CHƯƠNG 1 Cơ SỎ LÝ LUẬN VÈ KIẾM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP NIIỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TONG QUAN VÈ RỬI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHÓ VÀ VÙÀ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Rủi ro tín dụng trong cho vay của ngân hàng thương mại a. Khái niệm về rủi ro tín dụng trong cho vay của ngân hàng thương mại Có rất nhiều khái niệm khác nhau ve RRTD như sau: - Theo Thomas P.Fitch (nguồn: Internet trang “luananticnsi.): RRTD là loại rủi ro xay ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dần đến sai hẹn trong nghía vụ tra nợ.
Cùng với rủi ro lài suất, RRTD là một trong nhừng rui ro chu yếu trong hoạt động cho vay cùa ngân hàng. - Theo Hennie van Greuning-Sonja B rajovic Bratanovic (nguồn: Internet trang “luananticnsi.): RRTD dược định nghía là nguy cơ mà người đi vay không thê chi trà tiền lài, hoặc hoàn tra von gòc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đỏng tín dụng. Điêu này gây ra sự cố đôi với dòng chu chuyên tiên tệ và gây ánh hường tới kha năng thanh khoan cùa ngân hàng. Từ các định nghĩa trên, có thê rút ra các nội dung cơ bàn về RRTD như sau: - RRTD xảy ra khi người đi vay trề hẹn hoặc tồi tệ hơn là không thanh toán trong nghía vụ trà nợ theo hợp dồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lăi phát sinh.
- RRTD sỗ dần đen tổn thắt tài chính, tức là giâm thu nhập ròng và giàm giá trị 14 thị trường của vốn, trong trường hợp nghiêm trọng có thề dẫn đến phá sàn. Nguyên nhãn rủi ro tín dụng trong cho vay cùa ngân hàng thương mại * Nguyên nhân xuất phát từ mỏi trường kinh doanh - Môi trường kinh tế: Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được cua thị trường trong nước khu vực là nguyên nhân chù yếu ãnh hưởng đến họat dộng SXK.D cùa khách hàng vay. Nen kinh tế Việt Nam vần còn phụ thuộc rất nhiều vào sàn xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, che biến thực phâm và nguyên liệu) dầu thô, may gia công vốn rất nhạy cãm với rủi ro thời tiết và giá cà thị trường the giới nên dề bị anh hường tôn thất khi thị trường the giới biến động xấu. Nhừng khó khăn do bị khống che hạn ngạch trong ngành dệt may, nhừng vụ kiện bán phá giá trong ngành thủy sàn,., làm ãnh hường trực tiếp đến họat động kinh doanh cũa các doanh nghiệp và cùa các ngân hàng cho vay.
Không chi xuất khâu, nhừng mặt hàng nhập khâu cũng bị anh hưởng không kém, chăng hạn, mặt hàng sắt thép bị ánh hưởng rất lớn bởi giá thép thế giới, việc tăng giá phôi thép làm cho một số doanh nghiệp sân xuất thép trong nước phai ngưng sản xuất do chi phí giá thành rat lớn trong khi không tiêu thụ được sân phâm. Ọuá ưình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế cũng dần đến nhưng hệ quà tat yếu làm cho nợ xấu gia tăng khi mặc nhiên tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, các khách hàng vay cũa ngân hàng phãi đối mặt với nhiều rùi ro, nguy cơ thua lồ và quy luật chọn lọc khăc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đỏ, bân thân sự cạnh tranh giừa các ngân hàng trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước đối mặt nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên, các khách hàng có tiềm lực tài chính tốt đã bị các ngân hàng nước ngòai thu hút bàng các sàn phẩm, dịch vụ mới cạnh tranh hơn. - Môi trường pháp tỷ: Môi trường pháp lý ở Việt Nam vần còn nhiều bất cập, các chính sách quàn lý kinh tế thường đột ngột thay đòi dần đến việc ra dời các văn ban pháp lý chưa/không phù hợp làm ảnh hường đến hoạt động kinh doanh cùa Doanh nghiệp, khiến nhiều Doanh nghiệp cùng như tô chức kinh te không diều 15 chinh kịp thời phương án kinh doanh.
- Thiên tai, hỏa hoạn, chiền tranh, dịch bệnh: Đây là rủi ro khách quan mà cả khách hàng lần ngân hàng đều không lường trước đoi với khoán cho vay cứa mình, khách hàng gặp khó khăn anh hưởng đen khả nãng trã nợ vay cho ngân hàng. Đoi với khách hàng có tiềm lực tài chính tốt thì cùng can phái có thời gian đê phục hồi và ôn định lại quá trình kinh doanh thì mới có khả năng trà nợ ngân hàng, còn với khách hàng có tiềm lực yếu thì khoan vay có khã năng rất cao chuyên nợ xấu. Mặc dù lọai rủi ro này có thê được hạn che bang cách mua bào hiêm, tuy nhiên khi lọai rui ro này xây ra, khách hàng và ngàn hàng cũng phải mat nhiều thời gian để nhận được tiền thanh toán bào hiêm từ các công ty bao hiểm để thực hiện nghía vụ trà nợ vay ngân hàng. * Nguyên nhản xuất phát từ phía khách hàng vay von - Nàng lực quản lý kinh doanh, sứ dụng tiền vay của khách hàng kém: Nhiều khách hàng có phương án kinh doanh rất khá thi, lình vực kinh doanh cỏ rất nhiều thuận lợi, tuy nhiên khi bắt đầu có đủ các điều kiện về vốn đê thực hiện phương án thì do năng lực quân trị diều hành còn hạn chế, không nhạy bén và không cỏ khã năng ứng phó trước nhừng biến động thị trường dẫn đến kết quà kinh doanh không đạt hiệu quả như kế họach đà đề ra.
- Khách hàng sử dụng von vay không đúng mục đich: Khách hàng cố tình lập ra nhiều chứng từ tài liệu sử dụng vốn vay khống, giã mạo mà do nhiều lí do ngân hàng không phát hiện được, dê lấy vốn vay sừ dụng không đúng với mục đích vay theo thỏa thuận tại Hợp dồng tín dụng. Việc sư dụng vốn vay không dứng mục đích trong nhiều trường hợp là do khách hàng vay sẵn sàng chấp nhận mạo hiêm với kỳ vọng sè đem lại lợi nhuận cao, tuy nhiên kết quà lại không như mong muốn thậm chí rùi ro mất vốn. Cũng có trường hợp khách hàng đà không có kha năng trá nợ vay tại ngân hàng khác, và cố tình tìm mọi cách vay vốn tại ngân hàng này đê đão nợ là nguyên nhân dần đen khách hàng không có kha năng thanh toán nợ đúng hạn và đầy đù cho ngân hàng. 16 * Nguyên nhân xuất phát từ phía ngân hàng - Quy trình và chỉnh sách cho vay lỏng lèo: Định hướng tín dụng chưa đạt được tam chiến lược, chưa bám sát nguyên tac cùa thị trường là lợi nhuận và mức rủi ro có the chap nhận đươc, bị cuốn theo hội chứng kinh tế, phong trào, tham vọng tăng trường quá nhanh, tìm mọi cách cạnh tranh, giành giật thị trường ờ các ngành hàng, các nhóm khách hàng mà xem xét đến yếu tố đối tượng khách hàng, đối tượng vay von có phù hợp với sở trường cũng như nâng lực quân trị của Ngân hàng mình hay không.
- Kỹ thuật cap tín dụng còn nghèo nàn, chưa hiện dại và da dạng: Việc xác định nhu cầu vốn cho khách hàng còn quá đon giàn, chưa phù hợp, Việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đon giàn, thời hạn chưa phù hợp. - Công tác quân lý RRTD và kiêm soát sau cho vay chưa dược chủ trọng, chỉ mang tinh hình thức. - Thiếu thông tin: Ngân hàng chưa xây dựng được hệ thống dừ liệu về khách hàng một cách dầy đủ, chưa có các kênh kiêm tra chéo thông tin, việc phân tích tín dụng và quyết định cho vay hầu như chi dựa trên các thông tin từ phía khách hàng cung cấp, các mối quan hệ quen biết. - Chat lượng đội ngủ cán bộ liên quan đền công tác tin dụng chưa cao: Đội ngũ cán bộ thiếu trình độ chuyên môn, không đù khà năng thâm định phương án vay von cùa khách hàng cùng như thiếu kinh nghiệm phát hiện các nhừng điều bất thường trong phương án cùa khách hàng và không dù kha năng nhận biết tình hình kinh tế xà hội tác động như thể nào đến lĩnh vực kinh doanh cùa khách hàng, điều này dần đen việc đưa ra các quyết định cho vay không đúng.
Ngoài ra, có nhừng cán bộ tín dụng đứng trước cám dồ cùa đồng tiền, đã thông đồng với khách hàng đê chiếm đoạt tiền cùa ngân hàng. Hậu quà cùa rủi rơ tín dụng trong cho vay của ngân hàng thương mại - RRTD làm giảm uy tín cùa ngán hàng: Trong xu the mờ cữa và cạnh tranh gay gat hiện nay, hau như tất cã các ngân hàng thương mại Việt Nam dcu cố gang 17 mờ các diêm giao dịch tại các vùng, địa bàn trên toàn lành thô Việt Nam, và đưa ra nhừng chương trình sãn phàm dịch vụ, phục vụ tot nhất cho khách hàng cùa mình. Hoạt động ngân hàng bao giờ cùng đặt chừ tín lên hàng đằu, hạn chế tối đa tất cã các thông tin xấu hay không hay trẽn các phương tiện truyền thông đại chúng anh hưởng đến hoạt động của ngàn hàng. Nếu một ngân hàng có tỳ lộ nợ xấu trẽn tông nợ lớn, có nhừng thông tin về việc ngân hàng không thu hồi được nợ hoặc ngân hàng đó bị Ngân hàng Nhà nước dưa vào diện kiểm soát đặc biệt thì uy tin của ngàn hàng đó bị giàm sút một cách nghiêm trọng.
Lúc đó sè không có cá nhân hoặc tổ chức nào đặt quan hệ để sử dụng các dịch vụ của ngân hàng dó nừa vì họ không biết dồng vốn họ bỏ vào ngân hàng có dâm bão an toàn và sinh lời hay không. - RRTD làm giám khả nâng thanh toán của ngân hàng: Đê có nguồn vốn đù cung cấp tín dụng cho khách hàng thì ngân hàng phải huy dộng từ các tồ chức và dân cư hay nói cách khác là ngân hàng vay cùa tố chức và dân cư để tài trợ tín dụng. Neu RRTD do không thu hồi được nợ xày ra, ngân hàng sè hạn che nguồn đê thanh toán tiền gửi cho chù nợ tức là dân cư và các tô chức kinh tế khác. - RRTD lảm giám lợi nhuận của ngân hàng: Theo quy định cũa Ngân hàng Nhà nước, tat cà các khoản nợ xấu ngàn hàng đều phải trích dự phòng, tỳ lệ trích dự phòng tùy theo mức độ nợ xấu và tài sàn đàm.
Điều này có nghía là, đối với các khoàn nợ xấu hơn và có tài sán dam bao có độ rủi ro cao hơn sẽ bị trích dự phòng cao hơn các khoàn nợ ít xấu hơn và có tài sản đàm bão ít rủi ro hơn. Việc số tiền dự phòng trích càng lớn thì chi phi vốn cua ngân hàng càng lớn và lợi nhuận cùa ngân hàng sè giảm.