\ KHOA HANH CHINH NHA NUOC và TRUNG TAM NGHIEN CỨU PHÁP LUẬT VỀ TỎ CHỨC BO MAY NHÀN UOC: ga¬t—.s ~ _ HỘI THẢO KHOA HỌC TO CHỨC VA HOAT ĐỘNG CUA CHÍNH QUYỀN BIA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM - LICH SU, THỰC TRANG VA PHƯƠNG HƯƠNG HOÀN THIỆN —amel < HA NOI, THANG 05 NAM 2008 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Khoa Hành chính - Nhà nước HỘI THẢO KHOA HỌC TO CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CUA CHÍNH QUYEN DIA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM - LICH SU, THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIEN Hà Nội, ngày 16 thang 05 năm 2008 DANH MỤC CÁC BÁO CÁO KHOA HỌC PGS.Thái Vĩnh Thắng. Quá trình hình thành và phát triển của 1 Tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (2/9/1945) đến nay và xu hướng đổi mới ThS. Phạm Thị Tình Tô chức chính quyền địa phương trong năm 13 đầu Cách mạng tháng Tám — những khía cạnh pháp lý PGS, TS. Đỗi mới tô chức và hoạt động của chính V 24 quyên địa phương hiện nay PGS.
May van dé lý luận và thực tiễn trong phân cấp V 37 quản ly cho chính quyền địa phương ở nước ta. Vai trò tự quản của chính quyền địa phương \/ 49 — một số vấn đề lý luận và thực tiễn ThS. Phan Thi Lan Hương. Nghiên cứu trao đỗi về mô hình chính 55 quyền địa phương ở Nhật Bản — Một vài dé xuất.
Nguyễn Thi Hoa. Van đề tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát 63 của Hội đồng nhân dân đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương. Nguyễn Thị Hỏi. Vẫn đề ban hành văn bản quy phạm pháp luật M74 của Hội đồng nhân dân va Ủy ban nhân dân ở nước ta hiện này.
Trần Nho Thìn. Một số van đề về tổ chức và hoạt động của 84 chính quyền huyện ở nước ta. Nguyễn Minh Đoan. Doi mới tô chức và hoạt động của chính \/ 93 quyền cấp cơ sở trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền | Việt Nam hiện nay.
Hoàn thiện tô chức và nâng cao hiệu quả 101 hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã ở nước ta hiện nay. Nguyễn Minh Tuần. Dân chủở cơ sở- một góc nhìn từ thực tiến. bain Jaw 5 Oliil 2 aly yey Un ci hil, tin LJ mw.
J Ahh, L2Voi Hag : bein Ive Ui pn chy qua 4 n ly"tomy lâutuy A, Cin LL Œ Ad hoe an may ») aan ALES Hội thảo khoa học: TO CHỨC VÀ HOAT ĐỘNG CUA CHÍNH QUYỀN DIA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM- LỊCH SỬ, THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN CUA TO CHỨC CHÍNH QUYEN DIA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM TỪ KHI THÀNH LẬP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ Đ- (2/9/1945) DEN NAY VÀ XU HƯỚNG DOI MỚI PGS. Thái Vinh Thang Khoa Hành chính — Nhà nước Lịch sử hình thành và phát triển tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đến nay về cơ bản gan liền với lịch sử lập hiến Việt Nam. Vì vậy, căn cứ vào lịch sử lập hiến Việt Nam chúng ta có thê chia quá trình hình thành và phát triển của tô chức chính quyền địa phương ở nước ta thành 4 giai đoạn. - Từ năm 1992 đến nay.
Giai đoạn từ 2/9/1945 đến 1959 Giai đoạn này được đánh dấu bằng sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945 về tổ chức HĐND và UBHC xã, huyện, tỉnh, kì và Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố. Trong điều kiện toàn quốc kháng chiến, Chính phủ đã ban hành nhiều sắc lệnh dé sửa đổi bổ sung sắc lệnh số 63 và 77 cho phủ hợp với tình hình đất nước còn chiến tranh. Theo sắc lệnh ngày 20/12/1946 và Thông lệnh liên Bộ quốc phòng — nội vụ ngày 18/12/1946 cấp kì tạm bỏ, cả nước được chia thành 16 chiến khu. Sau đó, theo Sắc lệnh ngày 25/11/1948 các chiến khu được xác nhập thành 10 liên khu kháng chiến.
Dưới chiến khu hoặc liên khu vẫn là, những đơn vị hành chính tỉnh, thành phó, thị xã, huyện, xã. Thời kỳ này bên cạnh Uy ban hành chính, Uỷ ban bảo vệ được thành lập để giải quyết những vấn đề kháng chiến. Theo thông lệnh liên Bộ nội vụ — quốc phòng ngày 31/12/1946 Uỷ ban bảo vệ được gọi là Uỷ ban kháng chiến và sắc lệnh ngày 01/10/1947 Uỷ ban kháng chiến và Uy ban hành chính hợp nhất thành Uỷ ban Hội thảo khoa học: TÔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM - LỊCH SỬ, THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN kháng chiến - hành chính. Ngày 20/7/1957 với sắc lệnh số 04/SL Hội đồng nhân dân được thành lập ở tất cả các cấp hành chính (theo Hiến pháp năm 1946 ở cấp kỳ và cấp huyện chỉ có UBHC chứ không có HĐND).
Ngày 31/05/1958 Chủ tịch nước đã ban bố Luật số 110 (do Quốc hội khoá I, kì họp thứ 8 thông qua) về tổ chức chính quyền địa phương. Sau khi Hiến pháp 1959 ban hành, Luật tổ chức HĐND và UBHC năm 1962 đã đánh dấu một giai đoạn mới trong tô chức chính quyền địa phương ở nước ta. Phân tích các quy định của pháp luật và hoạt động thực tiễn của chính quyền địa phương trong giai đoạn này chúng ta có thể đưa ra các nhận xét sau đây về mặt ưu điểm của chính quyền địa phương: - Đã có sự phân biệt giữa quản lí đô thị và quản lí nông thôn, vì Chính phủ đã ban hành sắc lệnh riêng để quy định về tổ chức chính quyền nông thôn (Sắc lệnh số 63) và về tổ chức chính quyền đô thị (Sắc lệnh số 77). Theo sắc lệnh số 63, ở nông thôn chính quyền được tổ chức thành 3 cấp trong đó có 2 cấp chính quyền hoàn chỉnh là cấp tỉnh và cấp xã vừa có HĐND và UBHC, còn cấp huyện chỉ có UBND vì được coi là cấp trung gian.
Ở Thành phố, theo sắc lệnh số 77 chỉ có một số cấp chính quyền hoàn chỉnh đó là cấp thành phố có HĐND và UBND còn khu phố chỉ có UBHC mà không có HĐND. Quy định này hoàn toàn hợp lí bởi ở các thành phó, đô thị là một quần cư không thê chia cắt như các tỉnh chia thành huyện được. - Vai trò giám sát của UBHC cấp trên đối với HĐND cấp dưới được chú trọng. Cơ quan hành chính cấp trên không những chuẩn y kết quả bầu cử UBHC cấp dưới mà còn chuẩn y các nghị quyết của HĐND cấp dưới về nhiều vấn đề khác (Điều 59 Hiến pháp 1946, điều 70,71,84,85 Sắc lệnh 63, Điều 17, 18, Sắc lệnh 77).
_~ Pháp luật quy định rất rõ ràng, cụ thé về quyền, trách nhiệm pháp lí của HĐND và UBND với các chế tài cụ thé có thé áp dụng một cách dé dàng. Ví dụ, Sắc lệnh 63 và Sắc lệnh 77 quy định cơ quan hành chính cấp trên có quyền chuẩn y kết quả bầu cử UBHC và HĐND cấp dưới nhưng trong thời hạn 5 ngày (UBHC huyện) hoặc 15 ngày (UBHC kỳ) phải có văn bản trả lời cấp dưới. Nếu từ chối chuẩn y thì UBHC cấp trên phải nói rõ lí do. Uỷ viên UBHC nào không được chuẩn y phải bầu lại nhưng nếu bầu lại vẫn trúng cử UBHC thì cấp trên phải chuẩn y kết quả bầu đó ( Điều 68,73,82,87 Sắc lệnh Hội thảo khoa học: TÔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM - LỊCH SỬ, THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 63, Điều 33, 47 Sắc lệnh 77).
Sắc lệnh số 63_ quy định: “Khi HĐND xã hoặc tỉnh ra nghị quyết trái với mệnh lệnh cấp trên thì ngoài việc thủ tiêu nghị quyết dé, UBHC cắp trên còn cảnh cáo HĐND và néu HĐND vẫn không tuân lệnh thì UBHC tỉnh có quyên giải tắn HĐND xã và Chính phủ có quyên giải tán HĐND tỉnh” (Điều 8, Điều 38). Điều 2 Sắc lệnh số 117 ngày 2/7/ 1946 “ Về bé sung Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77” quy định: “Nếu đại biểu HĐND nào vắng mặt 3 kì họp HDND liên tiếp mà không có5 lí do hoặc lí do không chính đáng sẽ bị mat quyên đại biểu ”. Bên cạnh những ưu điểm nói trên, việc tổ chức chính quyền địa phương trong giai đoạn này cũng có những hạn chế nhất định: - Một số UBHC còn kiêm cả chức năng tư pháp của toà án địa phương. Sắc lệnh số 22/BNV/CP ngày 18/2/1946 quy định ở những nơi chưa tổ chức được toa án biệt lập, UBHC tỉnh có quyền hạn như toà án đệ nhị cấp, UBHC phủ, huyện, châu có quyền hạn như toà án sơ cấp.
Trong giai đoạn cải cách ruộng đất, Sắc lệnh số 150-SL ngày 12/4/1953 về thành lập toà án nhân dân đặc biệt quy định Chính phủ giao cho Uy ban kháng chiến hành chính tỉnh có thâm quyền quyết định thành lập Toà án nhân dân đặc biệt ở huyện hoặc liên huyện để xét xử lưu động ở các xã những kẻ phản cách mạng, địa chủ cường hảo gian ác, những kẻ chống lại Luật cải cách ruộng đất, xét xử những vụ tranh chấp về tài sản, ruộng đất, phân định thành phan giai cấp. Theo quy định tại các điều 2,3,4,11 của Sắc lệnh này thì cơ cấu Toà án đặc biệt bao gồm chánh án và một nửa số thâm phán do Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu duyệt y, một nửa số thâm phán còn lại do nông hội hoặc hội nghị đại biểu nông dân ở huyện hay liên huyện cử ra. Tham quyền của Toà án đặc biệt rất lớn, có quyền áp dụng các hình phạt như cảnh cáo, tịch thu tài sản, phạt tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình. Do không có thâm phán chuyên nghiệp, việc xét xử của toà án còn nhiều sai sót đáng tiếc.
Đây là bài học của tô chức chính quyền địa phương và sau này chúng ta đã sửa sai. Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980 Ở giai đoạn này, chính quyền địa phương được tổ chức và hoạt động trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1962. Ở nông thôn có 3 cấp chính quyền là tỉnh, huyện, xã, còn : Hội thảo khoa học: TO CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CUA CHÍNH QUYỀN DIA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM - LỊCH SỬ, THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN thành phố trực thuộc Trung ương (ở nội thành) có 2 cấp là thành phố và khu phố. Các huyện ngoại thành thì tô chức như ở nông thôn.
Như vậy, cho đến thời kỳ này vẫn có 2 mô hình tổ chức chính quyền địa phương khác nhau. Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1962 có những điều khoản riêng quy định nhiệm vụ quyền hạn của HĐND va UBND thành phố (Điều 17, 46 và khu phố (Điều 18,47).