Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Vù hương có tên khoa học là Cinnamomum balansae Lecomte thuộc họ Long não (Lauraceae). Ở Việt Nam, Vù hương được biết đến là một loài cây gỗ lớn có phân bố rộng và đa tác dụng. Gỗ được sử dụng làm đồ mỹ nghệ, đóng đồ dùng trong nhà, cây làm bóng mát, chiết xuất tinh dầu, rễ, thân, lá, quả dùng để trị bệnh. Dưới đây là một số thông tin, kết quả nghiên cứu về loài này và các vấn đề liên quan trên thế giới và ở Việt Nam.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu về cây Vù hương trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới 1. Phân bố, hình thái cây Vù hương Vù Hương là loài có phân bố rộng ở các nước khu vực Đông Nam Á như: Việt Nam, Malaysia, Myanma, Lào, Trung Quốc,. Vù hương là cây gỗ lớn thường xanh, đường kính có thể đạt từ 0,7 - 1,2 cm, chiều cao đạt tới 50m, cành nhẵn, màu hơi đen khi khô.
Lá mọc cách, dài, hình trứng, dài 9 - 11cm, rộng 4 -5 cm, thót nhọc về hai đầu, gân bậc hai 4 - 5 đôi, cuống lá dài 2 - 3 cm, nhẵn, cụm hoa chùy ở nách lá, dài 4 - 5cm, phủ lông nhắn màu nâu, cuống hoa dài 1 - 4mm, phủ lông bao hoa 6 thùy có lông, bầu hình trứng, nhẵn, vòi ngắn, núm hình đĩa, quả hình cầu, đường kính 8 - 10 mm, đính trên đế hoa hình chén. Nghiên cứu về gieo ươm các loài trong chi Cinnamomum Chi Cinnamomum gồm có rất nhiều loài có giá trị cao và đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, điển hình là loài Quế. Nghiên cứu chọn giống Quế có hàm lượng và chất lượng tinh dầu cao đã quan tâm và được thực hiện ở một số nước như Ấn Độ, Sri Lanka. Đến nay đã có nhiều giống cho năng suất và chất lượng cao đã được công nhận và thương mại hóa ở hai m 4 nước này (Ravindranet.
Là một nước có sản lượng Quế lớn, Sri Lanka từ những năm giữa của thập niên 1970 đã chọn được 8 xuất xứ khác nhau dựa vào đặc điểm về hình thái, độ cay, độ cứng của vỏ và vùng phân bố (Wijesekera et al. Sau đó, Cục Xuất khẩu nông nghiệp của Sri Lanka đã lựa chọn được 19 giống khác nhau từ 210 cây trội dự tuyển (Ravindran et al, 2004). Ấn Độ trong nhiều năm qua đã có nhiều thành công trong công tác tuyển chọn và cải thiện các giống Quế. Từ bộ sưu tập phong phú các giống Quế hiện có, Ấn Độ đã chọn tạo ra nhiều giống Quế có năng suất và chất lượng vượt trội.
Viện nghiên cứu cây gia vị của Ấn Độ hiện tại đang lưu giữ và bảo tồn khoảng 300 dòng Quế khác nhau và Trung tâm nghiên cứu cây thuốc và gia vị của Trường đại học Nông nghiệp Kerela đang bảo tồn ngoại vi 263 dòng của các loài Quế khác nhau. Đây là một nguồn gen quan trọng cho các chương trình chọn lọc với cường độ cao. Kết quả lựa chọn Quế C.verum cường độ cao ở Ấn Độ đã chọn được hai dòng cho năng suất cao (từ 291 cây dự tuyển chọn được 9 dòng, sau khi khảo nghiệm dòng chọn được 2 dòng có năng suất và chất lượng tinh dầu cao). Năm 1996, Krishnamoorthy và cộng sự đã chọn tạo được 2 giống dựa trên khả năng gây trồng, sản lượng vỏ, hàm lượng tinh dầu của lá, hàm lượng cinnamaldehyde ở vỏ.
Các dòng Navashree (SL 63) và Nithyashree (IN 189) đã được công nhận và gây trồng rộng rãi ở Ấn Độ. Ngoài ra, trong những năm 1999-2001, Ấn Độ chọn được 3 dòng Quế C. Cassia cho năng suất tinh dầu và cinnamaldehyde cao, đó là các dòng C1, D2 và D3. Ngoài Ấn Độ và Sri Lanka, công tác tuyển chọn các giống Quế chưa được chú trọng, kể cả ở các nước như Trung Quốc và Inđônexia mặc dù diện tích trồng Quế Trung Quốc (C.
cassia) và Quế Inđonêxia (C. burmannii) khá lớn., 2004 loài Quế Sri Lanka, Ấn Độ, Inđônexia và Việt Nam đều có thể nhân giống bằng phương pháp hữu tính và vô tính. Các phương m 5 pháp nhân giống hữu tính gồm: gieo hạt trực tiếp, gieo lên luống rồi cấy ra bầu. Các phương pháp nhân giống vô tính có giâm hom, ghép, nuôi cấy mô.
Ở Nhật Bản có tới 10 triệu ha rừng Long não. Chính phủ Nhật Bản đã phải tổ chức trồng cây Long não trên quy mô lớn để chuẩn nguồn nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất Camphor và tinh dầu Long não. Khoảng từ năm 1906 - 1913 Chính phủ Nhật Bản đã trồng được rất nhiều cây Long não. Tới năm 1947 toàn nước Nhật có khoảng 12 triệu cây Long não có thể thu được 40.000 tấn Camphor và tinh dầu long não.
Đến năm 1952 toàn nước Nhật có khoảng 13.750 ha rừng Long não do nhà nước quản lý không kể số rừng của tư nhân mà nhà nước khuyên khích phát triển trồng rừng Long não. Ở Đài Loan, năm 1900 Chính phủ Đài Loan đã bắt đầu một chương trình trồng rừng Long não trên quy mô lớn và có hệ thống và tới năm 1950 Đài Loan đã trồng thêm được 44.000 ha rừng Long não. Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ Sao dầu bắt đầu từ năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia. Ở trường Đại học Tổng hợp Pertanian, Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp tại Sepilok đã báo cáo các công trình có giá trị về nhân giống sinh dưỡng cho cây họ dầu.
Tuy nhiên, tỷ lệ ra rễ của các cây họ dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi các phương tiện nhân giống như: Các biện pháp vệ sinh tốt hơn, chế độ che bóng, phun sương mù, kỹ thuật trẻ hóa cây mẹ,… thì tỷ lệ ra rễ đã cải thiện hơn. Tại Indonesia, các nghiên cứu về giâm hom cây họ dầu được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu cây họ Dầu Wanariset đã áp dụng phương pháp nhân giống Tắm bong bóng, Phương pháp này thu được tỷ lệ ra rễ 90 - 100% so với các loài Shorea Leprosul6. Trên thế giới, cây lá kim rất được tập trung vào nghiên cứu. Riêng hai nước Australia và Newzealand sản xuất hàng năm trên 10 triệu cây hom Pinus radiate, Canada sản xuất hàng năm trên 3 triệu cây hom Vân sam đen (Picea m 6 maiana), Vân sam đen (Picea sitchensis) được các nước trên tạo ra hơn 4 triệu cây hom mỗi năm.
Năm 1989, Nhật bản sản xuất 31,4 triệu cây hom Liễu sam (Cryptomeria japonica). Vân sam Na Uy (Picea abies) là loài cây lá kim cũng thu được những thành công trong việc nhân giống bằng hom với số lượng lớn phục vụ công tác trồng rừng dòng vô tính, nhất là ở Châu Âu. Chỉ tính riêng ở một số cơ sở giâm hom chính của 11 nước mà đã sản xuất được hơn 11 triệu cây hom mỗi năm và qua 10 năm khảo nghiệm ở Mỹ mới đưa vào sản xuất đại trà Cây thông Noel (P. radiate) với đặc tính tốt của cây trang trí, sinh trưởng nhanh, chịu lạnh, chịu hạn [9].
Họ này chứa khoảng 55 chi và trên 2.000 loài (có thể nhiều tới 4.000), phân bổ rộng khắp thế giới, chủ yếu trong các khu vực nhiệt đới, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á và Brasil. Chúng chủ yếu là các loài cây thường xanh thân gỗ hay cây bụi có hương thơm, nhưng chi Sassafras và một hoặc hai chi khác là các loại cây sớm rụng, còn Cassytha (tơ xanh) là chi có các loài dây leo sống ký sinh, phân bố rộng. Vù Hương là loài cây đặc hữu của Việt Nam nên các tài liệu nghiên cứu trên thế giới hầu như không có hoặc rất ít. Nghiên cứu về gieo ươm Vù hương Cho đến thời điểm hiện tại thì đề tài chưa tìm được nghiên cứu nào về kỹ thuật gieo ươm và chăm sóc cây Vù hương trên thế giới.
Nghiên cứu về phân bố, hình thái cây Vù hương Vù hương là cây gỗ thường xanh, họ Long não (Lauraceae) có phạm vi phân bố hẹp đã tìm thấy ở Ba Vì, Cúc phương, Thanh Hóa và Bến En. Đặc điểm hình thái cây Vù hương: - Thân cây Vù hương là cây gỗ lớn, thường xanh, cao đến 20 - 25m, đường kính thân từ 70 - 90cm, cành nhẵn, màu hơi đen khi khô; vỏ xám nâu m 7 nứt thành mảnh, khía thành rãnh, nứt dọc không sâu. Trong thân và vỏ có mùi thơm như cây Re hương (mùi Long Não). - Lá mọc cách, dai, hình trứng, dài 9 - 11 cm, rộng 4 - 5 cm, thót nhọn về hai đầu; gân bậc hai 4 - 5 đôi; cuống lá dài 2 - 3 cm, nhẵn.
- Cây Vù hương có chu kỳ ra hoa giãn cách, khả năng ra hoa, kết quả không đồng đều giữa các năm, có một số cây ra hoa nhưng không kết quả. Vù hương ra hoa từ tháng 1 - 2 và 6 - 7, quả chín từ tháng 10 - 12 hàng năm. Cụm hoa chuỳ, ở nách lá, dài 4 - 5 cm, phủ lông ngắn màu nâu; cuống hoa dài 1 - 4 mm, phủ lông; bao hoa 6 thuỳ, có lông; nhị hữu thụ 9, bao phấn 4 ô; 3 nhị vòng trong cùng mỗi nhị có 2 tuyến; nhị lép 3, hình tam giác, có chân; bầu hình trứng, nhẵn, vòi ngắn, núm hình đĩa. - Quả non có màu xanh hình cầu, khi quả chín có màu tím đen đính trên ống bao hoa hình chén, chiều dài trung bình quả là 1,35cm đường kính 0,94cm, đính trên đế hoa hình chén.
- Trong y học: Gỗ và lá có tinh dầu với thành phần chính là long não, hạt chứa dầu béo dùng để chữa các loại bệnh đau dạ dầy, viêm khớp xương, tiêu hóa, cảm, sốt, bệnh sởi, đau nhức. - Gỗ: Không mối mọt, có mùi thơm dùng đóng các đồ nội thất trong nhà. - Rễ cây Vù Hương: Vỏ bên ngoài của rễ cây Vù Hương nứt thành mảng có màu nâu, bên trong lõi có màu vàng, rễ tập trung nhiều tinh dầu nên mùi thơm hơn thân và cành. Nghiên cứu về kỹ thuật gieo ươm các loài trong chi Cinnamomum và loài Vù hương Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, 2007.
Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật. Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Kỹ thuật, Hà Nội. Nguyễn Bá Chất (2002), Re gừng (Cinnamomum obtusifolium A.Chev) trồng được 9-10 tuổi đã bắt đầu có hoa quả, khi thu hái hạt giống nên lựa chọn thu hái ở những cây đã ra quả được 3 năm trở đi. Khi quả Re gừng chín, vỏ có m 8 màu xanh đen, thu hái về ủ 1-2 ngày, làm sạch lớp thịt quả, rải đều hạt thành một lớp mỏng 5-10 cm cho róc nước, sau đó ủ vào cát ẩm.
Khi hạt nảy mầm, đem cấy vào bầu.