Luận văn kiến thức thái độ thực hành và một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng hóa chất diệt côn trùng dạng phun xịt của người dân phường lê lợi và trần phú thành phố bắc giang năm 2017

Luận văn nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành và yếu tố liên quan đến sử dụng hóa chất diệt côn trùng tại phường Lê Lợi và Trần Phú, Bắc Giang năm 2017.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

132
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Kiến thức sử dụng hóa chất diệt côn trùng

Nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức của người dân về sử dụng hóa chất diệt côn trùng (HCDCT) tại Bắc Giang năm 2017 còn hạn chế. Chỉ 37,4% người dân có kiến thức đạt yêu cầu. Đặc biệt, chỉ 6,6% hiểu đúng về hình ảnh hoặc vạch màu cảnh báo trên sản phẩm. Nhiều người vẫn tin rằng HCDCT có đặc tính tốt là tiêu diệt nhanh côn trùng (58,6%). Điều này cho thấy sự thiếu hiểu biết về tác hại của HCDCT đối với sức khỏe cộng đồngmôi trường. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc nâng cao kiến thức sử dụng hóa chất thông qua các chương trình giáo dục và truyền thông.

1.1. Hiểu biết về tác hại của HCDCT

Người dân tại Bắc Giang chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của HCDCT đối với sức khỏe và môi trường. Nhiều người không biết cách xử lý bao bì hoặc chai lọ đựng hóa chất sau khi sử dụng. Điều này dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu khuyến nghị cần tăng cường thông tin về an toàn hóa chấtquản lý hóa chất để giảm thiểu rủi ro.

1.2. Kiến thức về biện pháp bảo hộ

Phần lớn người dân không sử dụng biện pháp bảo hộ lao động (BHLĐ) khi sử dụng HCDCT. Điều này làm tăng nguy cơ phơi nhiễm hóa chất và ảnh hưởng đến sức khỏe. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc hướng dẫn sử dụng BHLĐ cần được đưa vào các chương trình đào tạo và truyền thông để nâng cao nhận thức của người dân.

II. Thái độ sử dụng hóa chất diệt côn trùng

Nghiên cứu cho thấy 92,1% người dân có thái độ tích cực về việc sử dụng HCDCT. Tuy nhiên, thái độ này chủ yếu dựa trên hiệu quả tiêu diệt côn trùng nhanh chóng mà không quan tâm đến tác hại lâu dài. Điều này phản ánh sự thiếu hiểu biết về an toàn hóa chấtquản lý hóa chất. Nghiên cứu khuyến nghị cần thay đổi thái độ của người dân thông qua các chương trình giáo dục và truyền thông về tác hại của HCDCT.

2.1. Thái độ đối với hiệu quả của HCDCT

Người dân đánh giá cao hiệu quả của HCDCT trong việc tiêu diệt côn trùng nhưng không nhận thức được nguy cơ kháng hóa chất và tác hại lâu dài. Nghiên cứu chỉ ra rằng cần nâng cao nhận thức về kiểm soát dịch hại bền vững để thay đổi thái độ của người dân.

2.2. Thái độ đối với an toàn sử dụng

Nhiều người dân không quan tâm đến an toàn hóa chất khi sử dụng HCDCT. Điều này dẫn đến việc sử dụng không đúng cách và tăng nguy cơ phơi nhiễm. Nghiên cứu khuyến nghị cần tăng cường thông tin về an toàn hóa chấtquản lý hóa chất để thay đổi thái độ của người dân.

III. Thực hành sử dụng hóa chất diệt côn trùng

Nghiên cứu chỉ ra rằng 54,3% người dân có thực hành đạt về sử dụng HCDCT. Tuy nhiên, 55,6% người dân không tuân thủ hướng dẫn sử dụng. Điều này làm tăng nguy cơ phơi nhiễm và ảnh hưởng đến sức khỏe. Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố như nghề nghiệp, tiếp cận thông tin, kiến thức và thái độ có liên quan đến thực hành sử dụng HCDCT.

3.1. Thực hành tuân thủ hướng dẫn sử dụng

Phần lớn người dân không tuân thủ hướng dẫn sử dụng (HDSD) khi sử dụng HCDCT. Điều này làm tăng nguy cơ phơi nhiễm và ảnh hưởng đến sức khỏe. Nghiên cứu khuyến nghị cần tăng cường thông tin về HDSD để cải thiện thực hành của người dân.

3.2. Thực hành xử lý hóa chất thừa

Nhiều người dân không biết cách xử lý hóa chất thừa sau khi sử dụng. Điều này dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu khuyến nghị cần hướng dẫn người dân về cách xử lý hóa chất thừa một cách an toàn.

IV. Yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng hóa chất diệt côn trùng

Nghiên cứu xác định các yếu tố như nghề nghiệp, tiếp cận thông tin, kiến thức và thái độ có liên quan đến thực hành sử dụng HCDCT. Đặc biệt, việc thiếu chính sách sử dụng hóa chất và hướng dẫn cộng đồng ảnh hưởng lớn đến thực hành của người dân. Nghiên cứu khuyến nghị cần tăng cường các chính sách và hướng dẫn để cải thiện thực hành sử dụng HCDCT.

4.1. Yếu tố nghề nghiệp

Nghề nghiệp của người dân có ảnh hưởng đến thực hành sử dụng HCDCT. Những người làm trong lĩnh vực nông nghiệp có xu hướng sử dụng HCDCT nhiều hơn và ít tuân thủ hướng dẫn. Nghiên cứu khuyến nghị cần có các chương trình đào tạo đặc thù cho nhóm đối tượng này.

4.2. Yếu tố tiếp cận thông tin

Người dân có tiếp cận thông tin về HCDCT có thực hành tốt hơn. Nghiên cứu chỉ ra rằng cần tăng cường các kênh truyền thông để cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ về sử dụng hóa chấtan toàn hóa chất.

23/02/2025
Luận văn kiến thức thái độ thực hành và một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng hóa chất diệt côn trùng dạng phun xịt của người dân phường lê lợi và trần phú thành phố bắc giang năm 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về hóa chất diệt côn trùng 1. Khái niệm HCDCT Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), HCDCT (insecticide) là một trong những nhóm hóa chất thuộc hóa chất bảo vệ thực vật (pesticide), được sử dụng trong lĩnh vực y tế công cộng để tiêu diệt véc tơ truyền bệnh, như là ruồi, muỗi, bọ chét. Sản phẩm HCDCT dùng trong gia đình là dạng đã được chế biến sẵn và thuận tiện cho việc sử dụng.

Thông thường chúng có thành phần hoạt chất giống với các hóa chất dùng trong lĩnh vực kiểm soát véc tơ truyền bệnh. Tính an toàn và hiệu quả của chúng phụ thuộc vào loại hóa chất, lựa chọn sản phẩm và cách sử dụng [70]. Theo quy định Chính phủ Việt Nam tại Nghị định số 91/2016/NĐ-CP, HCDCT là hóa chất có hoạt chất diệt côn trùng ở dạng kỹ thuật dùng để gia công chế biến thành chế phẩm diệt côn trùng dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế. Chế phẩm diệt côn trùng là sản phẩm có chứa hoạt chất diệt côn trùng có tên thương mại riêng và được sử dụng trực tiếp để diệt côn trùng dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế [4].

Phân loại HCDCT Có nhiều cách phân loại HCDCT: phân loại theo kiểu tác động lên côn trùng, theo độ độc, theo đặc tính và công thức hóa học [15, 34]. Theo vị trí tác động gây chết lên tế bào thần kinh của côn trùng, theo Casida và Quitad (1998) chia HCDCT thành 6 nhóm: (1) Tác động qua kênh cổng điện thế Natri (Dichloro- diphenyltrichloroethane (DDT) và các hoạt chất nhóm Pyrethroid); (2) Tác động qua kênh vận chuyển Chlorite (Lindane, Dieldrin Fipronil); (3) Tác động qua cơ quan thụ cảm Nicotinic acetylchline (Nicotine, Cartap, Imidacloprid); (4) Tác động qua enzyme acetycholinesterase (các hợp chất nhóm phốt pho hữu cơ và carbamat); (5) Tác động ức chế hô hấp (Rotenone, Fenazaquin, Pyridaben); và (6) Các hóa chất điều hòa sinh trưởng (Methoprene, Pyriproxyfen, diflybenzuron) diệt ấu trùng [34]. Để thể hiện mức độ độc của mỗi loại hóa chất người ta sử dụng chỉ số gây độc cấp tính LD50 hay còn gọi là liều gây chết trung bình căn cứ thử nghiệm trên 5 thỏ hoặc chuột bạch. Chỉ số LD50 càng thấp thì thuốc càng độc và ngược lại chỉ số LD50 càng cao thì thuốc càng ít độc.

Căn cứ vào chỉ số LD50 người ta chia các HCDCT ra thành 4 cấp độc từ I đến IV. Cấp I là cực độc, cấp II là độc, cấp III là độc trung bình và cấp IV là tương đối ít độc. Để nhận biết, người ta in băng màu trên nhãn hóa chất biểu thị cấp độc [21, 70] Bảng 1. Phân loại tính độc của HCDCT theo WHO, 2009 [21] Dựa vào đặc tính và công thức hóa học người ta chia HCDCT thành 3 nhóm chính: (1) Nhóm các hợp chất vô cơ như: sulfur, acide boric, xanh pari (copper acetoarsenite).

(2) Nhóm các hợp chất hữu cơ tự nhiên: Các loại dầu khoáng như dầu mỏ, Benzine, dầu Diesel, dầu mỡ, v. Hiện nay, những hóa chất thuộc nhóm này rất ít được áp dụng song dầu khoáng còn được dùng để pha hóa chất phun sương nóng. Hợp chất Pyrethrum là bột hoa của cây Chrysanthenum cinerariaefolium. Pyrethrum là chất độc tiếp xúc tác động lên hệ thần kinh gây kích thích cơ làm co giật và liệt.

(3) Nhóm các hợp chất hữu cơ tổng hợp chủ yếu gồm 4 nhóm nhỏ: Nhóm clo hữu cơ, nhóm phốt pho hữu cơ, nhóm carbamat, nhóm pyrethroid. Ngoài ra còn một số nhóm khác, mỗi nhóm có 1 hoặc vài hóa chất: Nhóm neonicotinoids, phenylpyrazoles, oxyidiazines, pyrroles, diamide/rianoids, amidinohydrazone và nhóm ức chế sinh trưởng côn trùng [15, 34]. Hiện nay 4 nhóm 6 hữu cơ tổng hợp được sử dụng nhiều thông dụng trên thị trường là nhóm clo hữu cơ, nhóm phốt pho hữu cơ, nhóm carbamate, nhóm pyrethroid [19, 59, 66, 70, 73]. Vì vậy trong nghiên cứu này sẽ tổng quan các tài liệu liên quan đến các nhóm hóa chất này.

Nhóm các hợp chất clo hữu cơ Nhóm clo hữu cơ có 3 loại hóa chất phổ biến là DDT, Dieldrin và Lindane. Trong các loại hóa chất thuộc nhóm này, DDT là loại được sử dụng khá phổ biến. Dieldrin là loại cũng thường dùng nhưng có độc tính cao với người và động vật nuôi nên không được khuyến khích sản xuất để sử dụng. Lindane được sử dụng ở những nơi côn trùng đã kháng DDT, mặc dù có độc tính cao hơn DDT nhưng có thể sử dụng một cách an toàn nếu thực hiện biện pháp bảo vệ thích hợp.

Tuy nhiên, giá thành cao và kém bền vững so với DDT nên vai trò của Lindane bị hạn chế. DDT là một trong những HCDCT đầu tiên được sử dụng rộng rãi để phun tồn lưu, có giá thành thấp, hiệu lực cao và bền vững. DDT được phát minh vào khoảng năm 1939- 1940 đã góp phần đẩy lùi bệnh sốt rét ở một số vùng khí hậu ôn đới. Ở nhiều nước, chương trình phòng chống bệnh sốt rét đã đạt được thành quả bằng cách phun DDT trong nhà một hoặc hai lần trong năm để diệt muỗi truyền bệnh.

Đến năm 1960 muỗi truyền bệnh sốt rét đã tăng tính chịu đựng và kháng lại với DDT ở một số nước. DDT khó phân hủy, nó tồn lưu trong đất một thời gian dài và có thể trôi vào các con sông, các nguồn nước. DDT tồn lưu, tích tụ trong mô mỡ của các động vật sống ở nơi có sử dụng DDT. Sử dụng DDT đã gặp phải sự phản ứng của các nhà bảo vệ môi trường [34].

Hiện nay đa số các nước trên thế giới trừ một số nước Châu Phi, DDT đã bị cấm sử dụng [31, 34, 70, 73]. Nhóm các hợp chất phốt pho hữu cơ Các loại hóa chất thuộc nhóm này được phát minh và sản xuất sau nhóm các hợp chất clo hữu cơ. Sau khi xuất hiện tình trạng côn trùng kháng lại DDT, nhóm các hợp chất phốt pho hữu cơ trở thành những HCDCT quan trọng. Nhóm các hợp chất phốt pho hữu cơ được sử dụng phổ biến là loại malathion và fenitrothion.

Mặc dù chúng đắt tiền hơn DDT nhưng hiệu lực tồn lưu lại ngắn hơn. Malathion được xếp vào loại hóa chất ít nguy hiểm nhưng nếu người phun hóa chất không thực hiện 7 đầy đủ các chế độ bảo hộ lao động an toàn thì có thể bị ngộ độc. Malathion là hóa chất thuộc nhóm các hợp chất phốt pho hữu cơ rẻ nhất và an toàn nhất khi được sản xuất theo chỉ tiêu kỹ thuật của WHO, nó cũng được sử dụng phổ biến để phun tồn lưu trong chương trình phòng chống bệnh sốt rét. Tuy vậy, người dân thường không chấp nhận hóa chất này vì nó có mùi khó chịu.

Hiệu lực tồn lưu diệt của hóa chất có thể kéo dài 6 tháng trên tường vách bằng gỗ hoặc tranh, từ 1-3 tháng trên bề mặt đất bùn hoặc vôi vữa. Fenitrothion là hóa chất được xếp vào loại có mức nguy hiểm trung bình và độc hại với người hơn so với malathion. Fenitrothion thường có tác dụng diệt côn trùng đã kháng với malathion. Hiệu lực diệt tồn lưu có thể kéo dài khoảng 2 tháng rưỡi trên các tường vách bằng gỗ và khoảng chừng 1-2 tháng đối với bề mặt bằng bùn đất [48].

Nhóm carbamat Nhóm hóa chất này phổ biến là loại propoxur và loại bendiocarb, được xếp vào nhóm hóa chất có mức nguy hiểm trung bình. Propoxur nếu bị hấp thụ vào cơ thể thì hoạt tính cholinesterase bị giảm nhưng nhanh chóng được phục hồi lại mức bình thường khi ngừng tiếp xúc. Hóa chất tương đối độc với cá, chim, ong, vật nuôi và các động vật hoang dại. Propoxur có tác dụng qua không khí ở trong nhà và khu vực ở ngoài nhà trong khoảng thời gian 2 tháng sau khi phun.

Propoxur được sử dụng ở những nơi côn trùng đã kháng lại với các hóa chất diệt thuộc nhóm các hợp chất clo hữu cơ và phốt pho hữu cơ, hóa chất có tác dụng tồn lưu khoảng từ 2-3 tháng. Bendiocarb nhanh chóng bị đồng hóa sau khi được hấp thu vào cơ thể, sản phẩm đồng hóa được thải ra ngoài cơ thể hoàn toàn trong vòng 24 giờ. Hiệu lực tồn lưu diệt của hóa chất khoảng từ 2-3 tháng [15, 31, 71]. Nhóm pyrethroid tổng hợp Đây là nhóm HCDCT được dùng khá phổ biến hiện nay trong kiểm soát véc tơ và trong sản phẩm HCDCT gia dụng [15, 19, 59, 63, 66, 70, 73].

Nhóm này bao gồm những hóa chất diệt mới được phát minh và sản xuất, đã được thử nghiệm có tác dụng hiệu quả như các loại permethrin, deltamethrin, lambdacyhalothrin, cypermethrin và cyfluthrin. Hóa chất được sử dụng ở những nơi côn trùng đã kháng lại với các nhóm hóa chất diệt đã nêu ở phần trên. Nhóm hóa chất pyrethroid tổng 8 hợp được xếp vào loại có mức nguy hiểm trung bình, trong điều kiện sử dụng bình thường nó bảo đảm an toàn cho người thực hiện biện pháp và người ở trong nhà được can thiệp hóa chất để phòng chống côn trùng truyền bệnh. Permethrin có các dạng bột và dịch nhũ tương tan nhanh trong nước, có thể dùng để phun tồn lưu trên tường vách, phun sương hoặc tẩm vào màn ngủ.

Hiệu lực tồn lưu diệt có tác dụng khoảng từ 2-3 tháng. Deltamethrin cũng có dạng bột và nhũ tương tan trong nước. Nó có hiệu lực tác dụng từ 2-3 tháng trên tường vách bằng đất bùn và tranh, trên các bề mặt làm bằng các nguyên liệu khác có thể có tác dụng diệt tồn lưu kéo dài tới 9 tháng. Lambdacyhalothrin tương tự cũng có dạng bột và nhũ tương tan trong nước, dùng để phun tồn lưu trên tường vách hoặc tẩm vào màn ngủ.

Tác dụng tồn lưu diệt có thể kéo dài từ 4-6 tháng. Alpha-Cypermethrin có dạng dịch nhũ tương. Hóa chất này được sử dụng tẩm vào màn ngủ. Hiệu lực diệt tồn lưu có tác dụng trên 4 tháng hoặc lâu hơn [15, 31, 70].

Theo chính sách quản lý hiện tại của Việt Nam, các sản phẩm HCDCT dùng trong gia dụng và y tế thuộc pham vi quản lý của Bộ Y tế bao gồm: (1) Nhang (hương) xua, diệt muỗi, (2) Tấm hóa chất xua muỗi, (3) Bình xịt diệt côn trùng, (4) Bả diệt côn trùng, (5) Kem xoa xua muỗi, (6) Dung dịch xua muỗi dùng điện, (7) Màn tẩm hóa chất xua, diệt muỗi, (8) Hóa chất, chế phẩm phun diệt côn trùng, (9) Hóa chất, chế phẩm diệt bọ gậy [4]. Trong đó sản phẩm thường được các hộ gia HGĐ cứu của Nguyễn Thị Liên Hương (2013) tại 8 tỉnh, TP trên toàn quốc, tỷ lệ chế phẩm HCDCT lưu hành trên thị trường trong tổng số 115 chế phẩm được khảo sát: bình xịt chiếm 46,9%. Tỷ lệ HGĐ (cỡ mẫu là 544 đối tượng) sử dụng bình xịt là 69,7%, dạng dung dịch là 34,2% [19].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng hóa chất diệt côn trùng tại Bắc Giang năm 2017 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá hiểu biết, thái độ và hành vi của người dân trong việc sử dụng hóa chất diệt côn trùng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng sử dụng hóa chất tại địa phương mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và giảm thiểu rủi ro liên quan đến sức khỏe cộng đồng. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và người dân quan tâm đến vấn đề an toàn hóa chất và bảo vệ môi trường.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật tại kho thuốc hòn trơ xã diễn yên huyện diễn châu tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp xử lý, nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường và sức khỏe. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá sự tích lũy kim loại nặng as cd pb trong đất trồng rau huyện hoài đức hà nội và đề xuất giải pháp giảm thiểu cũng là một tài liệu đáng đọc, giúp hiểu rõ hơn về tác động của hóa chất đến đất và nông sản. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường ứng dụng hệ thống phát hiện và định lượng tự động với cơ sở dữ liệu gcms nhằm phân tích đồng thời các hợp chất sterols và phthalate trong bụi không khí tại hà nội sẽ mang đến góc nhìn sâu hơn về ô nhiễm không khí và các hợp chất hóa học độc hại.