CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUOC TE VE THU HOI TAI SAN THAM NHUNG 1. Khái niệm thu hồi tai sản tham nhũng 1. Khái niém “tài sản tham những” Tài sản là một chế định quan trọng, là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mối quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Ở Việt Nam, "tài sản" có nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo từ điền tiếng Việt: “Tài sản là của cải vật chất hoặc tinh than có giá trị với chủ sở hữu ” [47, tr.884]; theo Từ điển Luật học: “Tai sản có thể là vật có thật, hiện có hoặc có thể hình thành trong tương lai như hoa lợi, lợi tức, vật do các bên thỏa thuận, tiên, giấy tờ có giá và các quyên tài san” [46, tr. Trong pháp luật Việt Nam, BLDS 2015 là đạo luật duy nhất đưa ra định nghĩa về tài sản tại Điều 105: “Tài sản bao gâm vật, tiễn, giấy tờ có giá và các quyên tài sản; tài sản bao gồm bat động sản và động sản. Bat động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” Theo đó, định nghĩa trên không những liệt kê các loại tài sản mà còn xác định cụ thể: Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Mặt khác, tại Điều 108 BLDS 2015 giải thích rõ khái niệm “tdi sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Với quy định cụ thé về tài sản như thế, đã đảm bảo tính bao quát và rõ ràng tạo thành cơ sở pháp lý quan trọng góp phần áp dụng pháp luật một cách thống nhất, tuy nhiên vẫn chỉ mang tính chất liệt kê. Tương tự, thuật ngữ "tham những" cũng có nhiều định nghĩa khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, tham nhũng là “/oi dung quyên hành dé những nhiễu dân và lay của” [47, tr.
Từ điển Luật học định nghĩa: “Tham những là lạm dụng chức vu quyên han dé làm trái bat chính, gây thiệt hại đến tài sản quốc gia, tập thé, cá nhân và xâm phạm hoạt động phù hợp của cơ quan, tổ chức ” [46, tr695]. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI), tham nhũng là hành vi lợi dụng quyên hành dé gây phiên hà, khó khăn và lay của dân [21]. Định nghĩa tham nhũng của TI cho thấy cách hiểu này vẫn giới hạn ở những loại hình tham nhũng trong khu vực nhà nước (tham nhũng công). Ngân hàng thế giới (World Bank - WB) đưa ra cách hiểu tương tự, theo đó tham nhũng được định nghĩa là sự lạm dụng công quyền vì tư lợi [53, tr.
Tuy nhiên giờ đây khái niệm tham nhũng đã được mở rộng, bao gồm cả những hành vi lợi dụng nhiệm vụ được giao vì vụ lợi ở ngoài nhà nước (khu vực tư). Cơ quan kiểm soát ma túy và phòng ngừa tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) trong Chương trình toàn cầu chống tham nhũng của Liên hợp quốc (2002) định nghĩa tham nhũng là việc lạm dụng quyền lực vì tư lợi và bao gồm cả tham nhũng trong khu vực công và khu vực tư. Tương tự như vậy, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cũng đưa ra định nghĩa thể hiện tính toàn điện của khái niệm tham nhũng, phản ánh được bản chất của hiện tượng này trong thực tiễn, đó là “hành vi làm giàu bat chính hoặc bat hợp pháp cho bản thân hoặc cho những người thân cận của những viên chức ở cả khu vực công và khu vực tư, hoặc thúc đẩy những người khác làm như vậy bằng cách lợi dung vi trí công việc cua mình [26, tr. Theo pháp luật Việt Nam, khoản 1 điều 3 Luật Phòng, chống tham những 2018 quy định “Tham những là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dung chức vụ, quyên hạn đó vì vụ lợi.” Ngoài ra, khoản 2 Điều 3 quy định rằng “người có chức vụ, quyên hạn là người do bồ nhiệm, do bau cử, do tuyển dung, do hợp dong hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyên hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gom: a) Cán bộ, công chức; b) Hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân viên Công an nhân dân; c) Người đại diện dau tư của nhà nước vào doanh nghiệp; d) Người giữ chức vụ quản lý trong tổ chức; ä) Người khác được giao nhiệm vụ, quyên han cụ thé dé thực hiện nhiệm vu đó.” Kết hợp các khái niệm về “tdi sản” và “tham những”, Luật Phòng, chỗng tham nhũng 2018 đưa ra định nghĩa về “tdi sản tham những” tại khoản 3 điều 3: “Tài sản tham những là tài sản có được từ tham những, tài sản có nguồn gốc từ tham những.
” Có thé thấy, khái niệm “tdi sản tham những” của pháp luật Việt Nam dường như còn chung chung và thiếu chính xác so với nhận thức chung của cộng đồng quốc tế. Theo đó, tại Điều 2 của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng, tài sản có nghĩa là “tài sản thuộc mọi loại, dù là vật chất hay phi vật chất, có thể di chuyển hoặc bắt động được, hữu hình hay vô hình, và các tài liệu hoặc công cụ pháp lý chứng mình quyền sở hữu hoặc quyền lợi đối với các tài sản đó."; "Tài sản do phạm tội mà có” cô nghĩa là “bat kỳ tài sản bắt nguồn hay có được một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc thực hiện một tội phạm". Điều 31 UNCAC thé hiện khái niệm về tài sản tham nhũng băng cách làm rõ điều khoản tiền thu được của tội phạm: "(1a) Tài sản do phạm tội mà có có nguồn gốc từ tội phạm được quy định theo Công ước này hoặc tai sản có giá trị trong đương với gid trị cua tai sản do phạm toi mà có nói trên; (1B) Tài sản, trang thiết bị hay công cụ khác được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội quy định theo Công ước này. (6) Thu nhập hoặc các lợi ích khác có được từ tài sản do phạm tội mà có, từ tài sản được biến đổi hoặc chuyển đổi từ tài sản do phạm tội mà có hoặc từ tài sản mà trong đó lẫn lộn một phân là tài sản do phạm tội mà có sẽ là đối tượng của các biện pháp quy định tại Điều này, chịu xử lý theo cách thức và mức độ như đối với tài sản do phạm tội mà có.
” 10 Do đó, theo các quy định này của UNCAC, tài sản tham nhũng có thé là tài sản hữu hình hoặc vô hình, có nguồn gốc trực tiếp từ tham nhũng hoặc gián tiếp từ rửa tiền. Tương tự, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa tài sản tham nhũng là tiền, tài sản hoặc một tài sản khác do tham nhũng tích lũy bao gồm hối lộ, tham ô tài sản hoặc công quỹ, kinh doanh bằng cách lạm dụng khả năng của mình trong khu vực công [27]. Hiện nay, các quốc gia đang hình sự hóa các quỹ bất hợp pháp và coi thu nhập bất hợp pháp của các quan chức nhà nước là tài sản tham nhũng. Ví dụ, Điều 395 trong Luật Hình sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định rằng "khi tai sản của các cơ quan chức năng nhà nước vượt quá thu nhập hợp pháp, khi chênh lệch lớn, họ sẽ được lệnh giải trình nguồn gốc tài sản của mình.
Những người của cơ quan chức năng không giải thích được tinh hợp pháp của tài sản cua họ, phan tài sản đó sẽ bị coi là thu nhập bắt hợp pháp và họ sẽ bị két án không quả năm năm hoặc tù có thời hạn hoặc tạm giữ hình sự, và phan chênh lệch phải được giao cho nha nước” [55]. Từ những phân tích trên cho thấy định nghĩa về “tdi sản tham những” theo quy định của pháp luật Việt Nam tuy không trái, nhưng cũng chưa hoàn toàn phù hợp và phạm vi còn hẹp so với quy định pháp luật quốc tế, đặc biệt là theo Công ước UNCAC. Cụ thé, cụm từ “tdi sản tham những” được định nghĩa tại khoản (d) và (e) của Điều 2 Công ước được hiểu là bao gồm mọi loại tài sản. Theo đó, tài sản do tham nhũng mà có theo quy định của Công ước sẽ bao gồm tài sản trực tiếp có được do phạm tội, tài sản đã bị biến đối hoặc trộn lẫn đến mức không thé phân tách được với tài sản trực tiếp có được do phạm tội, và mọi hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tai sản đó.
Quan niệm trên theo định nghĩa và tinh thần của Công ước đã được đa số quốc gia thừa nhận xuất phát từ thực tiễn đấu tranh và xử lý tội phạm tham nhũng. Đây là một khái niệm phức tạp, đặc biệt là trong trường hợp các tài sản có được gián tiếp qua hành vi rửa tiền. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, khái niệm “tai sản tham những” theo tinh thần của Công ước chưa được quy định rõ ràng và đầy đủ trong Luật Phòng, chống tham nhũng của Việt Nam. 11 Các Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 15/08/2019 của Chính phủ quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng; Nghị định 130/2020/NĐ-CP về kiểm soát tai sản thu nhập của người có chức vụ, quyền han trong cơ quan, tô chức, đơn vị hiện cũng chưa giải thích thực sự thoả đáng khái niệm nay theo tinh thần Công ước.
Khái niệm “thu hồi tài sản tham nhũng” Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế không đưa ra định nghĩa “thu hoi tài sản tham những”.