Luận văn thực trạng kiến thức thái độ thực hành về phòng chống đuối nước của trẻ từ 10 15 tuổi tại phường nghi hải thị xã cửa lò nghệ an năm 2017 và các yếu tố liên quan

Luận văn phân tích thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống đuối nước ở trẻ 10-15 tuổi tại phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, Nghệ An năm 2017 và các yếu tố liên quan.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2018

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Phòng chống đuối nước

Nghiên cứu tập trung vào phòng chống đuối nướctrẻ em 10-15 tuổi tại phường Nghi Hải, Cửa Lò, Nghệ An năm 2017. Đuối nước là một vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng, đặc biệt ở nhóm tuổi này do sự thay đổi về thể chất và tâm lý. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang và định lượng, với cỡ mẫu 300 trẻ. Kết quả cho thấy 53,6% là trẻ nam và 46,3% là trẻ nữ. Đa số trẻ đi chơi sau giờ học, với khoảng cách từ nhà đến khu vực nước nguy hiểm thường dưới 10 phút đi bộ.

1.1. Nguy cơ đuối nước ở trẻ

Nguy cơ đuối nước ở trẻ cao do đặc điểm địa lý của phường Nghi Hải, với nhiều ao, hồ, sông, kênh rạch. Trong 5 năm trước nghiên cứu, có 05 trường hợp tử vong do đuối nước, trong đó 04 trẻ dưới 15 tuổi. Trẻ trong độ tuổi 10-15 có xu hướng độc lập, ít chịu sự kiểm soát của người lớn, dẫn đến nguy cơ cao hơn. Nghiên cứu chỉ ra rằng 73,3% trẻ nam và 60,4% trẻ nữ thường đi chơi sau giờ học, tăng nguy cơ tiếp xúc với nước.

1.2. Giáo dục an toàn cho trẻ

Giáo dục an toàn cho trẻ là một giải pháp quan trọng. Nghiên cứu cho thấy chỉ 48% trẻ có kiến thức đạt về phòng tránh đuối nước. Các biện pháp phòng ngừa được trẻ đề xuất bao gồm học bơi (65,7%), mặc áo phao (56%), và tránh chơi gần khu vực nước nguy hiểm (49,7%). Thầy cô giáo là nguồn thông tin được trẻ tin tưởng nhất (74,7%). Các buổi tuyên truyền, sinh hoạt ngoại khóa và câu lạc bộ trẻ em là hình thức giáo dục hiệu quả.

II. Kiến thức về an toàn nước

Kiến thức về an toàn nước của trẻ được đánh giá qua các câu hỏi về địa điểm và nguyên nhân đuối nước. Kết quả cho thấy 82,7% trẻ biết bãi biển là địa điểm nguy hiểm, 67,7% nhận diện ao/hồ, và 66,3% nhận diện sông/mương. Nguyên nhân chính được trẻ nhận thức là không biết bơi (77,3%), bơi ở khu vực nguy hiểm (52%), và không có phao bơi (50,3%). Hậu quả của đuối nước được 97% trẻ nhận thức là tử vong, và 13% cho rằng nạn nhân có thể bị tàn tật.

2.1. Thực trạng kiến thức

Thực trạng kiến thức về phòng tránh đuối nước của trẻ còn hạn chế. Chỉ 48% trẻ có kiến thức đạt chuẩn. Các biện pháp phòng ngừa như học bơi, mặc áo phao, và tránh khu vực nguy hiểm được trẻ đề xuất, nhưng tỷ lệ thực hành còn thấp. Nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ có kiến thức không đạt có nguy cơ thực hành không đạt cao gấp 2,4 lần so với trẻ có kiến thức đạt.

2.2. Nguồn cung cấp thông tin

Nguồn cung cấp thông tin về an toàn nước chủ yếu từ thầy cô giáo (74,7%), gia đình, và các buổi tuyên truyền. Trẻ thể hiện sự quan tâm cao đến các hoạt động giáo dục, với 95% sẵn sàng tham gia các buổi tuyên truyền. Các hình thức giáo dục được ưa thích bao gồm sinh hoạt ngoại khóa, câu lạc bộ trẻ em, và tập huấn.

III. Thực hành an toàn khi bơi

Thực hành an toàn khi bơi của trẻ được đánh giá qua việc biết bơi và áp dụng các biện pháp phòng ngừa. Kết quả cho thấy chỉ 33% trẻ biết bơi, và 32% trong số đó thực hành đạt các biện pháp phòng tránh đuối nước. Trẻ nam có nguy cơ thực hành không đạt cao gấp 2,4 lần so với trẻ nữ. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức và thực hành, với trẻ có kiến thức không đạt có nguy cơ thực hành không đạt cao hơn.

3.1. Tỷ lệ biết bơi

Tỷ lệ biết bơi ở trẻ 10-15 tuổi tại Nghi Hải còn thấp, chỉ 33%. Trong số đó, 32% thực hành đạt các biện pháp phòng ngừa. Trẻ nam có tỷ lệ thực hành không đạt cao hơn, với nguy cơ gấp 2,4 lần so với trẻ nữ. Điều này cho thấy sự cần thiết của các chương trình dạy bơi và nâng cao nhận thức về an toàn nước.

3.2. Biện pháp phòng ngừa

Biện pháp phòng ngừa được trẻ áp dụng bao gồm mặc áo phao, tránh khu vực nguy hiểm, và học bơi. Tuy nhiên, tỷ lệ thực hành còn thấp, đặc biệt ở trẻ nam. Nghiên cứu khuyến nghị đưa bơi lội vào chương trình học, xây dựng bể bơi công cộng, và tổ chức các lớp học bơi miễn phí hoặc thu phí thấp.

IV. Chương trình phòng chống đuối nước

Chương trình phòng chống đuối nước cần được triển khai đồng bộ tại Nghi Hải và các khu vực lân cận. Nghiên cứu đề xuất các biện pháp như đưa bơi lội vào chương trình học, lồng ghép nội dung phòng tránh đuối nước vào sinh hoạt ngoại khóa, và xây dựng bể bơi công cộng. Các chương trình giáo dục cần tập trung vào nâng cao kiến thức, thái độ, và thực hành của trẻ, đặc biệt là trẻ nam.

4.1. Khuyến nghị chính sách

Khuyến nghị chính sách bao gồm việc đưa bơi lội trở thành môn học bắt buộc trong trường tiểu học và trung học cơ sở. Các chương trình giáo dục cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm địa lý và văn hóa của địa phương. Ngoài ra, cần xây dựng các bể bơi công cộng và tổ chức các lớp học bơi miễn phí hoặc thu phí thấp để tăng khả năng tiếp cận của trẻ.

4.2. Hiệu quả thực tiễn

Hiệu quả thực tiễn của các chương trình phòng chống đuối nước phụ thuộc vào sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, và cộng đồng. Nghiên cứu chỉ ra rằng các buổi tuyên truyền và sinh hoạt ngoại khóa có tác động tích cực đến nhận thức và hành vi của trẻ. Tuy nhiên, cần có sự giám sát chặt chẽ và đánh giá định kỳ để đảm bảo hiệu quả lâu dài.

23/02/2025
Luận văn thực trạng kiến thức thái độ thực hành về phòng chống đuối nước của trẻ từ 10 15 tuổi tại phường nghi hải thị xã cửa lò nghệ an năm 2017 và các yếu tố liên quan

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đuối nước là một vấn đề y tế công cộng quan trọng trong nhóm các vấn đề về tai nạn thương tích trên thế giới. Theo báo cáo Toàn cầu về đuối nước của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có tới 372.000 người chết mỗi năm và là một trong mười nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở trẻ em và thanh niên trên Thế giới. Đuối nước có thể xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, tuy nhiên trẻ em từ 4 - 15 tuổi là một trong những nhóm đối tượng có nguy cơ cao, đặc biệt là những khu vực có tình trạng kinh tế phát triển thấp và trung bình[49], đặc biệt là lứa tuổi từ 10 – 15 tuổi. Nhóm trẻ từ 10 - 15 tuổi là giai đoạn trẻ có nhiều thay đổi cả về tâm sinh lý và xã hội dẫn đến những biến đổi sâu sắc về mặt tâm lý, nhân cách.

Giai đoạn này cơ thể trẻ đang diễn ra quá trình thay đổi hình thái sinh lý một cách mạnh mẽ và mang tính chất không cân đối. Với những thay đổi về cơ thể, tâm sinh lý nên trẻ trong giai đoạn 10 – 15 tuổi đã có sự độc lập tương đối với người lớn, trẻ có chính kiến và đưa ra những quyết định cho các hành động của bản thân mà không cần sự cho ph p của người lớn, theo đó sự kiểm soát của người lớn đối với nhóm này khó hơn so với các nhóm tuổi khác. Trẻ có xu hướng thích những hoạt động mạnh, không muốn chịu sự kiểm soát của bố mẹ nên dễ xảy ra những tổn thương về mặt thể chất và tinh thần bởi tai nạn thương tích nói chung và đuối nước nói riêng, do đó sự hiểu biết và thái độ của trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự an toàn cho bản thân. Tại Việt Nam, đuối nước là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em và vị thành niên.

Trung bình mỗi năm trong giai đoạn 2010-2015 có khoảng 2.800 trẻ em bị tử vong do đuối nước. Trong đó nhóm tuổi chiếm tỷ lệ tử vong cao nhất là từ 5-14 tuổi. Tỷ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ em chiếm hơn 50 các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích. Tử vong do đuối nước ở Việt Nam cao nhất trong khu vực, cao gấp 8 lần các nước phát triển.

Theo báo cáo của 54/63 tỉnh, thành phố, trong 6 tháng đầu năm 2016, mặc d có nhiều biện pháp chỉ đạo sát sao nhưng tình hình đuối nước trẻ em chưa giảm, số trẻ em bị tử vong do tai nạn thương tích là trên 1.600 em, trong đó có gần 1.000 em bị tử vong do đuối nước[1. Đuối nước có thể phòng ngừa được thông qua các biện pháp đơn giản, ph hợp với từng địa bàn, lứa tuổi. Đuối nước có thể phòng ngừa được thông qua việc loại bỏ các nguy cơ xung quanh hộ gia đình. Đối với trẻ em 2 dưới 15 tuổi, đuối nước có thể dự phòng b ng cách dạy trẻ các kỹ năng bơi an toàn, cứu trợ khi cần thiết [20].

Nghi Hải là một phường của Thị xã Cửa Lò, Nghệ An với dân số là 10.042 người trong đó tổng số trẻ từ 10 - 15 tuổi năm 2017 của phường là khoảng 1. Nghề nghiệp chính của người dân trong phường là ngư nghiệp, sản xuất dịch vụ, kinh doanh,. Vị trí địa lý của phường là phía Đông giáp Biển Đông và sông Lam với chiều dài hơn 03 km, hệ thống ao, hồ, kênh rạch tương đối nhiều,… là một điểm thuận lợi cho phát triển kinh tế, du lịch,. nhưng cũng là một nguy cơ gây đuối nước ở trẻ em.

Theo báo cáo của Trung tâm cứu hộ, cứu nạn và phòng chống thiên tai Thị xã Cửa Lò, Nghệ An và Ủy ban nhân dân phường Nghi Hải trong 5 năm trở lại đây toàn phường có 05 trường hợp tử vong do đuối nước trong đó có 04 trường hợp trẻ dưới 15 tuổi tử vong do tai nạn đuối nước đã được ghi nhận [21,22,25,26]. Đứng trước thực trạng trên và hiện nay các nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ từ 10 – 15 tuổi hầu như không có, do vậy chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu:“Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu t i n qu n đến phòng tránh đu i nước củ trẻ từ 10 – 15 tuổi tại phường Nghi Hải, Thị xã Cử Lò, Nghệ An năm 2017 ”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ từ 10 – 15 tuổi trên địa bàn phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An năm 2017; 2.

Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ từ 10 – 15 tuổi trên địa bàn phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An năm 2017. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ học đuối nƣớc 1. Định nghĩa đuối nƣớc Trên thế giới, nhiều định nghĩa về đuối nước đã được đưa ra.

Năm 2008, Margie Peden đưa định nghĩa về đuối nước: đuối nước là sự kiện mà đường thở của trẻ bị ngập hoàn toàn trong môi trường nước dẫn tới tình trạng khó thở[39. Định nghĩa này bao tr m cả ba hậu quả có thể xảy ra bao gồm tử vong, tàn tật hay không tàn tật. Năm 2008, WHO đã đưa ra định nghĩa “Đuối nước là sự kiện mà đường thở của trẻ bị ngập hoàn toàn trong môi trường nước dẫn tới tình trạng khó thở”. Định nghĩa này bao tr m cả ba hậu quả có thể xảy ra bao gồm tử vong, tàn tật hay không tàn tật[57].

Đến năm 2014, Báo cáo toàn cầu về đuối nước của WHO đã đưa ra định nghĩa: “Đuối nước là hiện tượng khí quản của người lớn hay trẻ nhỏ bị một chất lỏng (thường là nước) xâm nhập vào dẫn tới khó thở. Hậu quả của ngạt thở lâu có thể là tử vong (chết đuối) hoặc không tử vong”[55]. Như vậy, ở cả hai định nghĩa của WHO, các trường hợp được coi là đuối nước bao gồm cả các trường hợp tử vong và không tử vong. Tuy nhiên, một số định nghĩa khác tách biệt cả hai trường hợp này: Năm 2016, Báo cáo về đuối nước của Canada đưa ra định nghĩa “Đuối nước là chết ngạt do không khí không vào được phổi và ngăn chặn sự hấp thu oxy dẫn tới thiếu oxy não”[50.

Trong định nghĩa này, đuối nước được coi là một hình thức tử vong do ngạt. Đề cập đến các trường hợp tử vong, Từ điển Y dược đưa ra định nghĩa “Chết đuối là tình trạng nghẹt thở và chết do kết quả của việc phổi bị tràn ngập nước hay chất lỏng khác”[33. Các trường hợp không tử vong được gọi là suýt chết đuối, “sự sống sót sau sự kiện đường hô hấp bị ngạt do chìm trong môi trường chất lỏng” hay là “sự sống sót tạm thời sau khi bị hút dịch lỏng vào trong phổi”[51]. Trong nghiên cứu này, do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu là trẻ em từ 10 – 15 tuổi nên chúng tôi đã chọn định nghĩa về đuối nước của Tổ chức Y tế thế giới: “Đu i nước à hiện tượng khí quản củ người ớn h y trẻ nhỏ bị một chất ỏng (thường à 5 nước) xâm nhập vào dẫn tới khó thở.

Hậu quả củ ngạt thở âu có thể à tử vong (chết đu i) hoặc không tử vong”. Dịch tễ học về đuối nƣớc 1. Thực trạng về đuối nước trên thế giới Năm 2015, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, toàn cầu có gần 360.000 người chết vì đuối nước. Gần 60 số ca tử vong này xảy ra ở những người dưới 30 tuổi và đuối nước là nguyên nhân thứ ba gây tử vong trên toàn thế giới cho trẻ em từ 5-14 tuổi.

Hơn 90 tử vong do đuối nước xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Các biện pháp phòng ngừa đuối nước bao gồm các giải pháp dựa vào cộng đồng, như chăm sóc trẻ em và các rào cản kiểm soát việc tiếp cận nước, hiệu quả của các chính sách quốc gia và luật lệ về an toàn nước, bao gồm thiết lập và thực thi các quy định về chèo thuyền, vận chuyển và phà. Cần phải hành động nhiều hơn nữa để ngăn ngừa đuối nước, và các cam kết trong Mục tiêu Phát triển Bền vững sẽ không thể thực hiện được nếu không có biện pháp phòng ngừa đuối nước[56]. Hoa Kỳ: Từ 2005-2014, hàng năm tại Hoa Kỳ trung bình có 3.536 người chết do đuối nước - khoảng mười trường hợp tử vong mỗi ngày (chưa tính 332 trường hợp đuối nước chết mỗi năm do tai nạn chèo thuyền).

Trung bình cứ 5 người chết vì đuối nước có 1 trẻ dưới 14 tuổi. Hơn 50 nạn nhân đuối nước điều trị tại các khoa cấp cứu đòi hỏi phải n m viện hoặc cần được chăm sóc thêm trong tương lai. Những thương tích do đuối nước này có thể gây ra tổn thương nghiêm trọng cho não, dẫn đến khuyết tật lâu dài như vấn đề về bộ nhớ, mất khả năng học tập, và mất vĩnh viễn các chức năng cơ bản (ví dụ sống trạng thái thực vật vĩnh viễn)[30]. Canada: Báo cáo về Đuối nước của Canada đã mô tả các số liệu liên quan đến số trường hợp tử vong tại quốc gia này do đuối nước từ năm 1990 đến 2013.

Số liệu cho thấy r ng tỷ lệ tử vong liên quan đến đuối nước đã giảm trong vòng 20 năm qua, từ trung bình 2,0/100. Nhóm tuổi từ 05 – 14 là nhóm tuổi có nguy cơ đuối nước cao thứ hai sau nhóm 20 – 24 tuổi. Điều này được lý giải do tác động của các chương trình can thiệp phòng chống đuối nước hướng đến các cha mẹ có con nhỏ được thực hiện tại tất cả các bang và các khu vực của Canada[50]. 6 Biểu đồ 1: Số trường hợp tử vong do đuối nước tại Canada từ 1990 - 2013 Ireland: Theo báo cáo hàng năm của Ireland về tình hình đuối nước, số liệu giai đoạn 2006 – 2015 cho thấy mỗi năm Ireland có khoảng 133 trường hợp tử vong do đuối nước.

Tỷ lệ nam giới tử vong do đuối nước cao hơn tỷ lệ này ở nữ giới rất nhiều. Nhóm 0 – 14 tuổi lại có số trường hợp tử vong chỉ đứng sau độ tuổi 20 – 29. Điều này được lý giải vì trẻ em trong độ tuổi này có xu hướng bị giám sát chặt chẽ, do đó các nguy cơ về đuối nước được hạn chế tối đa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống đuối nước ở trẻ 10-15 tuổi tại phường Nghi Hải, Cửa Lò, Nghệ An năm 2017 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá nhận thức, thái độ và hành vi của trẻ em trong độ tuổi 10-15 về phòng chống đuối nước. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng đuối nước ở trẻ em, đồng thời đề xuất các biện pháp can thiệp hiệu quả để giảm thiểu rủi ro. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, giáo viên và phụ huynh trong việc nâng cao nhận thức và kỹ năng phòng chống đuối nước cho trẻ.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh Lào Cai, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em. Ngoài ra, Luận văn dự báo tác động của ô nhiễm không khí đến sức khỏe cộng đồng trung tâm điện lực Duyên Hải Trà Vinh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa môi trường và sức khỏe. Cuối cùng, Luận văn đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên là tài liệu bổ sung về chất lượng nước và tác động đến cộng đồng.

Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết và ứng dụng vào thực tế.