Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự với đề tài "Nguồn chứng cứ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam" do sinh viên Phạm Trung Dũng (Trường Đại học Luật Hà Nội) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Bùi Thị Huyền vào năm 2023. Đề tài được triển khai trong bối cảnh công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đang được đẩy mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, trong đó xác định mục tiêu đến năm 2030 hoàn thiện cơ bản các cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, khả thi của hệ thống pháp luật.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và tác động từ cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), các quan hệ xã hội và giao dịch dân sự ngày càng trở nên phức tạp, dẫn đến số lượng tranh chấp dân sự thụ lý tại Tòa án tăng cao. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã kế thừa và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), song thực tiễn áp dụng cho thấy các quy định về nguồn chứng cứ vẫn bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắc. Tỷ lệ các bản án, quyết định dân sự bị hủy, sửa do việc thu thập, đánh giá và xác định nguồn chứng cứ chưa đầy đủ, thiếu khách quan vẫn còn ở mức cao.

Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài xác định 03 mục tiêu cụ thể:

  1. Phân tích, làm rõ nhận thức và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự.
  2. Đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về nguồn chứng cứ, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định và vướng mắc trong áp dụng.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như bảo đảm hiệu quả thực thi pháp luật về nguồn chứng cứ tại Tòa án nhân dân các cấp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về nguồn chứng cứ; hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng dân sự về nguồn chứng cứ; thực tiễn thi hành các quy định về nguồn chứng cứ tại Tòa án; cùng các quy định pháp luật tương ứng của một số quốc gia.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành (trọng tâm là BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đối chiếu với các đạo luật chuyên ngành có liên quan như Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Công chứng, Luật Giá); dữ liệu thực tiễn xét xử được thu thập thông qua báo cáo công tác của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2020 – 2022; phạm vi so sánh quốc tế tập trung vào pháp luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp. Về mặt lý luận nhận thức, nghiên cứu vận dụng nguyên lý phản ánh của vật chất và con đường nhận thức chân lý khách quan để luận giải mối quan hệ biện chứng giữa sự kiện pháp lý, dấu vết vật chất/phi vật chất, nguồn chứng cứ và chứng cứ.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm cơ sở phân tích bao gồm:

  • Văn bản lịch sử: Quốc triều hình luật (thời Lê), Quốc triều khám tụng, Hoàng Việt luật lệ (1802), Bộ luật Dân sự thương sự tố tụng Bắc kỳ (1921), Thương sự tố tụng Trung kỳ (1935), Thông tư 141/HCTP (1957), Thông tư 03/NCPL (1962), Thông tư 06/TA-TC (1974), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1989), Công văn 96/NCPL (1997), BLTTDS năm 2004 và BLTTDS sửa đổi năm 2011.
  • Văn bản hiện hành: BLTTDS năm 2015, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC, Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP.
  • Tài liệu quốc tế: Luật Tố tụng Dân sự Trung Quốc năm 2007 (sửa đổi), Quy tắc Chứng cứ Dân sự năm 2019 của Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc; Quy tắc Chứng cứ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Rules of Evidence - FRE); tài liệu nghiên cứu của Greg Fullelove, Laila Hamzi, Daniel Harrison (Evidence in Arbitration) và Miklos Kengyel, Zoltan Nemessanyi (Electronic Technology and Civil Procedure, Springer 2012).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Sử dụng xuyên suốt trong Chương 1 và Chương 2 nhằm mổ xẻ các thuộc tính, khái niệm khoa học pháp lý và hệ thống hóa từng loại nguồn chứng cứ.
  • Phương pháp liệt kê và phân loại: Áp dụng tại Chương 1 để trình bày các quan điểm lý luận trong giáo trình và tài liệu pháp lý chuyên ngành.
  • Phương pháp luật học so sánh: Sử dụng tại Chương 1 để so sánh mô hình pháp luật về chứng cứ của Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ.
  • Phương pháp thống kê: Áp dụng tại Chương 3 để lượng hóa số liệu giải quyết các vụ việc dân sự từ Báo cáo tổng kết công tác hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao từ năm 2020 đến năm 2022.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự

Chương 1 tập trung giải quyết các nội dung nền tảng về khái niệm, bản chất pháp lý và cơ sở triết học của nguồn chứng cứ, đồng thời khái quát tiến trình lập pháp tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế:

  1. Khái niệm và đặc điểm của nguồn chứng cứ: Nguồn chứng cứ được định nghĩa là nơi bắt đầu, nơi phát sinh, chứa đựng hoặc nơi có thể cung cấp, rút ra các chứng cứ phục vụ chứng minh trong vụ việc dân sự. Khóa luận phân biệt rõ mối quan hệ giữa thông tin (nội dung/chứng cứ) và vật mang thông tin (nguồn chứa đựng). Ba đặc điểm chung của nguồn chứng cứ bao gồm:

    • Là nguồn chứa đựng các thông tin tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người và có tính liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vụ án.
    • Là căn cứ xác định tính hợp pháp của chứng cứ (chứng cứ chỉ có giá trị pháp lý khi được rút ra từ nguồn luật định).
    • Phải được cơ quan tiến hành tố tụng và đương sự thu thập, bảo quản theo đúng trình tự, thủ tục do luật định.
  2. Cơ sở khoa học và triết học: Việc xây dựng chế định nguồn chứng cứ dựa trên nguyên lý phản ánh của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Mọi hành vi pháp lý và sự kiện thực tế khi diễn ra đều tương tác với thế giới khách quan và để lại dấu vết (dưới dạng vật chất, tài liệu, dữ liệu hoặc trong ý thức của con người). Nhận thức của con người thông qua điều tra, thu thập dấu vết là con đường xác định sự thật khách quan của vụ án.

Giai đoạn lịch sử Văn bản/Cơ sở pháp lý tiêu biểu Đặc điểm quy định về nguồn chứng cứ
Thời kỳ phong kiến Quốc triều hình luật (Điều 390, 665), Quốc triều khám tụng, Hoàng Việt luật lệ (1802, Điều 334) Quy định kết hợp dân sự - hình sự; ghi nhận người làm chứng, di chúc/chúc thư có xác nhận của quan trưởng, chứng cứ hiện trường; xử lý tội "giả chứng".
Thời kỳ Pháp thuộc Dân sự thương sự tố tụng Bắc kỳ (1921), Thương sự tố tụng Trung kỳ (1935) Chịu ảnh hưởng BLDS Pháp 1804; công nhận sổ sách thương mại (Điều 1405), văn tự tư gia (Điều 1406), chữ khắc văn bia, chuông chùa (Điều 1407), văn tự nợ (Điều 1408).
Giai đoạn 1945 – 2004 Thông tư 141/HCTP (1957), Thông tư 03/NCPL (1962), Pháp lệnh năm 1989, Công văn 96/NCPL (1997) Chuyển từ các quy định hướng dẫn sơ khởi sang văn bản pháp lệnh; quy định quyền hạn điều tra, thu thập của Tòa án và trách nhiệm cung cấp của đương sự.
Giai đoạn 2004 – 2015 BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS (2011) Tách thành chương riêng (Điều 70 - 98); Điều 82 BLTTDS 2011 liệt kê 09 nguồn chứng cứ cụ thể (bao gồm tập quán).
Giai đoạn 2015 – nay BLTTDS năm 2015 (Điều 94, 95) Bổ sung dữ liệu điện tử, văn bản công chứng/chứng thực, vi bằng; loại bỏ tập quán ra khỏi danh mục Điều 94.
  1. Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài:
    • Trung Quốc: BLTTDS Trung Quốc năm 2007 (Điều 63) và Quy tắc Chứng cứ Dân sự năm 2019 của TANDTC Trung Quốc quy định trực tiếp danh mục chứng cứ thay vì nguồn chứng cứ, yêu cầu xuất trình bản gốc (Điều 61), ký bản tuyên thệ trước khi khai báo/làm chứng (Điều 63, 65, 68, 71) và quy định chế tài nghiêm khắc đối với hành vi khai gian hoặc cản trở nhân chứng.
    • Hoa Kỳ: Quy tắc Chứng cứ Liên bang (FRE) không lập danh mục cố định về nguồn mà áp dụng phương pháp tiếp cận mở và linh hoạt dựa trên tính phù hợp (Relevance theo Rule 401, 402) và quyền loại trừ chứng cứ gây định kiến hoặc lãng phí thời gian (Rule 403).

Chương 2: Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về nguồn chứng cứ trong luật tố tụng dân sự

Chương 2 phân tích chi tiết quy chế pháp lý của từng loại nguồn chứng cứ quy định tại Điều 94 và Điều 95 BLTTDS năm 2015:

  1. Phân tích cụ thể các loại nguồn chứng cứ:

    • Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử: Tài liệu đọc được phải là bản chính hoặc bản sao hợp pháp; tài liệu nghe/nhìn phải có văn bản xác nhận xuất xứ hoặc văn bản về sự việc thu âm, thu hình. Khóa luận phân tích chuyên sâu Dữ liệu điện tử theo Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (Điều 3, Điều 7, Điều 11), khẳng định các hình thức như thông điệp dữ liệu, chữ ký số, hợp đồng điện tử, thư điện tử đều là nguồn chứng cứ và giá trị chứng minh phụ thuộc vào tính toàn vẹn của hệ thống khởi tạo, lưu trữ.
    • Vật chứng: Phải là hiện vật gốc mang tính đặc định, liên quan trực tiếp đến vụ việc, được Tòa án bảo quản chặt chẽ hoặc giao người thứ ba bảo quản theo biên bản giao nhận.
    • Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng: Thực hiện theo trình tự tại Điều 86, Điều 99 BLTTDS 2015; lấy lời khai riêng biệt từng người để đảm bảo tính khách quan; người làm chứng chưa đủ 18 tuổi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có người đại diện giám hộ.
    • Kết luận giám định: Là nhận xét bằng văn bản của giám định viên tư pháp theo thủ tục trưng cầu, áp dụng phổ biến trong giám định ADN, giám định chữ ký, giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
    • Biên bản ghi kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Thực hiện theo Điều 101 BLTTDS 2015 và Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP; biên bản phải có đầy đủ chữ ký của Thẩm phán, đại diện UBND/Công an cấp xã và các bên tham gia.
    • Văn bản công chứng, chứng thực: Quy định tại khoản 9 Điều 94 BLTTDS 2015; văn bản được công chứng, chứng thực hợp pháp được coi là nguồn chứng cứ đương nhiên mà không cần phải chứng minh, trừ khi bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.
    • Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản: Quy định tại Điều 104 BLTTDS 2015 và Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC; Tòa án ra quyết định định giá khi đương sự không thỏa thuận được giá hoặc lựa chọn tổ chức thẩm định giá có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
    • Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập (Vi bằng): Thực hiện theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP do Thừa phát lại trực tiếp lập thành 03 bản chính, đăng ký lưu trữ tại Sở Tư pháp trong thời hạn 03 ngày làm việc; kèm theo hình ảnh, video làm chứng cứ bổ trợ.
    • Các nguồn khác do pháp luật quy định: Dự phòng cho sự phát triển của các quan hệ pháp lý mới (như tập quán thương mại quốc tế).
  2. Một số hạn chế, bất cập của BLTTDS năm 2015:

    • Chưa quy định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm chứng minh khi có nghi vấn, khiếu nại về tính xác thực của bản sao có công chứng, chứng thực.
    • Thiếu tiêu chí, biểu mẫu chuẩn hóa cho "văn bản xác nhận xuất xứ" đối với tài liệu nghe được, nhìn được.
    • Sự thiếu chuẩn xác về mặt thuật ngữ lý luận tại Điều 94: quy định "lời khai của đương sự" là nguồn chứng cứ chưa chuẩn, bởi lời khai là thông tin, còn văn bản ghi lời khai/biên bản phiên tòa mới là vật thể chứa đựng nguồn thông tin đó.
    • Việc loại bỏ hoàn toàn "Tập quán" ra khỏi danh mục Điều 94 BLTTDS 2015 tạo ra khoảng trống pháp lý, đặc biệt trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế và các tập quán dân sự truyền thống.
    • Tiêu đề Điều 95 đặt tên là "Xác định chứng cứ" chưa hoàn toàn tương thích với hệ thống lý luận về việc xác định nguồn chứng cứ.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về nguồn chứng cứ và kiến nghị

Chương 3 tổng kết số liệu xét xử thực tế, chỉ ra khó khăn từ phía đương sự và Tòa án, từ đó xây dựng các nhóm giải pháp:

  1. Kết quả đạt được và số liệu thực tiễn: Theo Báo cáo tổng kết công tác hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2020 – 2022, số lượng vụ việc dân sự Tòa án các cấp thụ lý, giải quyết có xu hướng gia tăng liên tục. Năm 2022, Tòa án các cấp đã thụ lý 444.402 vụ việc dân sự, tăng 6% (tương đương tăng 26.636 vụ việc) so với năm 2021. Đội ngũ Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã nâng cao kỹ năng xác định nguồn chứng cứ thông qua tập huấn, phiên tòa rút kinh nghiệm.

  2. Hạn chế, bất cập trong thực tiễn:

    • Đương sự chưa nhận thức đúng nghĩa vụ chứng minh theo Điều 91 BLTTDS 2015; xuất hiện tình trạng không cung cấp, cung cấp chậm trễ tài liệu hoặc không hợp tác khi Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ.
    • Đánh giá nguồn chứng cứ không đầy đủ: Thẩm phán không tổ chức đối chất khi lời khai các bên mâu thuẫn; chưa xác minh triệt để nguồn gốc tài liệu đất đai có sự sai lệch giữa các cơ quan quản lý nhà nước (dẫn chứng vụ án cụ thể tại Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2019/DS-ST ngày 25/09/2019 của TAND huyện C).
    • Áp lực biên chế giảm trong khi số lượng án và độ phức tạp của các loại chứng cứ mới (chứng cứ điện tử) tăng cao.
  3. Hệ thống kiến nghị hoàn thiện:

    • Về mặt lập pháp: Sửa đổi, bổ sung Điều 94 và Điều 95 BLTTDS 2015 theo hướng chuẩn hóa thuật ngữ; bổ sung lại tập quán vào nguồn chứng cứ; ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết quy trình thu thập, chuyển hóa và bảo quản thông điệp dữ liệu điện tử; quy định cụ thể quy chuẩn của văn bản xác nhận nguồn gốc tài liệu nghe nhìn.
    • Về mặt thực thi: Nâng cao trình độ nghiệp vụ cho Thẩm phán về kỹ năng thu thập, đánh giá chứng cứ phi truyền thống; tăng cường phối hợp liên ngành giữa Tòa án với các tổ chức giám định, Văn phòng Thừa phát lại và cơ quan quản lý đất đai.

Kết quả và đóng góp

  1. Kết quả nghiên cứu chính:

    • Hệ thống hóa toàn diện các quy định về nguồn chứng cứ qua các giai đoạn lịch sử của pháp luật Việt Nam từ thời phong kiến (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ), thời Pháp thuộc cho đến các giai đoạn lập pháp 1945, 1989, 2004, 2011 và 2015.
    • Làm rõ cơ sở pháp lý và điều kiện công nhận giá trị chứng cứ của 09 nhóm nguồn chứng cứ theo Điều 94 BLTTDS 2015, đặc biệt là các nguồn mới như dữ liệu điện tử (theo Luật Giao dịch điện tử 2023) và vi bằng do Thừa phát lại lập (theo Nghị định 08/2020/NĐ-CP).
    • Phản ánh thực trạng thụ lý án dân sự giai đoạn 2020 – 2022 với số liệu cụ thể năm 2022 đạt 444.402 vụ việc (tăng 6% so với năm 2021).
  2. Đóng góp so với các nghiên cứu trước đây:

    • Khắc phục khoảng trống nghiên cứu khi phần lớn các công trình trước đây (như nghiên cứu của Bùi Lan Oanh năm 2018, Nguyễn Văn Thanh năm 2013, Nguyễn Như Quỳnh năm 2018) chỉ tập trung vào các hoạt động riêng lẻ như "chứng minh", "thu thập chứng cứ" hoặc "cung cấp chứng cứ", chưa xây dựng chuyên khảo độc lập và chuyên sâu về bản chất của "nguồn chứng cứ".
    • Cập nhật các văn bản pháp luật mới nhất tính đến năm 2023 (Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Nghị quyết 27-NQ/TW) và so sánh trực tiếp với Quy tắc Chứng cứ năm 2019 của Tòa án tối cao Trung Quốc và Quy tắc Chứng cứ Liên bang Hoa Kỳ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của khóa luận chủ yếu dựa trên số liệu thống kê tổng hợp vĩ mô từ Báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao (2020 – 2022) và một số bản án điểm (như Bản án số 29/2019/DS-ST), chưa thực hiện khảo sát xã hội học định lượng sâu trên diện rộng tại từng địa bàn Tòa án địa phương cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Đi sâu nghiên cứu cơ chế chuyển hóa, giám định kỹ thuật số đối với các dạng dữ liệu điện tử phức tạp (chuỗi khối, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn) trong tố tụng dân sự điện tử và hoàn thiện quy chế phối hợp xác minh chứng cứ giữa Tòa án với các cơ quan hành chính nhà nước.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và Thừa phát lại đang thực hiện công tác chuyên môn liên quan đến hoạt động thu thập, lập vi bằng và đánh giá chứng cứ.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Phần phân tích lý luận về sự phân định giữa "thông tin" và "vật mang thông tin" tại Chương 1.
    • Phần đối chiếu, hệ thống hóa điều kiện có hiệu lực của dữ liệu điện tử, vi bằng và văn bản công chứng tại Chương 2.
    • Kinh nghiệm lập pháp so sánh về chứng cứ của Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Câu hỏi thường gặp

1. Dữ liệu điện tử được công nhận là nguồn chứng cứ và đánh giá giá trị chứng minh dựa trên các tiêu chí nào?
Theo Điều 94 BLTTDS năm 2015 và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (Điều 3, 7, 11), thông điệp dữ liệu điện tử (văn bản điện tử, chứng từ, thư điện tử, hợp đồng điện tử...) được công nhận là nguồn chứng cứ. Giá trị chứng minh của nó không chỉ đánh giá theo 3 thuộc tính truyền thống (khách quan, liên quan, hợp pháp) mà căn cứ vào: độ tin cậy của cách thức khởi tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp; cùng phương thức xác định người khởi tạo.

2. BLTTDS năm 2015 có điểm gì thay đổi đáng chú ý về danh mục nguồn chứng cứ so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi 2011)?
BLTTDS năm 2015 bổ sung thêm các nguồn chứng cứ mới gồm: Dữ liệu điện tử; Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập (vi bằng); Văn bản công chứng, chứng thực. Đồng thời, bộ luật đã loại bỏ "Tập quán" ra khỏi danh mục các nguồn chứng cứ quy định tại Điều 94.

3. Pháp luật tố tụng dân sự của Trung Quốc và Hoa Kỳ có sự khác biệt cơ bản nào về kỹ thuật lập pháp nguồn chứng cứ so với Việt Nam?
Khác với Việt Nam lập danh mục cụ thể về "nguồn chứng cứ", Trung Quốc (Điều 63 BLTTDS 2007) quy định danh mục các loại "chứng cứ" và bắt buộc người làm chứng phải ký bản tuyên thệ trước tòa. Trong khi đó, Hoa Kỳ (theo Quy tắc Chứng cứ Liên bang FRE) không liệt kê cố định danh mục nguồn mà quy định mở, tập trung thẩm định tính phù hợp (Relevance - Rule 401, 402) và quyền loại trừ của Thẩm phán (Rule 403).

4. Khối lượng thụ lý án dân sự của ngành Tòa án trong giai đoạn 2021 – 2022 biến động như thế nào theo số liệu trong khóa luận?
Theo Báo cáo của TANDTC được trích dẫn trong khóa luận, năm 2022 các Tòa án đã thụ lý 444.402 vụ việc dân sự, tăng 6% (tương đương tăng thêm 26.636 vụ việc) so với năm 2021.

5. Vi bằng của Thừa phát lại được xác lập theo các điều kiện hình thức và thủ tục pháp lý nào để có giá trị làm chứng cứ?
Vi bằng phải do chính Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập thành văn bản (không được ủy quyền), có thể kèm hình ảnh, âm thanh, video theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP. Vi bằng được lập thành 03 bản chính (giao người yêu cầu 01 bản, đăng ký lưu giữ tại Sở Tư pháp 01 bản trong 03 ngày làm việc, lưu trữ tại Văn phòng Thừa phát lại 01 bản).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Trung Dũng đã nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam. Tác phẩm làm rõ bản chất pháp lý, phân tích chuyên sâu 09 nhóm nguồn chứng cứ theo BLTTDS năm 2015 trong mối liên hệ với các luật chuyên ngành mới, đồng thời chỉ ra các bất cập lập pháp và hạn chế thực tế qua số liệu thụ lý của TANDTC (2020 - 2022). Hệ thống kiến nghị sửa đổi Điều 94, Điều 95 BLTTDS 2015 và các giải pháp thực thi mang tính khả thi, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử tại Tòa án.