CHƯƠNG 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LOGIC MỆNH ĐỀ 1. Quá trình hình thành và phát triển của logic mệnh đề 1. Logic học của Aristotle Khởi điểm những vấn đề về logic học đã có trong triết học Hy lạp cổ đại, rải rác trong những tư tưởng của các nhà triết học như: Pacmenit, Zeno, Democrite,… Tuy nhiên, Aristotle (384 - 322 TCN) là người đầu tiên trình bày logic học với tư cách là một hệ thống lý thuyết.
Vì vậy, ông được coi là người khai sinh ra khoa học này. Những nội dung cơ bản, cốt lõi trong logic học của Aristotle được trình bày tập trung ở tác phẩm “Oganon”. Thực chất, đây là tập hợp các bài giảng và các nghiên cứu của ông được các học trò sau này biên tập lại với tên gọi như trên có nghĩa là công cụ của tư duy. Trong tác phẩm này, Aristotle bàn đến các khái niệm, phán đoán, ba quy luật của tư duy, suy luận, đặc biệt là tam đoạn luận và chứng minh.
Khái niệm được Aristotle xem xét chủ yếu trên hai phương diện là bản chất thực của sự vật được phản ánh trong tư duy và với tư cách là một hình thức của tư duy lý tính cấu thành nên phán đoán. Ông cũng bàn đến thao tác định nghĩa khái niệm, một số kiểu định nghĩa cơ bản và một số quy tắc định nghĩa khái niệm như: định nghĩa phải cân đối, định nghĩa phải tường minh và định nghĩa không nên phủ định. Khi bàn về phán đoán, Aristotle đã nhấn mạnh giá trị chân lý chân thực hoặc giả dối của các mệnh đề, vai trò của chủ từ và vị từ trong cấu trúc nội tại của một mệnh đề. Trung tâm trong học thuyết của Aristotle là các quy luật của tư duy và tam đoạn luận.
Ba quy luật cơ bản của tư duy đúng đắn đã được trình bày 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tương đối đầy đủ là quy luật đồng nhất, quy luật mâu thuẫn và quy luật loại trừ cái thứ ba. Trong ba quy luật này, ông đề cao quy luật cấm mâu thuẫn coi đây là nguyên tắc cơ bản của tư duy trừu tượng. Quy luật cấm mâu thuẫn yêu cầu trong tư duy không thể có hai khẳng định mâu thuẫn nhau cùng chân thực xét theo mối quan hệ với cùng đối tượng. Quy luật loại trừ cái thứ ba được xem như sự cụ thể hóa hơn của quy luật cấm mâu thuẫn.
Nhiều ý kiến cho rằng trong logic học của Aristotle, quy luật đồng nhất chưa được xem xét một cách xứng đáng như vai trò của nó đối với tư duy lý tính. Riêng quy luật lí do đầy đủ, Aristotle chưa phát biểu thành tên nhưng ông cũng đã bàn đến sự tác động của nó đối với quá trình tư duy trong “ Phân tích học thứ hai”. Aristotle có đóng góp to lớn đối với khoa học logic ở phần lý thuyết về tam đoạn luận. Học thuyết tam đoạn luận do ông xây dựng có sức mạnh lớn đến mức trong suốt một thời gian dài nó được xem là công cụ mẫu mực cho quá trình tìm kiếm chân lý.
Ở thời kì này, lý thuyết tập hợp chưa ra đời, nhưng bằng tư duy lý luận Aristotle đã chỉ ra được “14 công thức đúng với ba dạng hình” [41, tr. 46] của tam đoạn luận. Các phương thức đúng và dạng hình còn lại được các học trò của ông là Teofrast, Evdem và sau đó là C.Galen và Leibniz hoàn thiện. Ông cũng đã chỉ ra một số quy tắc cơ bản của tam đoạn luận, trong đó có quy tắc dành cho thuật ngữ, cho tiền đề và quy tắc riêng dành cho một số loại hình.
Ngoài ra, trên cơ sở tam đoạn luận và các quy tắc của nó, ông cũng đã xây dựng một số kiểu chứng minh cơ bản tương ứng với ba dạng hình cơ bản của tam đoạn luận mà ông đã xây dựng. Đồng thời, ông cũng đã chỉ ra những lỗi thường xảy ra trong phép chứng minh đặc biệt là những lỗi có tính chất ngụy biện. Học thuyết tam đoạn luận - nền tảng của suy luận diễn dịch trong logic học của Aristotle đã ảnh hưởng sâu sắc và rộng rãi đến nhận thức khoa học. Chẳng hạn, Euclid “do ấn tượng mạnh mẽ của logic học này đã viết tác phẩm “Những cơ sở của hình học”.
Đó là một tổng kết vĩ đại toàn bộ sự phát triển 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của toán học Hy Lạp ở ba thế kỉ trước, cũng ở đó phương pháp diễn dịch xây dựng lý thuyết khoa học đã thể hiện sức mạnh vô địch”[48, tr. Tóm lại, logic học do Aristotle xây dựng có giá trị và đóng góp to lớn đối với lịch sử phát triển của nhận thức khoa học nói chung và logic học nói riêng. Học thuyết này chưa đầy đủ và có nhiều hạn chế, nhưng dưới dạng phôi thai nó đã chứa đựng, bao hàm tất cả những vấn đề cốt lõi của các trào lưu học thuyết logic hiện đại sau này trong đó có logic mệnh đề. Nói cách khác, sự ra đời của các học thuyết logic sau này trong đó có logic mệnh đề, là sự tiếp tục và bổ sung, phát triển những vấn đề đã được đặt ra từ logic học của Aristotle.
Thời kì trung cổ, logic học của Aristotle được phát triển theo hướng tư biện bởi các nhà triết học kinh viện. Các nhà logic học có đóng góp lớn nhất trong thời kì này là Boexi (khoảng 480 - 524), P. Boexi không chỉ chú giải các tác phẩm của Aristotle mà còn nghiên cứu về thao tác phân chia ngoại diên khái niệm, các mệnh đề điều kiện (phép kéo theo) và mệnh đề phân liệt (phép tuyển). Occam có một số đóng góp trong việc phát triển tam đoạn luận đơn, phân định các kiểu đúng và không đúng của tam đoạn luận đơn và vấn đề phán đoán tình thái, v.v… Nhìn chung, trong suốt thời kì trung cổ, logic học không có nhiều bước tiến đáng kể.
Sự chú ý của các nhà logic học thời kì này chủ yếu vào logic diễn dịch theo hướng tư biện. Và logic học cũng chịu chung số phận như triết học và các khoa học khác, đều đặt dưới sự thống trị của nhà thờ và giáo hội. Các hướng cải cách logic học của Aristotle Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên thời kì phục hưng và cận đại đã dẫn đến yêu cầu phải tiếp tục bổ sung và hoàn thiện logic học với vai trò là công cụ cho quá trình nhận thức. Trong bối cảnh đó, nhiều nhà khoa học có tham vọng muốn cải tổ logic học của Aristotle, xây dựng một hệ thống 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com logic học mới với mong muốn cho nó trở thành logic phát minh, thành phương pháp nhận thức vạn năng cho mọi quá trình nghiên cứu khoa học.
Tiêu biểu cho các khuynh hướng này là R. Descartes (1596 - 1650) là nhà toán học, nhà triết học người Pháp. Theo ông thì tam đoạn luận mà Aristole xây dựng và đã được các nhà logic học thời kì trung cổ phát triển có chứa đựng một số quy tắc đúng và có ích cho việc trình bày những cái đã biết hơn là phát minh ra những cái còn chưa biết, mặc dù logic học quả thực là chứa đựng rất nhiều lời khuyên tốt và đúng nhưng cùng với chúng còn có nhiều cái có hại hoặc là không cần thiết. Từ đó, ông đã xây dựng phương pháp riêng của mình.
Descartes cho rằng quá trình nhận thức của con người bắt đầu từ cái chung nhất của “siêu hình học” và từ chúng vận động đến những vấn đề mang tính bộ phận của vật lý học, sau đó đi đến những vấn đề của khoa học cụ thể nhất. Trên cơ sở quan niệm như vậy, ông có ý định xây dựng logic diễn dịch làm cơ sở cho các lý thuyết khoa học. Tư tưởng này bước đầu được thể hiện trong tác phẩm “Phương pháp luận”. Tuy nhiên, mặc dù đã thấy được vai trò quan trọng của logic diễn dịch đối với sự phát triển của toán học và khoa học tự nhiên, nhưng nhìn chung mong muốn của Descartes chủ yếu mới dừng ở những ý tưởng ban đầu, và Leibniz cùng các nhà logic học, toán học sau đó tiếp tục thực hiện và dẫn tới sự ra đời của logic toán với hai ngành cơ bản là logic mệnh đề và logic vị từ.
Gottfried Wilhelm Leibniz (1646 - 1716) là nhà triết học, nhà toán học, nhà luật học và logic học người Đức. Ông có nhiều đóng góp cho toán học và logic học. Leibniz là người tiếp tục ý tưởng của Descartes, với mong muốn xây dựng một ngôn ngữ chung cho mọi khoa học là ngôn ngữ kí hiệu. Chính vì vậy ông là người đặt nền tảng ban đầu cho sự ra đời của logic toán.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Logic học được Leibniz gọi là khoa học có thể dạy khoa học khác về phương pháp phát minh và chứng minh tất cả các hệ quả được suy ra từ các tiền đề cho trước. Những nguyên tắc cơ bản trong logic học của Leibniz bao gồm: Mỗi khái niệm có thể coi như một tập hợp các khái niệm đơn giản không thể phân chia nhỏ hơn được. Các khái niệm phức tạp được cấu tạo từ những khái niệm đơn giản nhờ các phép hội và phép giao ngoại diên của các khái niệm. Tập hợp các khái niệm đơn giản xuất phát cần phải thỏa mãn tiêu chuẩn của tính phi mâu thuẫn.
Ông cũng cho rằng ba quy luật cơ bản của logic truyền thống đã được Aristotle và các nhà logic học trước đó phát hiện là cần thiết để tư duy đảm bảo tính đúng đắn. Tuy nhiên nếu Aristotle đề cao quy luật cấm mâu thuẫn thì Leibniz đề cao quy luật đồng nhất. Mặt khác, trên cơ sở kế thừa những tư tưởng của Aristotle, Leibniz đã phát biểu một cách rõ ràng quy luật thứ tư của logic truyền thống là quy luật lí do đầy đủ. Nội dung của quy luật này theo Leibniz là: Không có khẳng định nào được coi là chân thực nếu thiếu cơ sở đầy đủ.
Cở sở chân thực của các khẳng định không chỉ là những tri thức có được bằng nhận thức cảm tính mà cả bằng nhận thức lý tính. Leibniz cũng là người có đóng góp to lớn đối với việc đặt nền tảng cho sự hình thành và phát triển của logic mệnh đề và logic vị từ. Nhận thấy những hạn chế của logic truyền thống, ông là người có công đầu tiên trong việc đem ngôn ngữ hình thức của toán học vào các nội dung của logic học.