LỜI MỞ ĐẦU Trong bối cảnh hội nhập của đất nƣớc và song hành cùng với sự phát triển của nền kinh tế không thể không kể đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam. Đặc biệt hoạt động tín dụng đƣợc xem là một trong những hoạt động quan trọng và mang đến lợi nhuận cao cho các ngân hàng thƣơng mại. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng cũng là rủi ro có ảnh hƣởng nghiêm trọng đến hoạt động của ngân hàng vì nó sẽ dẫn đến rất nhiều các hậu quả và rủi ro khác kéo theo. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng nhận định rằng những tổn thất phát sinh trong hoạt động ngân hàng chủ yếu đến từ việc các ngân hàng không duy trì đƣợc kiểm soát nội bộ hữu hiệu để ngăn chặn và phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro.
Do đó, bên cạnh những biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ đƣợc ban hành theo quy trình tại các ngân hàng thƣơng mại thì việc kiểm soát nội bộ sẽ giúp kiểm soát và giám sát các rủi ro tín dụng, hạn chế thất thoát vốn ngân hàng nói riêng và của nhà nƣớc nói chung. Ủy ban Basel (1998) cũng đã chỉ ra rằng kiểm soát nội bộ hữu hiệu là một thành phần quan trọng trong quản trị hoạt động ngân hàng và là nền tảng cho hoạt động ngân hàng đƣợc an toàn và lành mạnh. Thời gian qua, vấn đề kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam luôn đƣợc chú trọng, nhƣng việc ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro tín dụng vẫn chƣa đạt hiệu quả cao. Do đó, đề tài “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng Khối Khách hàng doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Kỹ Thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch” đƣợc tác giả lựa chọn làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kế toán Kiểm toán.
Qua quá trình tìm hiểu thực tế tại ngân hàng đồng thời tra cứu tại các website, thƣ viện của nhà trƣờng tác giả thấy rằng có rất nhiều đề tài, công 2 trình nghiên cứu liên quan đến việc hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp và ngân hàng. Đề tài “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng Khối Khách hàng doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Kỹ Thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch” của tác giả là đề tài đầu tiên đƣợc nghiên cứu tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Kỹ Thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng Khối Khách hàng doanh nghiệp lớn. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu tập trung vào kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng đối với khối khách hàng doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Tìm hiểu cơ sở lý luận kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại, qua đó đánh giá đƣợc thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng khối khách hàng doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch để đƣa ra các khuyến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện KSNB hoạt động tín dụng khối khách hàng doanh nghiệp lớn, cung cấp sự đảm bảo hợp lý mục tiêu hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao nhất.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể Một là, đánh giá thực trạng sự hiện hữu của các thành phần cấu thành KSNB hoạt động tín dụng khối khách hàng doanh nghiêp lớn tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch Hai là, xác định và thu thập, tổng hợp và phân tích các dẫn chứng chứng minh về sự ảnh hƣởng của các thành phần cấu thành KSNB hoạt động tín dụng khối khách hàng doanh nghiêp lớn tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch Ba là, khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao KSNB hoạt động tín dụng khối khách hàng doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thƣơng 3 Việt Nam – Sở Giao dịch để đảm bảo hiệu quả đạt đƣợc các mục tiêu trong hoạt động tín dụng đối với khối khách hàng doanh nghiệp lớn Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng của khối khách hàng doanh nghiệp lớn tại phòng khách hàng doanh nghiệp thuộc Ngân hàng TMCP Kỹ Thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch Về không gian: đề tài đƣợc thực hiện tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch, cụ thể là phòng khách hàng doanh nghiệp lớn Về thời gian: nghiên cứu đƣợc dữ liệu từ năm 2020 đến năm 2023 Đề tài được trình bày làm 4 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng khối Khách hàng doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng khối Khách hàng doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch Chƣơng 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị cho kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng Khối Khách hàng doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Kỹ Thƣơng Việt Nam – Sở Giao dịch. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và phân loại hoạt động tín dụng ngân hàng Hiện nay, nền kinh tế của chúng ta đang không ngừng phát triển, song hành cùng sự phát triển này không thể không nhắc đến hoạt động của các ngân hàng.
Các dịch vụ đƣợc ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng, phong phú hơn, đã mang đến nguồn doanh thu rất lớn cho toàn hệ thống ngân hàng nói riêng và đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Trong đó, hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, mang đến những giải pháp hữu hiệu cho cá nhân và doanh nghiệp. Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 thì hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Việc cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Thông thƣờng, ngân hàng và khách hàng sẽ kí kết hợp đồng cấp tín dụng và các phụ lục đi kèm. Trong các ngân hàng ở nƣớc ta hiện nay, hoạt động tín dụng đƣợc chia làm 2 mảng chính đó là hoạt động tín dụng cá nhân nhằm phục vụ đời sống cá nhân và hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu xoay vòng vốn cho sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Căn cứ vào thời gian, đối tƣợng và mục đích sử dụng vốn khác nhau mà hoạt động tín dụng cũng đƣợc phân chia một cách khác nhau, cụ thể nhƣ sau: 5 Căn cứ vào thời gian hoạt động tín dụng: - Hoạt động tín dụng ngắn hạn: thời gian không quá 1 năm - Hoạt động tín dụng trung hạn: có thời gian vay từ trên 1 năm đến 5 năm - Hoạt động tín dụng dài hạn: có thời gian vay trên 5 năm Căn cứ vào đối tƣợng hoạt động tín dụng: - Hoạt động tín dụng vốn lƣu động: là loại tín dụng đƣợc dùng hình thành vốn lƣu động của các tổ chức kinh doanh - Hoạt động tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng đƣợc dùng hình thành tài sản cố định Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn của hoạt động tín dụng: - Hoạt động tín dụng sản xuất và lƣu thông hàng hóa: là loại tín dụng cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất hàng hóa và lƣu thông hàng hóa - Hoạt động tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhƣ mua sắm, xây dựng nhà cửa, xe cộ 1. Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng Việc bổ sung vốn kinh doanh, mở rộng đƣợc mô hình sản xuất cho các cá nhân, tổ chức bằng nguồn tiền nhàn rỗi từ việc huy động của các thành phần khác trong nền kinh tế sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Bởi vì, để có thể thực hiện đƣợc các kế hoạch sản xuất, kinh doanh thì các cá nhân, doanh nghiệp cần phải có đủ nguồn vốn cần thiết cho các hoạt động đó. Nếu không có đủ tài chính, có thể sẽ đánh mất các cơ hội đầu tƣ mang lại lợi nhuận cao. Do đó, các doanh nghiệp, cá nhân cần tìm kiếm nguồn vốn thông qua hoạt động kêu gọi góp vốn, vay ngân hàng. Bên cạnh đó, một số cá nhân, doanh nghiệp khác có vốn nhàn rỗi lại muốn cho vay đề sinh lời và đảm bảo an toàn về vốn thì sự có mặt của hoạt động tín dụng tại các ngân hàng nhƣ là cầu nối giữa các bên, nhờ đó mà nguồn vốn đƣợc đảm bảo xoay vòng liên tục giúp làm tăng kết quả 6 hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
Ngoài ra, nó còn góp phần trong quá trình tăng trƣởng kinh tế của các cá nhân, tổ chức nói riêng và của Việt Nam nói chung. Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian tài chính, là cầu nối giữa các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp với nhau, giữa ngƣời dƣ thừa vốn và ngƣời thiếu vốn trong nền kinh tế. Thông qua sự kiểm soát, giám sát của Chính phủ, sự điều tiết của Ngân hàng nhà nƣớc, các gói ƣu đãi lãi suất cho vay, các ngành nghề đƣợc ƣu tiên cho vay có cơ hội tiếp cận vốn vay một cách dễ dàng hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển và đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nƣớc. Thông qua hoạt động tín dụng của cá ngân hàng thƣơng mại đã góp phần hình thành đƣợc cơ cấu vốn tối ƣu cho các cá nhân, doanh nghiệp.
Đây chính là đòn bẩy tài chính để doanh nghiệp có thể tối đa hóa mục đích sử dụng vốn của mình từ đó thúc đẩy, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng.