CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và thang đo về kiệt sức nghề nghiệp 1. Một số khái niệm liên quan đến kiệt sức nghề nghiệp Hội chứng kiệt sức nghề nghiệp Khái niệm kiệt sức nghề nghiệp lần đầu tiên được tác giả Freudenberger sử dụng vào năm 1974, để mô tả trạng thái kiệt sức (nhiều nhất là cảm xúc và tinh thần) được quan sát trên các công nhân. Hậu quả của KSNN đã được mô tả về mặt thể chất như: Đau đầu thường xuyên, mất ngủ, rối loạn tiêu hóa và khó thở; về mặt cảm xúc là: thất vọng, khó chịu, khó khăn để làm chủ cảm xúc, hoài nghi (5).
Theo định nghĩa “Kiệt sức nghề nghiệp” là một trạng thái kiệt sức, cạn kiệt hoàn toàn các nguồn sinh lực, sự kéo dài liên tục của 3 yếu tố: kiệt quệ tình cảm, rã rượi thể lý, buông xuôi ý chí (4). Về nguyên nhân, được nhắc đến đầu tiên là khối lượng công việc của nhân viên y tế tăng do nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng, đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là điều trị các bệnh về cơ xương khớp, sức khỏe tâm thần và các bệnh không lây nhiễm khác như ung thư và bệnh tim. Khối lượng công việc tăng, nhu cầu chăm sóc phức tạp hơn và nhu cầu của người bệnh cao hơn là những nguyên nhân phổ biến của KSNN hay còn gọi là “Hội chứng burn-out” ở nhân viên y tế. Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm “Kiệt sức nghề nghiệp” nào được chấp nhận nhưng các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần đều thừa nhận rằng hội chứng này bao gồm ba khía cạnh: Suy kiệt cảm xúc, cảm giác sai lệch về bản thân/giải thể nhân cách và cảm giác về hiệu suất công việc của bản thân ở nhóm người chăm sóc, như nhân viên y tế, người nhà bệnh nhân (8).
Khái niệm nhân viên y tế Theo WHO (2006), nhân viên y tế là tất cả những người tham gia vào những hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe của người dân. Nhân viên y tế 5 bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: Bác sỹ, điều dưỡng, y tế công cộng, kỹ thuật viên, những người quản lý và nhân viên khác: kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý,… (1). Nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào việc tìm hiểu thực trạng kiệt sức nghề nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng kiệt sức nghề nghiệp của nhân viên y tế bao gồm: bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nhân viên khối hành chính đang công tác và làm việc tại Trung tâm Y tế thị xã Bình Minh, thành phố Vĩnh Long. Một số khái niệm khác.
- Quan hệ tại môi trường làm việc: Là một khái niệm tổng quát bao gồm tất cả những gì có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và sự phát triển, nâng cao năng lực công tác của từng thành viên. Về cơ sở vật chất, chế độ chính sách, mối quan hệ giữa lãnh đạo đối với nhân viên và giữa nhân viên với nhân viên. Môi trường làm việc là môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động phát huy được tối đa năng lực của mình và được hưởng mức thu nhập xứng đáng với mức cống hiến cho đơn vị và ngược lại nó có nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe. Là khái niệm sử dụng để mô tả các mối quan hệ đang diễn ra của người lao động trong môi trường làm việc của họ.
Khi các mối quan hệ này thiếu hỗ trợ, tin tưởng và xung đột chưa được giải quyết, thì có nguy cơ bị kiệt sức nghề nghiệp sẽ cao hơn. Tuy nhiên, khi người lao động nhận được những hỗ trợ tích cực, có các giải pháp thích hợp để giải quyết các bất đồng, thì họ sẽ cống hiến nhiều hơn trong công việc(9). - Công việc – Gia đình: Xung đột về các nhu cầu phía công việc và phía gia đình. Thiếu sự hỗ trợ cho các vấn đề gia đình tại nơi làm việc.
Thiếu sự hỗ trợ cho các vấn đề công việc tại nhà. - Khối lượng công việc: Làm việc dưới áp lực của thời gian quá tải thường xuyên, lịch làm việc nghiêm ngặt và không linh hoạt, giờ làm việc dài và không tuân thủ theo tiêu chuẩn thời gian nghỉ ngơi ít, cơ thể cảm thấy mệt mỏi, uể oải, mất động lực đến công việc do quá tải thường xuyên, khó phục hồi và khôi phục sự cân bằng, từ đó dẫn đến kiệt sức nghề nghiệp. Ngược lại, khối lượng công việc được 6 quản lý và đảm bảo tính bền vững và hiệu quả, thì sẽ điều chỉnh các kỹ năng để có hiệu quả tốt nhất trong các lĩnh vực công việc (9). - Kiểm soát công việc: Hệ thống đánh giá hiệu suất công việc phải rõ ràng và công bằng.
Theo nghiên cứu không nên nhận quá nhiều việc cùng một lúc điều này làm ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả công việc cũng như tính chất công việc, xác định một mối liên hệ giữa sự thiếu kiểm soát, mức độ căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp cao. Tuy nhiên, khi nhân viên có năng lực để đưa ra các quyết định đặt ra thời gian cần hoàn thành công việc, nhiệm vụ phải hoàn thành, kết quả cần đạt được, không ảnh hưởng đến công việc của họ mà còn đạt kết quả cao. Cần có hệ thống đánh giá hiệu suất công việc phải rõ ràng và công bằng. - Khen thưởng người lao động: Khối lượng công việc ngày càng nhiều, trong khi viên chức, người lao động ngày càng giảm, để hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao hàng năm, người lao động luôn quan tâm, chú trọng thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng xem đây là động lực thúc đẩy, động viên, khuyến khích các tập thể, cá nhân phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao.
Khen thưởng không đầy đủ, thì người lao động trở nên dễ bị tổn thương về tinh thần, bởi nó làm giảm động lực của người lao động và có cảm giác công việc không hiệu quả nó là thước đo để đánh giá công việc khen thưởng. - Ứng xử công bằng: Khi cá nhân được đối xử công bằng, tự hào về công việc mình đang làm và làm điều đó với người mình thích, sự nhiệt tình kích thích phát triển cùng với tinh thần lạc quan và đạt năng suất lao động cao. Tất cả là thước đo mà các quyết định trong công việc được coi là công bằng và bình đẳng. Sự nghi ngờ, giận dữ và tính ích kỷ cá nhân có khả năng phát sinh khi mọi người cảm thấy họ không được đối xử công bằng như người khác.
Bảo đảm dân chủ, nghiêm minh, khách quan trong giải quyết các vụ việc: Lắng nghe, tôn trọng ý kiến của những người góp ý (9). - Giá trị: Là những nguyên tắc, chuẩn mực, tiêu chuẩn chỉ dẫn cho hành động của con người, là những lý tưởng và động lực ban đầu kích cầu mọi người vào công việc và do đó thúc đẩy kết nối giữa người lao động và nơi làm việc, vượt ra ngoài sự trao đổi của tiền lương hoặc thăng tiến. Khi có xung đột giá trị trong công 7 việc, thì sẽ có một khoảng cách giữa các giá trị cá nhân và giá trị tổ chức, người lao động sẽ hình thành tâm lý so sánh giữa công việc họ muốn làm và công việc họ phải làm và điều này có thể dẫn đến KSNN lớn hơn bởi gì “Giá trị nghề nghiệp động lực ban đầu thu hút mọi người” (9). Đặc điểm hội chứng kiệt sức nghề nghiệp 1.
Đặc trưng của kiệt sức nghề nghiệp Theo Maslach (1986) đưa ra năm đặc trưng chung cơ bản của KSNN (6), bao gồm: - Rối loạn về trạng thái tinh thần và cảm xúc thể hiện rõ rệt: Mệt mỏi, kiệt sức, trầm cảm. - Các rối loạn thể chất không nổi trội. - Các triệu chứng thể hiện rõ khi nhắc đến các vấn đề liên quan đến công việc. - Không có tiền sử các bệnh tâm thần.
- Giảm hiệu quả làm việc và năng suất lao động Các chuyên gia tâm lý đã mô tả 3 triệu chứng chính của hội chứng KSNN Kiệt sức, là cảm giác thiếu năng lượng hoặc mệt mỏi do một hoặc nhiều yếu tố trong lĩnh vực về năng lượng, cảm xúc và tinh thần. Các triệu chứng thể chất hay gặp như đau dạ dày, ruột. Hoài nghi, họ cảm thấy công việc của họ ngày càng căng thẳng và gây gắt, mất khả năng đồng cảm và kết nối với bệnh nhân, nhân viên và đồng nghiệp, thậm chí hay đổ lỗi, hoặc cảm thấy có lỗi. Giảm hiệu quả công việc, thấy khó tập trung, không lắng nghe và thiếu sự sáng tạo (9).
Ba khía cạnh trên được tác giả Maslach và Jackson xác định cụ thể và được các nhà khoa học chấp nhận, nội dung được 2 tác giả trên đánh giá chi tiết, cụ thể: + Suy kiệt cảm xúc Giai đoạn đầu tiên của KSNN là suy kiệt cảm xúc (6). Đặc điểm của giai đoạn này bao gồm cảm giác cạn kiệt năng lượng cũng như cảm giác căng thẳng và thất vọng (6). Cảm giác suy kiệt cảm xúc gia tăng dẫn đến cạn kiệt cảm xúc và nhân viên cảm thấy kiệt quệ ở mức độ tâm lý (11). Khi một nhân viên trải qua khía cạnh 8 suy kiệt cảm xúc của KSNN, họ có thể né tránh bệnh nhân và những đồng nghiệp khác.
Những người lao động đang bị suy kiệt cảm xúc có xu hướng tập trung vào các khía cạnh rất cụ thể của công việc (12). Suy kiệt cảm xúc thường đi kèm với kiệt sức về thể chất, trong đó các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm thiếu năng lượng để làm việc hoặc điều trị bệnh nhân, thức dậy mệt mỏi sau mỗi đêm ngủ, các triệu chứng tâm lý, bệnh tật, tăng xung đột trong cuộc sống hôn nhân và gia đình cũng như lạm dụng thuốc và rượu (13). Do những điều này làm suy giảm chất lượng chăm sóc mà bệnh nhân có thể nhận được (13). Tóm lại, một người bị suy kiệt cảm xúc sẽ thấy kiệt quệ, mệt mỏi, suy nhược và không có đủ năng lượng.
Suy kiệt cảm xúc là giai đoạn đầu tiên của kiệt sức nghề nghiệp mà một nhân viên có thể trải qua. Các triệu chứng thể chất đặc trưng cho giai đoạn này bao gồm đau đầu hoặc có các vấn đề về dạ dày hoặc ruột (14).