Tổng quan nghiên cứu

Kiểm soát côn trùng truyền bệnh bằng hóa chất đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và ngăn chặn các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Tại Việt Nam, khoảng 62,7% đến 69,7% hộ gia đình thường xuyên sử dụng các chế phẩm diệt côn trùng dạng bình xịt và dung dịch phun. Tuy nhiên, việc lạm dụng hóa chất không đúng quy chuẩn kỹ thuật đang gia tăng nguy cơ phơi nhiễm độc chất, gây ô nhiễm không khí trong nhà và làm bùng phát hiện tượng kháng hóa chất ở các loài véc tơ truyền bệnh. Thành phố Bắc Giang là khu vực có mật độ dân số cao nhất tỉnh, điều kiện tự nhiên tạo thuận lợi cho côn trùng phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, các bằng chứng thực địa đã ghi nhận hiện tượng gia tăng sức chịu đựng và kháng hóa chất ở quần thể muỗi Aedes albopictus truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue và Culex tritaeniorhynchus truyền bệnh viêm não Nhật Bản. Đáng chú ý, tỷ lệ người dân tham gia các đợt phun hóa chất tập trung do chính quyền tổ chức tại phường Lê Lợi chỉ đạt 32,5% và phường Trần Phú đạt 40,5%, dẫn đến tình trạng đa số hộ gia đình tự mua hóa chất về sử dụng tự phát.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng của tác giả Trần Thị Thanh Nhàn, thực hiện tại Trường Đại học Y tế công cộng năm 2017, tập trung mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) và xác định các yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng hóa chất diệt côn trùng dạng phun/xịt của người dân tại hai phường Lê Lợi và Trần Phú, thành phố Bắc Giang. Nghiên cứu khảo sát trên 302 người dân đại diện cho 302 hộ gia đình trong giai đoạn từ tháng 11/2016 đến tháng 6/2017. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học tin cậy để chính quyền địa phương và ngành y tế dự phòng can thiệp nâng cao tỷ lệ kiến thức đạt từ mức 37,4% và thực hành đạt từ mức 54,3%, hướng tới việc bảo vệ an toàn sức khỏe cho hơn 20.000 cư dân đô thị và bảo tồn hiệu lực của các hoạt chất kiểm soát véc tơ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng mô hình Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP Model) kết hợp với khung lý thuyết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng hóa chất của Mansour (2012). Khung phân tích này bao quát đa chiều các nhóm yếu tố tác động: đặc điểm nhân khẩu học cá nhân (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thâm niên), đặc điểm hộ gia đình (thu nhập, mật độ côn trùng, áp dụng biện pháp bổ trợ), khả năng tiếp cận dịch vụ thương mại, mức độ tiếp cận truyền thông nguy cơ và hệ thống chính sách quản lý tại địa phương.

Luận văn tập trung vào 5 khái niệm chuyên ngành nền tảng:

  • Hóa chất diệt côn trùng gia dụng và y tế: Các chế phẩm chứa hoạt chất diệt côn trùng có tên thương mại riêng, được cấp phép lưu hành theo Nghị định số 91/2016/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Phân loại độ độc cấp tính (Acute Toxicity): Hệ thống xếp loại độ độc từ cấp I đến cấp IV của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dựa trên chỉ số liều gây chết trung bình LD50 qua đường miệng hoặc qua da trên động vật thí nghiệm, được nhận diện bằng các vạch màu chuẩn hóa trên bao bì.
  • Hiện tượng kháng hóa chất (Insecticide Resistance): Sự suy giảm độ nhạy cảm di truyền của quần thể côn trùng trước liều lượng hóa chất từng tiêu diệt hiệu quả trước đó.
  • Phơi nhiễm hóa chất gia dụng: Quá trình cơ thể tiếp xúc với hóa chất độc hại qua đường hô hấp, tiêu hóa hoặc thẩm thấu qua da trong sinh hoạt.
  • Phương tiện bảo vệ cá nhân (Personal Protective Equipment - PPE): Các trang thiết bị ngăn ngừa phơi nhiễm trực tiếp như khẩu trang lọc độc, găng tay cao su, kính bảo hộ và quần áo bảo hộ chuyên dụng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và định tính. Cỡ mẫu định lượng gồm 302 đối tượng đại diện cho 302 hộ gia đình có trực tiếp sử dụng hóa chất dạng phun hoặc xịt trong vòng 6 tháng gần nhất. Công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ trong quần thể được áp dụng với mức ý nghĩa alpha 0,05, độ chính xác tuyệt đối d = 0,08, tỷ lệ ước tính p = 0,49 và hệ số thiết kế D = 2 nhằm đảm bảo tính đại diện cao. Kỹ thuật chọn mẫu nhiều giai đoạn được triển khai: giai đoạn 1 chọn ngẫu nhiên 5 tổ dân phố tại mỗi phường bằng phương pháp bốc thăm, giai đoạn 2 chọn ngẫu nhiên có hệ thống 151 hộ gia đình tại phường Lê Lợi và 151 hộ gia đình tại phường Trần Phú. Nghiên cứu định tính phỏng vấn sâu 6 cán bộ y tế quản lý từ tuyến tỉnh đến phường, 2 chủ cơ sở kinh doanh hóa chất và 2 người dân đại diện nhóm thực hành đạt và chưa đạt, kết hợp rà soát toàn diện hệ thống văn bản pháp quy hiện hành.

Dữ liệu định lượng được làm sạch bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích trên nền tảng SPSS 18. Phương pháp kiểm định chi bình phương (Chi-square test) và phân tích hồi quy logistic đa biến (Multivariate Logistic Regression) được lựa chọn nhằm kiểm soát các yếu tố gây nhiễu, xác định chính xác tỷ số chênh (Odds Ratio - OR) và khoảng tin cậy 95% CI của các yếu tố liên quan độc lập đến hành vi thực hành an toàn. Timeline thu thập số liệu thực địa diễn ra chặt chẽ từ ngày 16/3/2017 đến ngày 05/4/2017, bảo đảm tính thời điểm ngay trước khi địa phương triển khai chiến dịch diệt muỗi mùa hè năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát nhân khẩu học cho thấy trong 302 đối tượng có 58,3% là nữ giới và 41,7% là nam giới, với 43,0% thuộc nhóm tuổi từ 45 đến 60 tuổi. Về hình thức sử dụng, 66,2% hộ gia đình dùng hóa chất dạng dung dịch phun và 33,8% dùng bình xịt cầm tay; 52,3% người dân có thâm niên sử dụng từ 1 đến 5 năm. Loài côn trùng xuất hiện phổ biến nhất là muỗi (95,7%), tiếp theo là gián (63,6%) và ruồi (51,7%).

Nghiên cứu đã ghi nhận bốn phát hiện cốt lõi mang tính cảnh báo:

  • Tỷ lệ kiến thức đạt chuẩn của người dân còn rất thấp, chỉ đạt 37,4%. Đáng lo ngại, chỉ có 7,3% người dân biết đến sự tồn tại của vạch màu hoặc hình ảnh cảnh báo độc tính trên nhãn sản phẩm. Có tới 58,6% đối tượng giữ quan niệm sai lầm khi cho rằng hóa chất tốt là loại phải tiêu diệt côn trùng chết ngay lập tức. Về nhận thức nguy cơ, 61,6% biết hóa chất ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng chỉ có 36,1% nhận biết được tác động tiêu cực đến môi trường và hiện tượng kháng thuốc của côn trùng.
  • Tồn tại khoảng cách lớn giữa thái độ tích cực và hành vi thực tế: Trong khi 92,1% người dân thể hiện thái độ tích cực và đồng thuận với các nguyên tắc an toàn, tỷ lệ thực hành đạt chuẩn chỉ dừng lại ở mức 54,3%. Có đến 55,6% người sử dụng không đọc hoặc không tuân thủ theo đúng hướng dẫn sử dụng in trên bao bì.
  • Tần suất sử dụng hóa chất dày đặc và xử lý rác thải thiếu an toàn: 47,1% hộ dùng bình xịt thực hiện xịt định kỳ 1-2 lần mỗi tuần; 33,5% hộ dùng dạng phun thực hiện 1 lần/tháng hoặc 3-4 lần/năm. Đáng chú ý, 48,7% hộ gia đình phụ thuộc hoàn toàn vào hóa chất mà không áp dụng bất kỳ biện pháp vệ sinh môi trường hay cơ học nào khác. Sau khi sử dụng, có tới 82,5% người dân vứt trực tiếp vỏ chai lọ hóa chất vào thùng rác sinh hoạt thông thường và 1,7% tái sử dụng vỏ đựng.
  • Khả năng tiếp cận thị trường tự do quá dễ dàng trong khi thiếu hụt truyền thông chính thống: Hơn 95% người dân khẳng định mua hóa chất rất dễ dàng tại chợ, siêu thị hoặc cửa hàng tạp hóa (chiếm 69,8% đối với bình xịt). Gần 60% đối tượng chưa từng được tiếp cận thông tin hướng dẫn an toàn từ cơ quan y tế, trong khi 66,6% bày tỏ mong muốn được tập huấn và cung cấp kiến thức chuẩn.

Thảo luận kết quả

Khoảng trống giữa thái độ tích cực (92,1%) và thực hành đạt (54,3%) phản ánh tình trạng thiếu hụt các chương trình hướng dẫn thực hành trực quan tại cộng đồng. Người dân có ý thức tự bảo vệ nhưng thiếu kỹ năng chuẩn xác do nguồn thông tin chủ yếu đến từ truyền miệng giữa bạn bè, hàng xóm (28,5%) và người thân (19,9%), trong khi kênh cán bộ y tế chỉ chiếm 16,6%. So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hương tại 8 tỉnh thành, tỷ lệ hộ đọc hướng dẫn sử dụng trên toàn quốc đạt 91,2%, cao hơn đáng kể so với mức 44,4% tuân thủ tại Bắc Giang. Tuy nhiên, tỷ lệ thực hành đạt 54,3% trong nghiên cứu này vẫn cao hơn kết quả của Nguyễn Thành Đồng tại Gia Lâm (12,7%), nguyên nhân là do mặt bằng trình độ học vấn tại khu vực đô thị Bắc Giang cao hơn (45,3% có trình độ từ trung cấp trở lên).

Các cấu trúc dữ liệu trong nghiên cứu có thể được minh họa trực quan thông qua các dạng biểu đồ chuyên dụng:

  • Biểu đồ thanh cụm (Clustered Bar Chart) so sánh tỷ lệ ba trụ cột Kiến thức (37,4%) - Thái độ (92,1%) - Thực hành (54,3%) để làm nổi bật khoảng đứt gãy hành vi.
  • Biểu đồ tròn (Pie Chart) thể hiện thị phần các kênh mua sắm hóa chất, đối chiếu giữa kênh phi y tế (69,8% tại chợ/tạp hóa đối với bình xịt) và kênh y tế chính thống.
  • Biểu đồ diện tích phân tầng (Stacked Area Chart) thể hiện phân bố tần suất phun xịt hóa chất theo mùa mưa và các thời điểm bùng phát dịch sốt xuất huyết.
  • Bảng hồi quy logistic đa biến trình bày các chỉ số tương quan then chốt: nhóm tiếp cận thông tin y tế có tỷ lệ thực hành đúng cao gấp 2,3 lần (OR = 2,3; 95% CI: 1,35 - 3,92) và nhóm có kiến thức đạt có thực hành đúng cao gấp 3,1 lần (OR = 3,1; 95% CI: 1,84 - 5,21) so với nhóm chưa đạt.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa và đẩy mạnh chiến dịch truyền thông giáo dục sức khỏe đa kênh: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh phối hợp với Trung tâm Y tế Thành phố Bắc Giang và Trạm Y tế phường Lê Lợi, Trần Phú triển khai các chương trình truyền thông nguy cơ chuyên biệt. Mục tiêu nâng tỷ lệ người dân có kiến thức đạt từ 37,4% lên trên 80% và tỷ lệ tiếp cận thông tin đạt 85% trong giai đoạn 2018 - 2020 thông qua hệ thống loa truyền thanh phường, tờ rơi trực quan và mạng lưới cộng tác viên y tế tổ dân phố.
  2. Siết chặt thanh tra và quản lý mạng lưới kinh doanh hóa chất gia dụng: Sở Y tế tỉnh Bắc Giang và Phòng Y tế Thành phố chủ trì thành lập đoàn liên ngành kiểm tra định kỳ 100% các cơ sở kinh doanh, nhà thuốc, siêu thị và cửa hàng tạp hóa trên địa bàn. Kiên quyết thu hồi và xử phạt các điểm bán chế phẩm không có số đăng ký lưu hành, không nhãn mác tiếng Việt hoặc thiếu vạch màu cảnh báo độ độc theo quy định của Nghị định 91/2016/NĐ-CP trước quý IV/2018.
  3. Thiết lập hệ thống thu gom và xử lý bao bì, rác thải hóa chất độc hại: Ủy ban nhân dân hai phường phối hợp với Công ty Môi trường Đô thị bố trí các thùng chứa rác thải nguy hại chuyên dụng tại các tổ dân phố. Triển khai hướng dẫn quy trình súc rửa 3 lần và tiêu hủy an toàn, nhằm giảm tỷ lệ vứt bao bì hóa chất bừa bãi từ 82,5% xuống dưới 15% trong vòng 12 tháng.
  4. Thúc đẩy mô hình Quản lý Dịch hại Tổng hợp (IPM) tại hộ gia đình: Trạm Y tế phường hướng dẫn cộng đồng ưu tiên kết hợp các biện pháp phi hóa chất như vệ sinh môi trường, đậy kín dụng cụ chứa nước, thả cá diệt bọ gậy, sử dụng vợt điện và lưới chắn côn trùng. Phấn đấu tăng tỷ lệ hộ gia đình kết hợp biện pháp bổ trợ từ 51,3% lên 85% vào cuối năm 2019, giúp giảm tần suất phun xịt hóa chất và làm chậm quá trình kháng thuốc của muỗi truyền bệnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý y tế dự phòng và kiểm soát côn trùng truyền bệnh: Cán bộ công tác tại Cục Quản lý Môi trường Y tế, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tuyến tỉnh và Trung tâm Y tế cấp huyện cần số liệu thực địa để xây dựng chiến lược luân phiên hóa chất, dự phòng kháng thuốc và hoạch định chính sách phân phối hóa chất y tế.
  • Bác sĩ, cán bộ y tế cơ sở và cộng tác viên y tế công cộng: Nhân viên tại các Trạm Y tế xã/phường và mạng lưới y tế thôn bản sử dụng các thang đo KAP và tài liệu truyền thông mẫu trong luận văn để trực tiếp tư vấn, hướng dẫn hộ gia đình kỹ thuật phun xịt an toàn, sử dụng trang bị bảo hộ và cách xử trí ngộ độc cấp tính.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên khối ngành Sức khỏe: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Dịch tễ học và Sức khỏe môi trường có thể khai thác phương pháp luận kết hợp định lượng - định tính, bộ công cụ phỏng vấn cấu trúc và mô hình hồi quy đa biến làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tương đương.
  • Doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và phân phối chế phẩm diệt côn trùng: Đội ngũ nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D) cùng bộ phận Marketing của các doanh nghiệp hóa chất gia dụng sử dụng phát hiện nghiên cứu để tối ưu hóa thiết kế nhãn mác, hiển thị vạch màu cảnh báo trực quan hơn và xây dựng tài liệu hướng dẫn sử dụng dễ hiểu cho người tiêu dùng đại chúng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao tỷ lệ người dân có kiến thức đạt về hóa chất diệt côn trùng lại chỉ chiếm 37,4%? Nguyên nhân chủ yếu do có tới 59,9% người dân chưa từng được tiếp cận các nguồn thông tin cảnh báo chính thống từ cơ quan y tế. Phần lớn người dân thu nhận kiến thức qua kinh nghiệm truyền miệng thiếu chuẩn xác, dẫn đến 58,6% ngộ nhận rằng hóa chất tốt bắt buộc phải có tác dụng tiêu diệt côn trùng ngay tức thì.

  2. Việc tự ý mua và phun xịt hóa chất tại nhà có thúc đẩy muỗi kháng thuốc không? Có. Khi 55,6% người dân sử dụng sai nồng độ, pha chế không đúng liều lượng hướng dẫn và 47,1% hộ xịt với tần suất dày đặc 1-2 lần/tuần, nồng độ hóa chất dưới mức tiêu chuẩn sẽ tạo áp lực chọn lọc tự nhiên. Điều này trực tiếp gây ra hiện tượng kháng hóa chất ở muỗi Aedes albopictus và Culex tritaeniorhynchus đã được ghi nhận tại địa phương.

  3. Những sai phạm nguy hiểm phổ biến nhất khi người dân tự sử dụng hóa chất là gì? Các sai phạm lớn gồm: 92,7% không nhận biết vạch màu cảnh báo độc tính; 48,7% không kết hợp vệ sinh môi trường; 19,2% vứt hóa chất thừa trực tiếp vào rác hoặc đổ ra cống rãnh; và 82,5% thải bỏ vỏ chai lọ đựng hóa chất chung với rác sinh hoạt mà không qua xử lý khử nhiễm.

  4. Khung pháp lý nào đang điều chỉnh hoạt động quản lý hóa chất diệt côn trùng gia dụng tại Việt Nam? Nghị định số 91/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định toàn diện về quản lý hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế. Nghị định phân cấp rõ ràng thẩm quyền quản lý, cấp phép lưu hành của Bộ Y tế và trách nhiệm thanh tra, kiểm tra của Sở Y tế cùng chính quyền địa phương.

  5. Quy trình an toàn bắt buộc khi phun xịt hóa chất diệt côn trùng tại hộ gia đình gồm những gì? Người thực hiện bắt buộc phải mặc quần áo bảo hộ, đeo khẩu trang và găng tay cao su; che đậy toàn bộ thực phẩm, nguồn nước; cách ly trẻ nhỏ và vật nuôi ra khỏi khu vực xử lý tối thiểu trên 30 phút. Sau khi phun xịt xong, người thực hiện phải rửa tay bằng xà phòng và tắm rửa thay trang phục ngay lập tức.

Kết luận

  • Tỷ lệ người dân có kiến thức đạt về an toàn hóa chất diệt côn trùng còn rất thấp (37,4%), trong khi thái độ tích cực đạt mức cao (92,1%).
  • Tỷ lệ thực hành an toàn chỉ đạt 54,3%, với hơn 55,6% hộ gia đình không tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất.
  • Thị trường thương mại tự do cung ứng hóa chất quá dễ dãi (>95% dễ tiếp cận), trong khi hệ thống thanh tra, kiểm soát bán lẻ tại cơ sở còn nhiều bất cập.
  • Các yếu tố tiếp cận thông tin y tế, kiến thức đúng và thói quen kết hợp biện pháp cơ học có mối liên quan độc lập và ý nghĩa thống kê với thực hành an toàn.
  • Đóng góp chính của luận văn là cung cấp bộ bằng chứng khoa học toàn diện đầu tiên về thực trạng KAP sử dụng hóa chất diệt côn trùng gia dụng tại đô thị Bắc Giang, làm cơ sở thực tiễn để ban hành các can thiệp y tế công cộng cấp thiết.

Ngành Y tế tỉnh Bắc Giang và chính quyền thành phố cần khẩn trương phê duyệt kế hoạch hành động giai đoạn 2018 - 2020, tích hợp chặt chẽ giữa truyền thông thay đổi hành vi và siết chặt kiểm tra thị trường hóa chất thương mại nhằm giảm thiểu nguy cơ ngộ độc, bảo vệ môi trường sống và ngăn ngừa nguy cơ bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm do véc tơ kháng thuốc.