phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại. CHƢƠNG 2: Thực trạng rủi ro tín dụng và kiểm soát rủi ro tín dụng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Cần Thơ. CHƢƠNG 3: Một số đề xuất và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Cần Thơ. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Hoạt động cho vay của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Theo Bùi Diệu Anh (2015) thì tín dụng ngân hàng là hoạt động tín dụng diễn ra giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong xã hội. Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, do vậy trong quan hệ tín dụng với các chủ thể kinh tế khác ngân hàng có thể vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay. Xét về bản chất, Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ Ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Tín dụng ngân hàng chứa đựng 3 nội dung: (1) Có sự chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngƣời sở hữu sang cho ngƣời sử dụng; (2) Sự chuyển nhƣợng này có thời hạn; (3) Sự chuyển nhƣợng này có kèm theo chi phí. Về phƣơng diện pháp lý, các hình thức cấp tín dụng theo quy định của Luật Tổ chức tín dụng hiện hành bao gồm: - Cho vay - Chiết khấu giấy tờ có giá - Bao thanh toán - Cho thuê tài chính - Bảo lãnh Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. (Khoản 1, Điều 2, Thông tƣ 39/2016) Theo khoản 1, điều 2, Thông tƣ quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nƣớc ngoài đối với khách hàng số 39/2016/TT- NHNN quy định: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác 9 định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Phân loại hoạt động cho vay của Ngân hàng thƣơng mại Hoạt động cho vay của NHTM có thể đƣợc phân loại theo nhiều tiêu thức.
Những cách phân loại phổ biến bao gồm: * Phân loại theo thời hạn cho vay: Theo Điều 10, Thông tƣ 39/2016, Tổ chức tín dụng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các loại cho vay nhƣ sau: Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm. Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và đƣợc sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lƣu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm. Tín dụng trung hạn dùng để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất.
Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm. Tín dụng dài hạn dùng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn nhƣ mua nhà ở, đất ở, xây sửa nhà ở, đất ở nhà ở, phƣơng tiện vận tải có quy mô lớn. * Phân loại theo hình thức bảo đảm: Cho vay có bảo đảm: Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đƣợc cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba. Theo bộ luật dân sự 2015, các hình thức cho vay có bảo đảm gồm có: + Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay.
+ Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba. + Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Cho vay không có bảo đảm: là cho vay không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của bên thứ ba. Theo quy định hiện hành, cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đƣợc thực hiện trong các trƣờng hợp sau: 1 + Tổ chức tín dụng chủ động lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
+ Tổ chức tín dụng nhà nƣớc đƣợc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định của Chính phủ. + Tổ chức tín dụng cho cá nhân hộ gia đình nghèo vay có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị xã hội. * Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay: Cho phục vụ nhu cấu đời sống: Khoản vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó (Khoản 4, Điều 2, Thông tƣ 39/2016/TT-NHNN) Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh: là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngoài mục đích phục vụ nhu cấu đời sống, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tƣ nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tƣ nhân. Tín dụng cho vay khách hàng cá nhân 1.
Khái niệm tín dụng cho vay khách hàng cá nhân Thông tƣ 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nƣớc ngoài đối với khách hàng, xác định khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng là pháp nhân, cá nhân. Theo đó, khách hàng là pháp nhân theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam bao gồm: pháp nhân đƣợc thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân đƣợc thành lập ở nƣớc ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Khách hàng cá nhân theo quy định hiện hành của NHNN Việt Nam bao gồm cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nƣớc ngoài. Theo đó, các đối tƣợng bao gồm hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tƣ cách pháp nhân.
Vậy, cho vay cá nhân đƣợc hiểu là hoạt động cấp tín dụng của NHTM dƣới hình thức cho vay đối với khách hàng cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của cá 1 nhân vay vốn hoặc nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tƣ nhân mà cá nhân vay vốn là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tƣ nhân. Đặc điểm tín dụng cho vay khach hàng cá nhân Tín dụng cho vay khách hàng cá nhân có những đặc điểm sau: - Quy mô của khoản vay thường nhỏ lẻ: Quy mô kinh doanh của cá nhân thƣờng không lớn, nhu cầu vay vốn của các cá nhân chỉ ở mức trung bình, nhỏ, đáp ứng đủ nhu cầu về đời sống, buôn bán, kinh doanh nhỏ lẻ hoặc nuôi trồng, chăn nuôi, sản xuất ở quy mô vừa và nhỏ. - Số lượng các món vay nhiều: Hiện nay, số lƣợng món vay của cá nhân đang dần chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số món vay của NHTM. Với nền kinh tế thị trƣờng, Việt Nam đang dần phát triển mở ra rất nhiều loại hình kinh doanh, tạo điều kiện cho các cá nhân vay vốn, theo đó nhu cầu vay vốn đặc biệt là các khoản tín dụng trung bình và nhỏ tăng lên rất nhiều đã dẫn đến sự tăng mạnh về số lƣợng các món vay của cá nhân tại các NHTM trong nƣớc.
- Mức độ phân tán các khoản vay rất rộng: Với mật độ phân tán dân số và sự đa dạng về các loại hình kinh doanh trải rộng rất nhiều lĩnh vực từ nông nghiệp, nông thôn đến kinh doanh buôn bán nhỏ,.địa bàn hoạt động của cá nhân hầu nhƣ có mặt ở khắp các vùng miền từ nông thôn cho đến thành thị. - Thủ tục của khoản vay đơn giản, gọn nhẹ: Tâm lý chung của khách hàng vay cá nhân thƣờng ngại các thủ tục rƣờm rà, thời gian làm thủ tục kéo dài, đồng thời phải tiết kiệm chi phí, do vậy đặt ra yêu cầu về các thủ tục trong việc vay vốn của Ngân hàng cần phải đơn giản, tiết giảm các yêu cầu về giấy tờ, tránh gây lãng phí thời gian, tiền bạc của khách hàng và NHTM. - Việc kiểm tra, giám sát khoản vay gặp nhiều khó khăn: Với đặc điểm số lƣợng các món vay nhiều và mức độ phân tán rộng nên việc kiểm tra giám sát khoản vay trƣớc, trong và sau khi cho vay gặp nhiều khó khăn đối với cán bộ khách hàng trong công tác thẩm định, theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh cũng nhƣ kịp thời nắm bắt những biến động bất thƣờng của khách hàng. Rủi ro tín dụng cho vay khách hàng cá nhân 1.
Khái niệm rủi ro tín dụng 1 Có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng (RRTD), rủi ro tín dụng hiểu một cách chung nhất là rủi ro về sự tổn thất tài chính, phát sinh từ việc khách hàng đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc việc khách hàng mất khả năng thanh toán. Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc và lãi vay có thể bị trì hoãn, thậm chí là không đƣợc hoàn trả và hậu quả là ảnh hƣởng đến sự luân chuyển tiền tệ và hoạt động của Ngân hàng. RRTD còn đƣợc gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hay rủi ro sai hẹn. Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.