Chương 1: NHẬN THỨC VỀ THAM NHŨNG Ở KHU VỰC TƯ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THAM NHŨNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 1. Nhận thức của xã hội về tham nhũng ở khu vực tư 1. Khu vực tư và tham nhũng ở khu vực tư Theo kết quả khảo sát papi5 về chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam, 11,1% số người được hỏi cho rằng tham nhũng là một trong những vấn đề đáng quan ngại nhất trong năm 20156 (cao nhất là đói nghèo với 26.18% số người được hỏi đồng ý). Đến năm 2016, chỉ số này giảm xuống còn 5,29% (đói nghèo vẫn được xem là đáng quan ngại nhất với 24.
Xét riêng về tham nhũng hối lộ ở khu vực tư, khảo sát của Ngân hàng Thế giới chỉ ra rằng, 38,3% các doanh nghiệp ở Việt Nam khi được hỏi cho rằng họ đã từng gặp ít nhất 01 lần yêu cầu hối lộ trong năm 2009, và con số này giảm xuống còn 26,1% vào năm 20158. Ba khảo sát khác nhau cùng cho một kết quả, tham nhũng hối lộ vẫn luôn là một vấn đề đáng quan tâm ở Việt Nam. Vậy tham nhũng hối lộ là gì? Tham nhũng hối lộ diễn ra như thế nào ở khu vực tư? 1. Khu vực tư Khái niệm “khu vực tư” (private sector), trong một số tài liệu còn được gọi là khu vực thương mại (commercial sector), và “khu vực công” (public sector) xuất hiện khá phổ biến trên thế giới, dễ dàng nhìn thấy hai thuật ngữ này được nhắc nhiều trong các hệ thống pháp luật chống tham nhũng hối lộ.
Thuật ngữ “khu vực tư” và “khu vực công” được dùng để phân biệt các đối 5 Papi (The Viet Nam Provincial Governance and Public Administration Performance Index): “Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam” là sản phẩm của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển-Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES), Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (VFF-CRT), và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam. Xem tại: http://papi. Chỉ số Hiệu quả Quản trị Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam. Nguồn: <http://papi.vn/wp-content/uploads/2016/04/PAPI_2015_REPORT_VN-1.
Chỉ số Hiệu quả Quản trị Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam. Nguồn: <http://papi.vn/wp- content/uploads/2017/04/PAPI2016_Report_Final_VIE. Available at: <http://data.org/indicator/IC.ZS?end=2015&locations=VN&start=2009&view=chart>. [Accessed: 9 July 2017] 123doc 8 tượng (cả cá nhân và tổ chức) chịu sự kiểm soát hoặc/và sở hữu bởi nhà nước với các đối tượng không thuộc sự kiểm soát hoặc/và sở hữu bởi nhà nước.
Khái niệm “khu vực công” thường đi cùng với những cá nhân của khu vực nhà nước. “Public official” (tạm dịch là “quan chức nhà nước”) thường được hiểu là cá nhân thực hiện công việc trong khu vực công hoặc đang làm công việc mà một người trong khu vực công đang làm9. Đây là cách định nghĩa được chấp nhận ở nhiều nước trên thế giới. Khu vực công là khu vực liên quan đến nguồn ngân sách nhà nước, kinh phí vận hành được cấp bởi nhà nước, nguồn thu từ hoạt động sẽ được nộp lại ngân sách nhà nước, hoặc hoạt động của nó chịu sự chi phối của nhà nước.
Vì vậy, sẽ thấy khu vực công có sự liên hệ mật thiết với bộ máy công quyền, với chính sách và hệ thống pháp luật… Khu vực tư là khu vực độc lập, nằm ngoài phạm vi của khu vực công. Ở Việt Nam, khái niệm khu vực tư chỉ xuất hiện khi nhà nước thực hiện đổi mới kinh tế sau Đại hội lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1986, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa10. Theo đó, khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế ngoài nhà nước bắt đầu xuất hiện và phát triển. Theo tác giả Trần Bình, khu vực tư nếu xét theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm các hoạt động kinh tế tư nhân trong nước, còn nếu theo nghĩa rộng thì là một tổng thể các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và khu vực kinh tế tư nhân trong nước11.
Theo đó, khu vực tư có thể hiểu ở phạm vi hoạt động vì lợi nhuận. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nhiều tổ chức trực thuộc nhà nước, như quân đội, cũng tham gia kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận. Vì vậy, cách hiểu về khu vực tư như vậy là chưa toàn diện. 9 Independent Commision Against Corruption of New South Wales.
Definitions of public official and public authority. Available at: <https://www.au/about-corruption/definition-public-official-authority/definitions-public-official-public- authority>. Original statement: “Public official means an individual having public official functions or acting in a public official capacity” 10 Đinh Văn Minh và Phạm Thị Huệ, 2016. Vấn đề Tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay.
Nhà Xuất Tư pháp. Khu vực kinh tế tư nhân – nguồn huyệt mạch chưa khai thông [word]. Nguồn: <http://www.vn/Modules/CMS/Upload/6/Khu%20vuc%20kinh%20te%20tu%20nhan. [Ngày xem: 15/7/2017] 123doc 9 Tiếp cận khu vực tư dưới góc độ luật pháp, theo Lê Tiền Tuyến, khu vực tư bao gồm các doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp sửa đổi 201412.
Theo cách tiếp cận này, khu vực tư sẽ không bao gồm các tổ chức cá nhân kinh doanh không đăng ký kinh doanh, hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…và đương nhiên, đây không thể là cách tiếp cận phù hợp và đầy đủ về khu vực tư ở Việt Nam. Khu vực tư nên được hiểu là khu vực bao gồm những đối tượng hoạt động bằng nguồn vốn độc lập với nguồn ngân sách nhà nước (bao gồm cả ngân sách nhà nước của một quốc gia khác khi đầu tư vào Việt Nam), lợi nhuận sau thuế của nó không có nghĩa vụ phải nộp trở lại ngân sách do không dùng nguồn vốn từ ngân sách cấp. Chiến lược hoạt động, kế hoạch vận hành… có thể bị ảnh hưởng do hệ thống pháp luật của nhà nước, nhưng không bị kiểm soát, điều chỉnh hay chi phối bởi nhà nước. Theo đó, cá nhân trong khu vực tư sẽ không bao gồm những người thuộc khu vực công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang (quân đội nhân dân và công an nhân dân) có hưởng lương từ ngân sách nhà nước, hoặc khoản lợi ích tương tự từ ngân sách nhà nước, hay từ các tổ chức kiểm soát hoặc/và sở hữu bởi nhà nước.
Khái niệm, đặc điểm tham nhũng trong khu vực tư Ở Việt Nam, theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “hối lộ” được hiểu là: “lén lút đưa tiền của để nhờ kẻ có quyền làm điều trái với pháp luật nhưng có lợi cho mình”. Hối lộ thường đi đôi với tham nhũng. Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng) thì “tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của”. Tương tự, theo từ điển tiếng Việt tại www.vn, tham nhũng là “lợi dụng quyền hành để tham ô và nhũng nhiễu dân”.
Theo tài liệu hướng dẫn được ban hành năm 1969 của Liên Hiệp Quốc về cuộc đấu tranh chống tham nhũng quốc tế định nghĩa “tham nhũng trong một phạm vi hẹp, đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng”. 12 Lê Tiền Tuyến, 2017. Trợ lực kinh tế tư nhân. Báo Sài gòn Giải phóng.
Nguồn: <http://www.vn/tro-luc-kinh-te-tu- nhan-442650. [Ngày xem: 15/7/2017] 123doc 10 Theo cách hiểu này, khi nói đến tham nhũng, người ta thường liên tưởng đến những tương tác liên quan đến quan chức nhà nước. Không quá khó để nhận ra, tham nhũng hối lộ liên quan đến quan chức nhà nước có thể chia làm hai loại: tham nhũng quan liêu (nhiều tài liệu gọi là “bureaucratic corruption” hoặc “petty corruption”) và tham nhũng chính trị hoặc tham nhũng chính sách (nhiều tài liệu nước ngoài gọi là “political corruption”). Tham nhũng quan liêu tồn tại do quyền lực nằm trong tay quan chức nhà nước, thường là cấp thấp, số tiền tham nhũng thường không lớn, tạm gọi là nhũng nhiễu để nhận của hối lộ.
Tham nhũng chính trị thường rất kín đáo và khó nhận biết, liên quan đến những quan chức nhà nước cao cấp, số lần tham nhũng thường không xảy ra thường xuyên nhưng giá trị tiền tệ tham nhũng rất lớn, ví dụ như thay đổi chính sách, thay đổi pháp luật có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp cho người đưa hối lộ. Theo Luật Phòng, Chống Tham nhũng 2005, “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Tuy nhiên, người có chức vụ quyền hạn được liệt kê trong luật là cán bộ, công nhân viên chức, và người công tác trong quân đội, công an nhân dân và “Người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước hoặc người đại diện theo ủy quyền phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp”13. Nói chung, là những người của khu vực công.
Trên thế giới, tính đến thời điểm hiện tại, có 3 hệ thống quy định được xem là có ảnh hưởng lớn nhất đến tham nhũng hối lộ nói chung và tham nhũng hối lộ ở khu vực tư nói riêng, đó là Luật Chống Tham nhũng của Anh (United Kingdom Bribery Act 2010 – viết tắt là UK BA 2010), Luật Chống Tham nhũng Hối lộ ở nước ngoài của Hoa Kỳ (The United States Foreign Corrupt Practices Act of 1977, as amended, 15 U. §§ 78dd-1, et seq., – viết tắt US FCPA 1977), Công ước Chống Tham nhũng Hối lộ của Chính phủ nước ngoài trong Giao thương Quốc tế của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OECD14 13 Dự thảo Luật Phòng, Chống Tham nhũng, điều 1. Nguồn: <http://duthaoonline.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1241&LanID=1410&TabInde x=1>. [Ngày xem: 24/9/2017] 14 The Criminal Division of the U.
Department of Justice and the Enforcement Division of the U. Securities and Exchange Commission, 2012. A Resource Guide to the U. Foreign corruption Practices Acts [e-manual], page 7.
Available at: <https://www.gov/spotlight/fcpa/fcpa-resource-guide. Lần lượt tìm hiểu khái niệm tham nhũng hối lộ theo quy định của các hệ thống pháp luật, công ước này. Theo UK BA 2010 (ngày 8 tháng 4 năm 2010), chương 23 có quy định: Một người sẽ bị xem là đưa hối lộ (còn được gọi là “hối lộ chủ động- active bribery15”) cho người khác nếu người đó trao tặng, hứa trao tặng, đưa một lợi ích tài chính hoặc bất kỳ ưu đãi nào cho người khác và nhằm gây ảnh hưởng đến người nhận để họ thực hiện phần công việc hoặc hoạt động liên quan một cách không phù hợp; hoặc để tưởng thưởng cho người nhận vì họ đã thực hiện phần công việc hoặc hoạt động liên quan một cách không phù hợp. Người đưa trong trường hợp này cũng sẽ bị xem là hối lộ nếu người đó biết và hiểu rằng việc bản thân người nhận khi nhận các ưu đãi sẽ dẫn đến sự thực hiện phần công việc hoặc hoạt động liên quan một cách không phù hợp.
Hành vi này bao gồm cả việc thực hiện trực tiếp hoặc thực hiện thông qua một bên thứ ba.