiểu khối lượng đào đắp, tối ưu hóa chi phí thi công. Phương án dẫn dòng qua kênh được áp dụng phổ biến khi lưu lượng dòng chảy không quá lớn và địa hình cho phép bố trí kênh dẫn phù hợp.

1.1. Vai trò của kênh dẫn dòng trong thi công thủy lợi

Kênh dẫn dòng đảm nhận nhiệm vụ dẫn nước từ thượng lưu xuống hạ lưu công trình trong suốt quá trình thi công. Hệ thống này bao gồm kênh dẫn dòng và đê quai ngăn nước. Đê quai là đập tạm ngăn dòng chảy chính, trong khi kênh dẫn dòng là đường dẫn nước đi qua khu vực thi công. Việc bố trí hợp lý hai hạng mục này quyết định hiệu quả dẫn dòng thi công. Kênh dẫn dòng phải đảm bảo thoát nước an toàn, không gây ngập úng cho công trình đang thi công và không ảnh hưởng đến khu vực xung quanh.

1.2. Các thông số cơ bản của kênh dẫn dòng

Các thông số chính của kênh dẫn dòng bao gồm: độ dốc đáy kênh (i), chiều rộng đáy kênh (b), hệ số mái nghiêng (m), độ sâu nước thiết kế (h) và lưu lượng thiết kế (Q). Độ dốc đáy kênh ảnh hưởng đến vận tốc dòng chảy và mực nước thượng lưu. Chiều rộng đáy kênh quyết định khả năng thoát nước và khối lượng đào đất. Hệ số mái nghiêng phụ thuộc vào loại đất nền và điều kiện thi công. Mỗi thông số có mối quan hệ mật thiết với nhau, cần được tính toán đồng thời để đảm bảo hiệu quả kinh tế kỹ thuật tối ưu.

II. Các vấn đề trong lựa chọn thông số kênh dẫn dòng

Lựa chọn thông số kênh dẫn dòng là vấn đề phức tạp, đòi hỏi cân bằng giữa nhiều yếu tố kỹ thuật và kinh tế. Độ dốc đáy kênh là thông số quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến vận tốc dòng chảy và mực nước thượng lưu kênh. Độ dốc quá lớn gây xói lở lòng kênh, trong khi độ dốc quá nhỏ khiến kênh phải đào sâu hơn, tăng khối lượng đất đá. Chiều rộng đáy kênh cũng đặt ra thách thức tương tự: rộng quá gây lãng phí đất đào, hẹp quá không đáp ứng lưu lượng thoát nước. Cao trình cửa vào kênh quyết định trực tiếp đến khối lượng đào kênh và đắp đê quai. Các nghiên cứu tại Trường Đại học Thủy lợi cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa các thông số này với mực nước thượng lưu, đòi hỏi phương pháp tính toán chính xác để tìm giá trị tối ưu.

2.1. Ảnh hưởng của độ dốc kênh dẫn dòng đến mực nước thượng lưu

Độ dốc đáy kênh dẫn dòng có ảnh hưởng quyết định đến mực nước thượng lưu. Khi độ dốc tăng, vận tốc dòng chảy tăng làm giảm độ sâu nước trong kênh, từ đó hạ thấp mực nước thượng lưu. Ngược lại, độ dốc nhỏ khiến dòng chảy chậm lại, nước dâng cao ở thượng lưu. Nghiên cứu chỉ ra rằng tồn tại một độ dốc phân giới (ik) phân biệt dòng chảy siêu tới hạn và dưới tới hạn. Với độ dốc nhỏ hơn độ dốc phân giới, dòng chảy dưới tới hạn và mực nước thượng lưu bị ảnh hưởng mạnh bởi điều kiện hạ lưu. Cần tính toán kỹ lưỡng để xác định độ dốc tối ưu cho từng trường hợp cụ thể.

2.2. Ảnh hưởng của chiều rộng đáy kênh dẫn dòng

Chiều rộng đáy kênh dẫn dòng ảnh hưởng lớn đến diện tích mặt cắt ướt và khả năng thoát nước. Khi chiều rộng đáy tăng với cùng lưu lượng, độ sâu nước giảm dẫn đến hạ thấp mực nước thượng lưu. Tuy nhiên, tăng chiều rộng đáy đồng nghĩa với tăng diện tích chiếm đất và khối lượng đào đất. Ngược lại, chiều rộng đáy nhỏ đòi hỏi đào kênh sâu hơn, tăng chi phí thi công và có thể gây khó khăn trong việc bố trí đê quai. Nghi cứu cho thấy mối quan hệ tuyến tính giữa chiều rộng đáy kênh với khối lượng đào đắp, cần tìm điểm cân bằng tối ưu giữa tiết diện thủy lực và khối lượng thi công.

III. Phương pháp xác định thông số kênh dẫn dòng hợp lý

Phương pháp xác định thông số kênh dẫn dòng hợp lý dựa trên nguyên lý thủy lực dòng chảy mở kết hợp với tối ưu hóa kinh tế kỹ thuật. Quy trình tính toán bao gồm các bước chính: xác định lưu lượng thiết kế, chọn sơ bộ hình dạng mặt cắt, tính toán độ sâu dòng chảy đều, kiểm tra điều kiện chảy ngập và tính cột nước trước cửa vào kênh. Công thức Chezy và Manning được sử dụng phổ biến để tính toán vận tốc dòng chảy trong kênh dẫn. Đối với kênh dẫn dòng thi công, điều kiện chảy ngập thường được ưu tiên để giảm chiều sâu đào kênh. Phương pháp tính toán cột nước trước cửa vào kênh dựa trên nguyên lý Bernoulli có xét đến hệ số tổn thất. Việc áp dụng phần mềm tính toán giúp rút ngắn thời gian và tăng độ chính xác của kết quả.

3.1. Quy trình tính toán độ dốc đáy kênh

Quy trình tính toán độ dốc đáy kênh bắt đầu bằng xác định độ dốc phân giới ik. Độ dốc phân giới được tính theo công thức dựa trên lưu lượng, diện tích mặt cắt ướt và bán kính thủy lực tại trạng thái dòng chảy phân giới. So sánh độ dốc thực tế i với độ dốc phân giới ik để xác định tính chất dòng chảy. Với i < ik, dòng chảy dưới tới hạn, cột nước trước cửa vào phụ thuộc vào điều kiện ngập. Với i > ik, dòng chảy siêu tới hạn, cột nước được tính theo công thức dòng chảy nhanh. Giá trị độ dốc tối ưu thường nằm trong khoảng 0,001 đến 0,005 tùy thuộc điều kiện địa hình.

3.2. Tối ưu hóa chiều rộng đáy kênh

Tối ưu hóa chiều rộng đáy kênh dựa trên nguyên tắc tiết diện lợi nhất về thủy lực kết hợp với phân tích kinh tế. Tiết diện lợi nhất là tiết diện có bán kính thủy lực lớn nhất với cùng diện tích mặt cắt ướt. Đối với kênh hình thang, tiết diện lợi nhất có quan hệ: b = 2h(√(1+m²) - m), trong đó h là độ sâu nước, m là hệ số mái nghiêng. Tuy nhiên, trong thực tế thi công, chiều rộng đáy kênh cần xem xét thêm yếu tố thi công, bố trí máy móc và vận chuyển vật liệu. Giá trị tối ưu được xác định bằng phương pháp thử nghiệm nhiều phương án, so sánh tổng chi phí đào đắp và chi phí vật liệu đê quai.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tế chọn thông số kênh dẫn dòng

Nghiên cứu lựa chọn thông số kênh dẫn dòng thi công thủy lợi, thủy điện đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa các thông số kỹ thuật với hiệu quả kinh tế. Độ dốc đáy kênh, chiều rộng đáy kênh và cao trình cửa vào là ba thông số chính cần được tính toán đồng thời. Kết quả nghiên cứu cho thấy: độ dốc kênh hợp lý nằm trong khoảng 0,001-0,003 đối với điều kiện địa hình đồng bằng; chiều rộng đáy kênh tối ưu phụ thuộc vào lưu lượng thiết kế và loại đất nền; cao trình cửa vào cần được xác định để cân bằng giữa khối lượng đào kênh và đắp đê quai. Phương pháp tính toán dựa trên nguyên lý thủy lực dòng chảy mở kết hợp tối ưu hóa kinh tế cho kết quả chính xác và khả thi. Các kết quả nghiên cứu đã được áp dụng thành công trong nhiều công trình thủy lợi tại Thanh Hóa và các tỉnh phía Bắc.

4.1. Ứng dụng trong thi công công trình thủy lợi

Kết quả nghiên cứu được áp dụng rộng rãi trong thi công các công trình thủy lợi như đập dâng nước, cống lấy nước và kênh mương nội đồng. Tại các công trình này, kênh dẫn dòng thường có lưu lượng từ 5-50 m³/s, độ dốc đáy kênh 0,001-0,002. Việc áp dụng phương pháp tính toán tối ưu giúp giảm 15-25% khối lượng đào đắp so với phương pháp truyền thống. Đặc biệt, đối với các công trình trên nền đất yếu, việc xác định chính xác thông số kênh dẫn giúp đảm bảo ổn định mái đào và giảm thiểu rủi ro sạt lở trong quá trình thi công.

4.2. Ứng dụng trong thi công công trình thủy điện

Đối với công trình thủy điện, kênh dẫn dòng có đặc thù lưu lượng lớn và thời gian thi công dài. Các thông số kênh dẫn dòng cần được tính toán với hệ số an toàn cao hơn. Nghiên cứu đề xuất áp dụng hệ số an toàn 1,2-1,5 cho lưu lượng thiết kế và tăng cường biện pháp bảo vệ mái kênh bằng đá hộc hoặc bê tông. Tại các dự án thủy điện miền núi, kênh dẫn dòng thường kết hợp với hầm dẫn nước, đòi hỏi tính toán chính xác cao trình cửa vào để đảm bảo dòng chảy liên tục. Phương pháp tối ưu hóa đã được áp dụng thành công tại các công trình thủy điện vừa và nhỏ với hiệu quả kinh tế cao.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

17/04/2026
Luận văn thạc sĩ file word nghiên cứu lựa chọn các thông số hợp lý kênh dẫn dòng khi thi công công trình thủy lợi thủy điện

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC DẪN DÒNG THI CÔNG VÀ KÊNH DẪN DÒNG KHI THI CÔNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN 1. Vị trí, ý nghĩa của công tác dẫn dòng thi công Dẫn dòng thi công là một hạng mục công trình thường không thể thiếu được trong quá trình xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện. Đây là một trong những nội dung chủ yếu của thiết kế tổ chức xây dựng các công trình thủy công và phụ thuộc nhiều vào việc bố trí các công trình đầu mối. Lựa chọn phương án dẫn dòng hoặc công trình dẫn dòng ảnh hưởng lớn đến kế hoạch tiến độ thi công và giá thành công trình.

Khi lựa chọn phương án dẫn dòng cần phải tính toán sao cho kinh phí nhỏ nhất, thi công thuận lợi, an toàn nhất mà vẫn đảm bảo nước từ thượng lưu về hạ lưu, duy trì dòng chảy tự nhiên và phát huy yếu tố lợi dụng tổng hợp. Ngoài ra, việc chọn phương án dẫn dòng thi công hợp lý còn cho phép sớm phát huy hiệu quả công trình ngay trong thời gian thi công. Với mỗi công trình, quy mô và thời gian xây dựng khác nhau, điều kiện địa hình, địa chất từng công trình khác nhau, yêu cầu lợi dụng tổng hợp nguồn nước khác nhau do đó phương án dẫn dòng thi công không giống nhau. Tuy nhiên công tác dẫn dòng có chung những nội dung chính sau: - Lựa chọn xác định phương án dẫn dòng.

- Tính toán thiết kế các công trình dẫn dòng (Kênh, cống, tuy nen, tràn tạm,…). - Thiết kế công trình ngăn dòng và đê quai bao quanh hố móng đảm bảo hố móng được thi công khô ráo. - Lợi dụng tổng hợp dòng chảy tự nhiên ở mức cao nhất. 4 Có trường hợp đặc biệt do điều kiện dẫn dòng thi công khó khăn phải thay đổi tuyến công trình chính để đơn giản sơ đồ dẫn dòng, mặc dù điều này làm tăng khối lượng công trình chính.

Ví dụ như công trình thủy điện Tam Hiệp ở Trung Quốc và công trình thủy điện Sơn La, hồ chứa Nà Tấc ở nước ta, trong thiết kế đã phải điều chỉnh tuyến công trình để đơn giản hóa phương án dẫn dòng. Theo nghiên cứu tỷ lệ giá thành của các công trình dẫn dòng thường chiếm (7 ÷ 20)% giá thành xây dựng đập (Bảng 1-1): Bảng 1.1: Tỷ lệ giá thành công trình dẫn dòng so với giá thành đập Tỷ lệ giá thành Lưu lượng dẫn Tháo lưu lượng thi công trình dẫn Tên công trình dòng tính toán công qua dòng so với đập (m3/s) (%) Hồ Gò Miếu 11,5 Kênh dẫn 8 Hồ Khuổi Khe 76 Cống dẫn dòng 18 Hồ Bó Vàng 7 Cống dẫn dòng 10 Hồ chứa Hà Động 23,98 Lỗ xả tràn 15 Hồ Hồng Kếnh 4,21 Kênh dẫn 7 Thủy điện Na Kênh dẫn và đập 4938 18 Hang xây dựng dở Hồ suối Nứa 171 Kênh dẫn 9 Kênh dẫn + 2 lỗ xả Thủy điện Sơn La 16562 16 của cống 5 Công trình dẫn dòng ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và thời gian thi công hoàn thành công trình. Dẫn dòng thi công chiếm vị trí quan trọng trong công tác thiết kế tổ chức thi công và bố trí tổng thể các công trình lâu dài. Do vậy, việc nghiên cứu để lựa chọn giải pháp dẫn dòng thi công hợp lý cho mỗi công trình là vấn đề khoa học, cần phải cân nhắc đầy đủ dựa trên cơ sở kỹ thuật, kinh tế và vấn đề xã hội.

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương án dẫn dòng thi công Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn phương án dẫn dòng, nhưng chủ yếu tập trung vào các nhân tố sau: 1. Điều kiện tự nhiên 1. Địa hình Điều kiện địa hình của khu vực công trình đầu mối thường là yếu tố chủ yếu quyết định phương án dẫn dòng: Độ dốc hai bờ, lòng sông rộng hay hẹp, bãi bồi ở khu vực lòng sông; địa hình lân cận dốc hay thoải; khả năng cho phép thu hẹp dòng chảy, khả năng đào kênh dẫn dòng, lợi dụng yên ngựa để xả lũ. Ví dụ: Công trình thuỷ điện Nậm Na 2 được xây dựng trên sông Nậm Na thuộc địa phận xã Phìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu cách thị xã Lai Châu khoảng 15km về phía Tây Bắc.

Đặc điểm về địa hình của khu vực dự án là núi cao và lòng sông rộng, địa hình dốc, bị chia cắt nhiều bởi khe và suối từ hai bên đổ vào sông Nậm Na. Từ những phân tích địa hình: với lòng sông rộng, bên bờ trái công trình đầu mối có bãi bồi về mùa kiệt có thể dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp bờ phải. Lợi dụng vị trí tuyến kênh dẫn vào và kênh dẫn ra Nhà máy lựa chọn 6 phương án đào kênh dẫn dòng bờ trái, phục vụ dẫn dòng trong mùa lũ năm thứ nhất và các giai đoạn sau. Phương án dẫn dòng thi công được chọn như sau: Qđến/Qtháo TT P(%) Thời gian Biện pháp dẫn dòng (m3/s) Từ tháng 12 năm 2008 Dẫn dòng qua lòng 1 10 đến tháng 04 năm 2009 526/526 sông thu hẹp bờ phải (mùa kiệt năm XD1) Từ tháng 05 năm 2009 Dẫn dòng qua lòng 2 5 đến tháng 11 năm 2009 3260/3260 sông, kênh dẫn dòng (mùa lũ năm XD1) Từ tháng 12 năm 2009 Dẫn dòng qua kênh 3 10 đến tháng 04 năm 2010 526/526 dẫn dòng bờ trái (mùa kiệt năm XD2) Từ tháng 05 năm 2010 Dẫn dòng qua kênh 4 5 đến tháng 11 năm 2010 dẫn dòng bờ trái và 3260/3260 (mùa lũ năm XD2) đập tràn xây dở Từ tháng 12 năm 2010 Dẫn dòng qua 04 hầm 5 10 đến tháng 04 năm 2011 dẫn dòng: bxh = 526/526 (mùa kiệt năm XD3) 5x6m Từ tháng 05 năm 2011 Dẫn dòng qua 04 hầm 6 5 đến tháng 11 năm 2011 dẫn dòng và 04 3260/3260 (mùa lũ năm XD3) khoang tràn xây dở Từ tháng 12 năm 2011 Dẫn dòng qua 04 hầm 526/526 7 10 đến tháng 04 năm 2012 dẫn dòng (mùa kiệt năm XD4) 1.

Đặc điểm địa chất và địa chất thủy văn Địa chất có ảnh hưởng đến việc mở mái dốc hai bên bờ, thi công bóc bỏ hay xử lý tầng phủ lòng sông, mức độ thu hẹp lòng sông và bờ sông, do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến phương án dẫn dòng. Với điều kiện địa chất tốt 7 có thể tăng mức độ thu hẹp lòng sông khi dẫn dòng vào mùa lũ; nền công trình nứt nẻ ít không phải khoan phụt xử lý nền. Ví dụ: Công trình Hồ Hà Động (Quảng Ninh) mùa lũ dẫn dòng qua phần lòng sông thu hẹp, gia cố mái đập phần tiếp giáp với dòng chảy bằng tấm bê tông lát mái thượng lưu, lòng suối vùng hạ lưu đập đảm bảo ổn định chống xói. Thủy điện Supan ở Sơn La, nền công trình ít bị nứt nẻ, không phải khoan phụt gia cố nền do vậy thời gian mùa khô tập trung cho việc đắp đập đẩy nhanh tiến độ.

Công trình thủy điện Bình Điền tỉnh Thừa Thiên Huế nền tuyến công trình bị nứt nẻ nhiều nên mùa khô năm đầu tiên phải tập trung khoan phụt dung dịch chống thấm để xử lý nền do vậy tiến độ thi công đập bị chậm lại. Địa chất thủy văn, vấn đề nước ngầm dưới đất cao hay thấp cũng ảnh hưởng đến việc chọn vật liệu làm đê quai cho phù hợp với địa chất nền, hình thức tiêu nước hố móng. Đặc điểm khí tượng thủy văn dòng chảy Sông có lưu lượng lớn hay nhỏ, chênh lệch cột nước và biên độ lưu lượng của mùa lũ và mùa khô, lưu lượng đỉnh lũ và quy luật xuất hiện … đều trực tiếp ảnh hưởng tới phương án dẫn dòng. Đối với dòng sông có lưu lượng lớn, quá trình xây dựng thường chia ra hai thời đoạn dẫn dòng, mùa khô có thể dẫn dòng qua kênh hoặc cống, mùa lũ dẫn dòng qua công trình khác hoặc qua lòng sông thu hẹp.

Ví dụ: Công trình thủy điện Nậm Na 2 có lưu lượng mùa khô và mùa lũ chênh nhau rất lớn (Lưu lượng tính toán dẫn dòng mùa kiệt max là QKiệt10% = 526 m3/s; QLũ5% = 3260 m3/s ). Vì vậy, năm thứ nhất mùa kiệt dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp; mùa lũ lưu lượng lớn dẫn dòng qua lòng sông và kênh dẫn dòng bờ trái. 8 Công trình Hồ Hà Động (Quảng Ninh) lưu lượng thiết kế dẫn dòng mùa lũ Qlũ = 987,0 m3/s, mùa khô QTkdd kiệt = 23,98 m3/s, lưu lượng mùa lũ và mùa khô chênh nhau rất lớn, mùa khô dòng chảy được dẫn qua lỗ xả dưới tràn, mùa lũ dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp phần bờ trái. Với dòng sông có lưu lượng mùa khô không lớn, thường đê quai ngăn nước làm khô hố móng, công trình dẫn dòng là cống ngầm dưới thân đập kết hợp với kênh dẫn dòng, ví dụ như ở công trình hồ chứa nước Nậm Pông tỉnh Điện Biên; công trình hồ Quán Chẽ tỉnh Thái Nguyên; Hồ suối Nứa tỉnh Bắc Giang… Mùa khô kéo dài hay ngắn cũng ảnh hưởng đến thời gian thi công, cường độ đắp đập vượt lũ.

Trường hợp chênh lệch mực nước và lưu lượng giữa mùa khô và mùa lũ không lớn có thể đào kênh dẫn dòng đủ rộng để phục vụ dẫn dòng cả mùa khô và mùa lũ. Hình thức và bố trí công trình chính Hình thức kết cấu công trình thủy công, bố trí tổng thể và khối lượng công trình chính … là một trong những yếu tố quan trọng để đề xuất và lựa chọn phương án dẫn dòng. Quá trình dẫn dòng cần lợi dụng công trình lâu dài tham gia vào dẫn dòng để giảm giá thành xây dựng. Đối với đập đá đổ hoặc đá xây, đập bê tông có thể xem xét đến phương án cho nước tràn qua công trình đang xây dở trong mùa lũ.

Tuy nhiên trường hợp này cần phải so sánh phương án dựa trên cơ sở kỹ thuật và kinh tế … Ví dụ: Công trình thủy điện Nậm Na 2 lợi dụng vị trí và sử dụng công trình lâu dài tham gia dẫn dòng nên tiết kiệm được giá thành xây dựng công trình tạm là rất lớn, cụ thể như sau: 9 + Kênh dẫn vào và Kênh dẫn ra Nhà máy thủy điện. Thiết kế tuyến kênh dẫn dòng có vị trí tuyến và chiều rộng chính là vị trí tuyến và kích thước kênh dẫn vào và kênh dẫn ra của Nhà máy thủy điện. + Mùa lũ năm xây dựng thứ 2 dẫn dòng qua Kênh và Đập tràn xây dở; Mùa lũ năm xây dựng thứ 3 dẫn dòng qua 4 hầm dẫn dòng và 4 khoang tràn xây dở. Điều kiện xã hội, điều kiện thi công 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ