CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIÊM SOÁT RUI RO TÍN DỤNG TRONG CHO V AY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Trang 10 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỬA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt dộng cho vay và rũi ro trong hoạt dộng cho vay của NHTM a. Ngần hàng thưong mại và hoạt dộng cho vay - Ngân hàng thương mại’.
Đê đưa ra được một khái niệm chính xác và tòng quát nhất về NHTM, người ta thường phái dựa vào tính chất và mục đích hoạt động cũa nó trên thị trường tài chính, và dôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. + Mặc dù có nhiều cách thê hiện khác nhau về định nghía NHTM, nó tuỳ thuộc vào tập quán pháp luật cùa từng quốc gia, từng vùng lành thỏ nhưng khi đi sâu phân tích, khai thác nội dung cua từng định nghía đó, người ta dề dàng nhận thấy rằng: Tất cà các NHTM đều có chung một tính chất đó là việc nhận tiền ký thác - tiền gừi không kỳ hạn và có kỳ hạn, đê sư dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khau và các dịch vụ kinh doanh khác cùa chính Ngân hàng. + Ngân hàng thương mại đà hình thành, tồn tại và phát triên gan liền với sự phát triển cua kinh tế hàng hoá. Sự phát triên cùa hệ thống ngân hàng thương mại đà có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triên cua nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triên mạnh mè den giai đoạn cao cùa nó - kinh tế thị trường - thì ngân hàng thương mại cùng ngày càng được hoàn thiện và trờ thành nhừng định che tài chính không thê thiêu dược.
Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt dộng ngân hàng và các hoạt dộng kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định cua Luật Các tồ chức tín dụng và các quy định khác cùa pháp luật. (Nghị dinh số 59/2009/ND-CP cùa Chinh phu về tồ chức và hoạt động cùa NHTM) + NHTM hiện đại hoạt dộng với ba nghiệp vụ chính dó là: nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn và các nghiệp vụ trung gian khác. Ba nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác dộng hỏ trợ thúc dẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt động cùa Ngân hàng, tạo nên một chinh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM. - Hoạt động cho vay: Trang 11 + £)/7?/í nghía: Nhà kinh tế pháp Louis Baundin, dã định nghía tín dụng như là “Một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”.
Ờ đây, chúng ta thấy yểu tố thời gian dà xen lẫn vào cùng vi có sừ xen lẫn đó, cho nên có sự bắt trắc, rui do xảy ra và cần có sự tín nhiệm, sữ dụng sự tín nhiệm cùa nhau nên mới có danh từ tín dụng. Tại Việt Nam các quyết định 1627/2001QDNHNN ngày 31/12/2001 cũa thống đốc ngàn hàng về việc ban hành quy chế cho vay cùa tổ chức tín dụng đối với khách hàng và hướng dẫn thực hiện số 49/QĐ-HĐQT ngày 31/05/2002 cùa NHCT Việt Nam, quyết định số 106/ỌĐ_HĐQT_NHCT ngày 20/08/2002 về việc cho vay đôi với khách hàng ưong hệ thống ngân hàng công thương Việt Nam, phân tích đánh giá doanh nghiệp dưới giác độ tài chính - ngàn hàng. Cho vay là một hình thức cap tin dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoan tiền đê sư dụng vào mục dích và thời gian nhất định theo thoa thuận với nguyên tẳc có hoán tra cà ngốc và lãi. Định nghía trên dược các ngân hàng và tô chức tín dụng khác áp dụng dê làm tiền đề căn bán cho các hoạt động cho vay cũa mình.
+ Vai trò của hoạt động cho vay: * Đối với nền kinh tế: Cho vay góp phân thu hút von dâu tư cho nền kinh te. Do dặc diêm cho vay là quy mô rộng, khách hàng đa dạng, mặt khác nó là hình thức kinh doanh chu yếu cùa ngân hàng. Với vai trò là trung gian tài chính ngân hàng dóng vai trò là cầu nối vốn cho nền kinh tế, giừa người thừa vốn và người cần vốn để đầu tư. Hoạt dộng cho vay góp phần mờ rộng sàn xuất, thúc dầy dổi mới công nghệ, thiết bị, cài tiến khoa học kỹ thuật.
♦ Đối với người di vay: Hoạt động cho vay cũa NHTM có các kỳ hạn khác nhau. Ngắn hạn, trung han và dài hạn bên cạnh dó lài suất linh hoạt cố dinh hay tha nổi. vì thế khách hàng tuỳ ý lựa chọn kỳ hạn vay và thoà thuận hình thức lài suất vay phù hợp với mục tiêu kinh doanh cua mình. Mặt khác việc vay vốn ngân hàng giúp khách hàng tập chung được vốn kinh doanh Trang 12 đồng bộ, giám chi phí huy động và chũ động trong việc hoàn trá gốc và lài theo hợp đồng.
Bẽn cạnh đó việc thoà thuận giừa ngân hàng và khách hàng khi hết hợp đồng cho vay tạo điều kiện cho khách hàng kinh doanh tiếp. như trợ giúp vốn, gia hạn hợp đồng. Rủi ro trong hoạt động cho vay - Rui ro là một khái niệm phô biến, hầu như ai cùng có thê biết đen phạm trù này. Tuy nhiên lại không có một quan diêm thong nhất nào về rui ro.
Nhừng trường phái khác nhau, các tác già khác nhau đưa ra nhừng định nghía rũi ro khác nhau. Nhừng định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, có thê kế đến như: Allan Willett cho rằng: "Rủi ro là sự bất trắc cụ thẻ liên quan đến việc xuất hiện một biên cố không mong đợi", quan diêm này nhận được sự ung hộ cua một số học già như Hardy, Blanchard, Crobough và Redding, Klup, Anghell,. Trong một nghiên cứu cua JohnHaynes, và được nhẳc lại một lần nừa trong cuôn Lý thuyết Bão hiêm và Kinh tế cua IrvingPfeffer thì rủi ro là : “ khả nâng xày ra tôn thất, là tồng hợp nhừng sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bàng xác suất”. Tuy nhiên, quan diêm được xem là hiện dại và nhận dược sự dỏng tình cao là cùa Frank H.
Knight khi ông cho rằng : “ Rui ro là sự không chắc chắn có thể đo lường dược”. Cuốn Kinh te học hiện dại cùa Nhà xuât bãn Chính trị quốc gia cũng có đề cập đến quan điểm này. Các dịnh nghía trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy răng nó cùng dề cập đến hai đặc điểm cơ ban cùa rui ro, đó là: Rùi ro là sự không chắc chắn và là kha năng xày ra kết quà không mong muốn. Trong các khả năng xày ra, có ít nhất một khá năng đưa đến kết quả không mong muốn.
Và kết quả này có thể đem lại tồn thất hay thiệt hại cho dối tượng gặp rúi ro. - Rùi ro trong cho vay: hiện nay, trong cho vay có rất nhiều loại rủi ro như: rui ro tác nghiệp, rui ro lài suất, rùi ro tín dụng. Trong dó, rui ro tín dụng là loại rui ro phố biến nhất. Rùi ro tín dụng là khà năng xày ra nhừng tổn thắt mà ngân hàng phái chịu do khách hàng vay không tra dúng hạn, không tră, hoặc không trà đầy dù vốn và lài.
Khi ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay cụ thể thì trong hoạt động dó luôn hàm chứa rủi ro tiềm ẩn, rủi ro này nó sè làm giâm khoãn thu nhập cua ngân hàng. Do đó trong hoạt động quan lý toàn bộ ngân hàng luôn xác định một tỷ lệ tồn thất dự kiến nhầm hạn Trang 13 chế mức tối thiểu các thiệt hại về tài sản do các rủi ro cho vay gây ra. Trong cho vay một bên là người cho vay vốn, một bên là người đi vay vốn và một bên là cho vay giừa hai bên là hợp đồng tín dụng, vốn ờ đây được thẻ hiện bằng tiền chứ không bằng tài sàn hay bất cứ gì khác. Rui ro vần xày ra mặc dù bên đi vay cam kết sẽ tra đầy đu và đúng hạn cho bên cho vay theo các điều khoan cũa đồng cho vay.
Nhưng tình trạng vi phạm cam kết đó xáy ra khá phô biến kê cà trong trường hợp người đi vay có đu năng lực tài chính. Mặt khác rùi ro cho vay còn cỏ thê xảy ra ngay cả khi bên di vay thực hiện nghiêm các điều khoản cam kết trong hoạt động cho vay, thanh toán đầy đu tiền vay (gốc và lài) cho bên cho vay nhưng do biến động cùa lài suất, rùi ro trong trường hợp mà số tiền cho vay thu về không bàng chi phí cơ hội cua khoản vay đó ở thời diêm cho vay. Rui ro tin dụng trong cho vay là một loại rui ro phức tạp, để đánh giá rủi ro tín dụng là việc làm rât khó khăn dôi với ngàn hàng. Rúi ro tín dụng có thê xây ra với bất kỳ món tiền nào, bất cứ nơi nào.
Chính vì vậy rúi ro cho vay đòi hoi các ngân hàng thương mại có cách nhìn cụ thề về rủi ro, có nhừng giãi pháp dồng bộ, hừu hiệu mới có thể ngăn ngừa bớt rủi ro. Rủi ro tín dụng trong hoạt dộng cho vay của NHTM a. Khái niệm: Khi nói tới rui ro tín dụng cũa ngân hàng, khái niệm dơn gián nhất dược hiểu như sau: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay cùa ngân hàng, biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trà được nợ hoặc tra nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Như vậy, khi đến hạn mà khách hàng trà chậm, trà không dứng hạn hoặc không trà thì có nghĩa là rủi ro tín dụng đã xày ra.
Ngoài khái niệm trên, theo Ưỳ ban Basel về giám sát ngân hàng thì rui ro tín dụng lại được hiểu là rủi ro thất thoát tài sàn có thể phát sinh khi một bẽn đối tác không thực hiện nghía vụ tài chính hoặc nghía vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cà việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lài khi khoàn nợ đến hạn”. Theo quan diêm này, rủi ro tín dụng được đánh giá dựa trên việc thực hiện nghĩa vụ Trang 14 tài chính cua khách hàng bao gồm việc trà gốc và thanh toán lài.Fitch trong cuốn “ Dictionary of banking systems” lại định nghĩa rúi ro tín dụng là loại rúi ro xây ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đong dẫn đen sai hẹn trong nghía vụ trà nợ.