Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động huy động vốn trong ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Tây Hồ. 7 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Tây Hồ. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ẢNH HƢỚNG ĐẾN KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Khái quát về ngân hàng thƣơng mại, rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 1.1Khái quát về ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động chủ yếu và thường xuyên của NHTM là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Trong nền kinh tế thị trường, NHTM ngày càng hoàn thiện và trở thành định chế tài chính không thể thiếu để vận hành nền kinh tế với các vai trò: - NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển: Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã khắc phục được những khiếm khuyết của thị trường tài chính, khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế… hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Là một kênh phân phối vốn hiệu quả, NHTM tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng tận dụng cơ hội đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường. Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mồi quốc gia.
- NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường: Để có thể đưa sản phẩm hàng hóa dịch vụ tiếp cận với thị trường đầu ra và tìm kiếm lợi nhuận, các doanh nghiệp cần phải có vốn (yếu tố đầu vào quan trọng, nền tảng của mọi hoạt động) để thực hiện sản xuất. Khi vốn tự có không đủ hoạt động, các doanh nghiệp phải tìm đến các nguồn vốn khác. NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết được khó khăn bằng nguồn vốn tín dụng. Như vậy, NHTM chính là cầu nối đưa doanh nghiệp đến 9 với thị trường, giúp doanh nghiệp tìm được vốn đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh và thanh toán để tạo ra thành phẩm cho thị trường.
NHTM giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn cả về không gian và thời gian. - NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Các NHTM một mặt chịu sự tác động trực tiếp từ các công cụ của chính sách tiền tệ (thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất…) mặt khác gián tiếp tham gia điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ được phản hồi lại NHTW, giúp NHTW có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định. - NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế: Ngày nay, mồi quốc gia độc lập đều phát triển quan hệ quốc tế đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hoá, khoa học công nghệ… trong đó quan hệ kinh tế được chú trọng nhất.
Áp lực cạnh tranh buộc mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh. Hệ thống NHTM với các nghiệp vụ như: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, uỷ thác đầu tư… sẽ giúp nền kinh tế của một quốc gia hòa nhập với phần còn lại của thế giới. Hệ thống NHTM trong nước đã điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế, đưa nền tài chính trong nước bắt kịp với nền tài chính quốc tế. Sự phát triển ổn định của hệ thống NHTM là cơ sở để tạo ra sự ổn định và phát triển lành mạnh cho nền kinh tế.2Rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại Do tính chất đặc biệt trong hoạt động kinh doanh nên các NHTM phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro: - Rủi ro tín dụng: Đây là một trong những loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hay nói 10 cách khác là do khách hàng không thực hiện trả nợ theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro tín dụng là một loại rủi ro tiềm tàng luôn tiềm ẩn trong các ngân hàng. - Rủi ro lãi suất: Là rủi ro phát sinh khi có sự biến động của chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay của ngân hàng với lãi suất phải trả cho việc đi vay, dẫn đến làm giảm thu nhập của ngân hàng. - Rủi ro hối đoái: Là rủi ro xuất hiện trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối do sự biến động về tỷ giá giữa các đồng tiền.
Nếu tỷ giá hối đoái bán ra lớn hơn tỷ giá mua vào thì nhà kinh doanh có lãi và ngược lại. - Rủi ro thanh khoản: Là khả năng xảy ra tổn thất khi ngân hàng không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của mình. - Rủi ro hoạt động: Là khả năng xảy ra sai sót trong các hoạt động nội bộ của ngân hàng. Các sai sót này xảy ra khi quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc chưa chính xác, trình độ chuyên môn của con người hoặc đạo đức kém… - Các rủi ro bất thường khác: Rủi ro liên quan đến chính trị, khủng hoảng ngân hàng, dịch bệnh… Bản thân các NHTM không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro mà chỉ có thể hạn chế, phòng ngừa bằng cách thiết lập một hệ thống KSNB hiệu quả.
Hệ thống KSNB này cần được xây dựng theo định hướng rủi ro nhằm đảm bảo những mục tiêu, chiến lược đã đề ra. Việc đánh giá và quản trị rủi ro trong ngân hàng cũng phải được thực hiện đồng thời ở cả cấp độ vi mô – tại NHTM cũng như cấp độ vĩ mô – bởi các chi nhánh của ngân hàng trung ương nhằm hỗ trợ và xây dựng một hệ thống ngân hàng vững mạnh.2 Khái quát hoạt động huy động vốn trong ngân hàng thƣơng mại Huy động vốn trong ngân hàng thương mại là hình thức tiếp nhận các tài sản có giá trị của các cá nhân, tổ chức thông qua nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động huy động vốn không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng, giúp NHTM có đủ vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Mặt khác, thông qua hoạt động huy động vốn, NHTM có thể đo lường được 11 uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng.
NHTM huy động vốn dưới các hình thức: nguồn từ chủ sở hữu, nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân cư (tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm), phát hành các công cụ nợ (trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác) và nguồn vốn đi vay. Ngoài ra vốn của ngân hàng còn được hình thành thông qua việc làm ủy thác, đại lý cho các tổ chức trong và ngoài nước hoặc cung cấp các phương tiện thanh toán như thẻ ATM…Mặc dù nguồn vốn huy động của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như vậy nhưng thực tế nguồn vốn huy động từ tiền gửi vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất khoảng 70%-80% và nó có tính biến động, nhất là đối với tiền gửi không kỳ hạn và nguồn tiền gửi kỳ hạn ngắn. Bên cạnh đó nguồn vốn huy động còn chịu tác động bởi nhiều yếu tố như thị trường hay môi trường kinh doanh trên địa bàn hoạt động. Vì vậy NHTM cần đi sâu tìm hiểu, phân tích, dự đoán trước tình hình cung cầu vốn để có những chính sách phù hợp.
Các hình thức huy động vốn: - Huy động từ chủ sở hữu: Là nguồn vốn do các chủ sở hữu NHTM đóng góp và phần lợi nhuận giữ lại được hình thành trong quá trình kinh doanh. Nguồn vốn này có tính ổn định cao, NHTM không phải hoàn lại, đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các hoạt động mở rộng quy mô của NHTM. Các NHTM thường huy động nguồn vốn này thông qua việc phát hành cổ phiếu, nhận cấp vốn từ Ngân sách Nhà nước…tùy theo tính chất sở hữu của chính NHTM đó. - Huy động từ tiền gửi: + Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà không có thỏa thuận trước về thời gian rút tiền và mục đích chủ yếu là dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ.
Ngân hàng phải trả một mức lãi suất thấp – lãi suất không kỳ hạn cho số tiền gửi này. Do tính chất biến động của tiền gửi không kỳ hạn nên ngân hàng cần dự trữ một số tiền để đảm bảo có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu. + Tiền gửi có kỳ hạn: Là khoản tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận giữa khách hàng và tổ chức tín dụng 12 với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho khách hàng. Khách hàng chỉ được gửi, nhận chi trả tiền gửi có kỳ hạn thông qua tài khoản thanh toán của chính khách hàng đó.
Thỏa thuận về tiền gửi có kỳ hạn được tổ chức tín dụng và khách hàng được lập thành văn bản. Đây là loại tiền gửi tương đối ổn định vì ngân hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết.