CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI DOANH NGHIỆP CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN DOANH KANGAROO QUỐC TẾ. CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ, CÁC KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN. 3 2CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI DOANH NGHIỆP 2. Khái quát kiểm soát nội bộ chi phí sản xuất trong doanh nghiệp 2.
Bản chất của KSNB chi phí sản xuất trong doanh nghiệp Trong lý luận, thuật ngữ KSNB được đề cập đến lần đầu tiên vào năm 1905 trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán” của Robert Montgomery. Trong thực tế, thuật ngữ KSNB mới được đề cập chính thức trong một công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ vào năm 1929 với ý nghĩa KSNB chỉ đơn giản là Phương sách để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động và là cơ sở để kiểm toán viên lấy mẫu thử nghiệm. Khái niệm KSNB ban đầu được hiểu là sự kiểm tra nội bộ - “Internal check”. Hệ thống kiểm tra nội bộ được định nghĩa là hệ thống thông tin kế toán và các thủ tục liên quan do một bộ phận làm việc độc lập kiểm tra công việc của người khác để phát hiện và ngăn ngừa sai phạm.
Đây là định nghĩa đầu tiên chỉ ra vai trò quan trọng của KSNB trong việc phát hiện và ngăn chặn sai phạm. Sau đó, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB đứng trên các góc độ tiếp cận khác nhau của các nhà khoa học trên thế giới như Robertson (1993), Simmons (1995), King (2011). … Dưới góc độ quản lý, Kiểm soát nội bộ là sự hợp thành một cách có logic các phương pháp và sử dụng thông tin để ra quyết định về hoạch định và kiểm soát thúc đẩy hành vi của người lao động và đánh giá việc thực hiện. Kiểm soát không phải là một giai đoạn hay một pha của quá trình này.
Có thể nói kiểm soát được quan niệm và một chức năng của quản lý. Mỗi một tổ chức ban hành quy định, ứng với những tôn chỉ khác nhau sẽ đưa ra những khái niệm khác nhau liên quan đến kiểm soát nội bộ. Dưới đây là một số khái niệm được chấp nhận rộng rãi theo COSO 1992, COSO 2013 và VSA 400, VSA 315 Chuẩn mực Kiểm toán của Việt Nam số 400 (VSA 400) khi định nghĩa về KSNB cũng đứng trên góc độ phục vụ cho kiểm toán độc lập khi thực hiện kiểm toán BCTC, theo đó Kiểm soát nội bộ được định nghĩa như sau “Kiểm soát nội bộ là các qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát ngăn ngừa và phát hiện 4 gian lận, sai sót; để lập BCTC trung thực và hợp lý; nhằm bảo vể, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị. Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm mội trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát”.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán số 315: “ KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan” Theo COSO năm 1992 - Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính, “ Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây: - Báo cáo tài chính đáng tin cậy - Các luật lệ và quy định được tuân thủ - Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả “ Hơn 20 năm sau, COSO đã ban hành bản cập nhật mới là COSO 2013, theo khuôn khổ COSO: “Kiểm soát nội bộ là một tiến trình được thiết lập và vận hành bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đem lại một sự đảm bảo hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo và sự tuân thủ với pháp luật và các quy định liên quan”. Trong định nghĩa trên, với các góc độ tiếp cận khác nhau có nhiều quan niệm về KSNB song các quan niệm này đều có một số điểm chung như sau: Trước hết, KSNB là một quá trình: Các hoạt động của đơn vị được thực hiện thông qua quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. Để đạt được mục tiêu mong muốn đơn vị cần kiểm soát các hoạt động của mình, KSNB chính là quá trình này. KSNB không phải là một sự kiện hay tình huống mà là chuổi các hoạt động hiện diện trong mọi bộ phận, quyện chặt vào hoạt động của tổ chức và một số nội dung cơ bản trong các hoạt động của tổ chức.
KSNB hoạt động có hiệu lực khi nó là một bộ phận không tách rời chứ không phải chức năng bổ sung cho các hoạt động khác của tổ chức. 5 Sau đó, KSNB do các thành viên trong tổ chức thiết kế và vận hành: KSNB là một công cụ được nhà quản lý sử dụng chứ không thay thế được cho nhà quản lý. Nó không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu…mà chủ yếu do những con người trong tổ chức như HĐQT, BGĐ và các nhân viên thực thi. Chính họ sẽ là vạch ra mục tiêu, đưa ra biện pháp kiểm soát và vận hành chúng.
Tuy nhiên không phải lúc nào con người cũng hiểu rõ, trao đổi và hành động một cách nhất quán. Mỗi thành viên tham gia vào tổ chức có khả năng, kiến thức, kinh nghiệm và nhu cầu khác nhau. KSNB chỉ có thể có hiệu lực khi các thành viên trong đơn vị hiểu rõ về trách nhiệm và quyền hạn của mình và chúng cần được giới hạn ở một mức độ nhất định. Tiếp theo, KSNB đảm bảo hợp lý việc thực hiện mục tiêu của tổ chức: Điều này khẳng định, KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý chứ không phảo đảm bảo tuyệt đối.
Nguyên nhân là do xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành KSNB như những sai lầm của con người khi đưa ra các quyết định, sự thông đồng giữa các cá nhân hay sự lạm quyền của người quản lý… Cuối cùng là các mục tiêu của KSNB: Mỗi một tổ chức thường có các mục tiêu kiểm soát cần đạt được để từ đó xác định các chiến lược cần thực hiện. Đó có thể là mục tiêu chung của tổ chức hoặc mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận, tuy nhiên mục tiêu của KSNB được chia thành ba nhóm gồm: Một là mục tiêu hoạt động bao gồm hiệu lực và hiệu quả của hoạt động như mục tiêu khả năng sinh lời, mục tiêu hoạt động, bảo vệ tài sản và thông tin của đơn vị. Hai là mục tiêu BCTC đáng tin cậy nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của BCTC như ngăn chặn những sai phạm xảy ra ảnh hưởng đến việc lập và trình bày BCTC. Ba là mục tiêu tuân thủ đề cập đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định.
Đặc điểm của chi phí sản xuất ảnh hưởng đến kiểm soát nội bộ Quá trình SXKD là quá trình mà doanh nghiệp phải thường xuyên đầu tư các loại chi phí khác nhau để cùng đạt được mục đích là tạo ra khối lượng sản phẩm, lao vụ hoặc khối lượng công việc phù hợp với nhiệm vụ sản xuất đã xác định và thực hiện. Thực chất hoạt động SXKD của DN là sự vận động, kết hợp, tiêu dùng và chuyển đổi các yếu tố tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động để tạo ra kết quả cuối cùng của 6 hoạt động sản xuất. Vậy, những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất sản phẩm, hoàn thành công việc, lao vụ đó được gọi là CPSX. Theo kế toán tài chính: Theo góc độ này, chi phí được xác định như những khoản hao phí phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đây là những khoản chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh thoông thường và cả những khoản chi phí khác liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm. Các khoản chi phí này có thể được biểu hiện bằng việc tiêu dùng một lượng tiền nhất định, một lượng nguyên vật liệu, khấu hao máy móc thiết bị hay chưa thanh toán cho nhà cung cấp hoặc nợ lương của người lao động. Khi những chi phí phát sinh sẽ được kế toán tài chính thực hiện việc ghi chép và phản ánh vào chứng từ, sổ sách theo quy định của chế độ kế toán hiện hành do các cơ quan có thẩm quyền ban hành (Nguyễn Ngọc Quang, 2021). CPSX kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ) (Đặng Thị Loan, 2023). Theo kế toán quản trị: Chi phí được coi là như việc tiêu dùng một tài nguyên nhằm đạt được một mục tiêu cụ thể, là giá trị bằng tiền hoặc tương đương tiền bỏ ra để có được các sản phẩm hay dịch vụ được kỳ vọng sẽ đem lại cho đơn vị lợi ích trong hiện tại hoặc tương lai cho một tổ chức (Nguyễn Ngọc Quang, 2021). Như vây, việc kiểm soát và quản lý CPSX không chỉ tồn tại trong quy trình sản xuất mà còn ngoài hoạt động SX như quá trình mua sắm và tồn trữ các nguồn lực của sản xuất. Kiểm soát chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất Kiểm soát chi phí sản xuất được hiểu là điều khiển việc hoàn thành chi phí sản xuất sao cho không phá vỡ hạn mức đã được xác định trong từng giai đoạn, là việc làm thường xuyên, liên tục điều chỉnh những phát sinh trong suốt quá trình quản lý nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế cao.