CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại 1.Định nghĩa và phân loại rủi ro trong ngân hàng thương mại 1.1 Định nghĩa rủi ro Trong hệ thống thị trường, luôn có một số rủi ro liên quan đến mọi giao dịch thương mại. Ngành ngân hàng không phải là duy nhất. Một yếu tố được sử dụng để đánh giá rủi ro trong ngân hàng là rủi ro tài chính.
Nó được định nghĩa là khả năng sinh lời kém hơn dự kiến do tác động bất lợi từ các sự kiện sốc xảy ra cả bên trong và bên ngoài. Khi ngân hàng chấp nhận nhiều rủi ro hơn, nó sẽ có thể tăng lợi nhuận. Theo tác giả David H. Pyle (1999) trong bài viết QTRR ngân hàng, “nếu chúng ta xác định rủi ro tài chính trong các tổ chức ngân hàng, thì nó đề cập đến khả năng ngân hàng gặp phải những tổn thất không lường trước và ngoài kế hoạch do biến động của lợi nhuận kỳ vọng của một khoản đầu tư cụ thể”.
Ngày nay, các ngân hàng dồn rất nhiều công sức vào việc kiểm soát và tránh rủi ro vì họ hiểu tầm quan trọng của việc phát hiện và đo lường rủi ro.2 Phân loại rủi ro trong ngân hàng thương mại Có những mối nguy hiểm mới mà các ngân hàng phải đối mặt hàng ngày. Các sự kiện không chủ ý có tác động tiêu cực đến ngân hàng và có khả năng gây tổn thất tài sản và lợi nhuận ròng thấp hơn dự kiến cho ngân hàng được gọi là rủi ro. Theo nghiên cứu năm 2020 của Hennie van Greuning và Sonja Brajovic Bratanovic về rủi ro ngân hàng, RRTD, rủi ro tiền tệ, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động là những mối nguy hiểm chính liên quan đến ngân hàng. Rủi ro trong ngân hàng Rủi ro hoạt Rủi ro thanh Rủi ro thị Rủi ro tín Rủi ro tiền tệ động khoản trường dụng Bảng 2.
Các loại rủi ro chính trong ngân hàng 11 Nguồn: Hennie van Greuning and Sonja Brajovic Bratanovic (2020), Analyzing Banking Risk 1.Rủi ro tín dụng ở ngân hàng thương mại Ngày nay, RRTD được định nghĩa theo nhiều cách .Theo Hennie van Greuning và Sonja Brajovic Bratanovic, Đánh giá rủi ro ngân hàng (2020) RRTD hoặc rủi ro đối tác là khả năng người mắc nợ hoặc người phát hành một công cụ tài chính một cá nhân, công ty hoặc quốc gia sẽ không thể trả nợ gốc và các dòng tiền khác liên quan đến khoản đầu tư theo các điều khoản được quy định trong hợp đồng tín dụng. Một trong những thành phần cốt lõi của ngân hàng là RRTD, đó là khả năng thanh toán bị thiếu hoặc chậm trễ. Điều này có thể có tác động bất lợi đến dòng tiền và tính thanh khoản của ngân hàng. Theo nguyên tắc QTRRTD, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (1999) định nghĩa đơn giản nhất về RRTD là khả năng đối tác hoặc người vay ngân hàng không hoàn thành trách nhiệm của mình theo các điều khoản của thỏa thuận.
Quản trị tổ chức tài chính: Một góc nhìn hiện đại, theo Saunder & H. Lange, 1996 "RRTD là tổn thất có thể xảy ra khi ngân hàng cấp tín dụng cho KH; điều này có nghĩa là khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện đầy đủ các dòng thu nhập dự kiến từ các khoản cho vay theo thời hạn." cả về số lượng và thời gian đều có hạn.Phân loại rủi ro tín dụng Theo Andrew Kimber (2003), RRTD: Từ giao dịch đến quản trị danh mục đầu tư, RRTD có thể chia làm 2 loại: Rủi ro giao dịch hoặc rủi ro vỡ nợ và Rủi ro danh mục đầu tư. 12 Rủi ro tín dụng Rủi ro giao Rủi ro danh dịch hoặc mục đầu tư rủi ro vỡ nợ Rủi ro vỡ Rủi ro hạ Rủi ro nội Rủi ro tập nợ cấp tại trung Bảng 3. Phân loại rủi ro tín dụng Nguồn:Andrew Kimber (2003), Credit Risk: From Transaction to Portfolio Management 1.1 Rủi ro giao dịch hoặc rủi ro vỡ nợ tín dụng Rủi ro vỡ nợ, thường được gọi là xác suất vỡ nợ, là khả năng người đi vay không thanh toán gốc và lãi kịp thời và đầy đủ theo các điều khoản của công cụ nợ hiện hành.
Có nguy cơ vỡ nợ tín dụng khi người đi vay không thể hoàn thành tất cả các khoản vay hoặc khi ngày trả nợ đã trôi qua hơn chín mươi ngày. Rủi ro vỡ nợ tín dụng có thể ảnh hưởng đến bất kỳ giao dịch tài chính nhạy cảm về tín dụng nào, chẳng hạn như các công cụ phái sinh, trái phiếu, cổ phiếu và khoản vay. Rủi ro hạ cấp: Xếp hạng rủi ro của tổ chức phát hành có thể bị hạ xuống, điều này có thể dẫn đến việc hạ cấp rủi ro 1.2 Rủi ro danh mục đầu tư Có hai loại rủi ro trong danh mục đầu tư: rủi ro tập trung (rủi ro ngành) và rủi ro nội tại. Từ "rủi ro nội tại" dùng để chỉ các đặc điểm độc đáo và các thành phần bên trong tạo nên từng người vay, ngành hoặc lĩnh vực.
Nó là kết quả của hoạt động hoặc việc sử dụng vốn của người đi vay. Mức độ rủi ro phát sinh khi giao dịch với một đối tác hoặc khu vực duy nhất được gọi là rủi ro tập trung. Nó có khả năng gây ra tổn thất lớn, khiến người cho vay gặp khó 13 khăn hơn trong việc thực hiện các hoạt động cốt lõi của mình. Có rủi ro liên quan đến danh mục đầu tư tập trung cao độ vì chúng thể hiện sự thiếu đa dạng, khiến lợi nhuận trên các tài sản cơ bản có liên kết chặt chẽ hơn.
Theo ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng đã xuất bản Nguyên tắc QTRRTD vào năm 1999 bất kỳ rủi ro đơn lẻ hoặc nhóm rủi ro tương tự nào (ví dụ đối với cùng một người đi vay hoặc đối tác, liên quan đến các nhà cung cấp dịch vụ bảo vệ, khu vực, ngành hoặc các thuộc tính rủi ro khác) mà có thể dẫn đến Tổn thất đủ lớn (so với thu nhập, vốn, tổng tài sản hoặc mức độ rủi ro tổng thể của ngân hàng) để đe dọa đến uy tín tín dụng hoặc khả năng duy trì các hoạt động cốt lõi của ngân hàng. Những thay đổi quan trọng trong hồ sơ rủi ro của ngân hàng.Nguyên nhân gây ra RRTD Trong quan hệ tín dụng có hai bên: người cho vay và người đi vay. RRTD phát sinh từ môi trường kinh doanh được gọi là rủi ro khách quan. Các vấn đề về chất lượng khoản vay có thể do các yếu tố bên ngoài gây ra, chẳng hạn như suy thoái kinh tế địa phương.
Berger và Robert DeYoung (1997), “Trong trường hợp này, các chi phí bổ sung liên quan đến các khoản cho vay không hiệu quả (chẳng hạn như giám sát, đàm phán sắp xếp giải quyết, tịch thu và xử lý TSTC). và chuyển hướng tập trung quản trị cấp cao) có thể tạo ra vẻ ngoài, nếu không phải là thực tế, về hiệu quả chi phí thấp." RRTD có thể bắt nguồn từ Những thay đổi của môi trường tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh, bão lũ Sự cạnh tranh giữa các TCTD khiến các TCTD bỏ qua các điều kiện chuẩn mực trong cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng tín dụng. Hỗ trợ chưa đầy đủ từ hệ thống QTTD Thay đổi về lãi suất, tỷ giá, lạm phát, chỉ số giá tăng, nguyên liệu đầu vào tăng ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của KH, khó khăn về tài chính dẫn đến mất khả năng trả nợ. Rủi ro chủ quan là rủi ro đến từ cả người cho vay và người đi vay.
Ngân hàng cũng thua lỗ do sự vô đạo đức và yếu đuối của người đi vay. Rủi ro sẽ tránh được nếu 14 ngân hàng nhận biết sớm. Theo Robert DeYoung và Allen N. Berger (1997) trong cuốn Tạp chí Tài chính Ngân hàng, "Các khoản cho vay có vấn đề và Hiệu quả chi phí trong NHTM", là những nhà quản trị "tồi", họ có thể: chọn tỷ lệ các khoản vay cao không tương xứng với mức thấp hoặc âm giá trị hiện tại ròng do khả năng chấm điểm tín dụng kém; thiếu chuyên môn cần thiết để đánh giá chính xác giá trị TSTC cho khoản vay đấu tranh để theo dõi và quản trị người vay sau khi các khoản vay được phát hành nhằm đảm bảo rằng các giao ước được tuân thủ.
Kết quả là, khi đánh giá và lựa chọn khoản vay, ngân hàng có thể đánh giá tín dụng chưa đầy đủ, thông tin không đầy đủ, dẫn đến việc ra quyết định mang tính chủ quan; hơn nữa, có thể không có sự giám sát hoặc quản trị sau khoản vay. Hệ thống cảnh báo sớm không đầy đủ có thể dẫn đến việc không thể đặt ra các giới hạn về thời gian và dẫn đến việc giám sát không đầy đủ. RRTD có thể phát sinh từ những nhân viên thiếu bằng cấp chuyên môn và đạo đức, cùng nhiều lý do khác. Về phía người vay, tiền có thể được sử dụng cho các mục đích khác với mục đích đã nêu trong kế hoạch kinh doanh ban đầu.
Đôi khi họ thua lỗ trong kinh doanh vì các mặt hàng và dịch vụ họ cung cấp không thể bán được, dẫn đến không có dòng tiền và không có tiền để trang trải khoản vay. Những lúc khác, họ thiếu khả năng quản trị các khoản đầu tư hoặc công việc kinh doanh của mình.Nhiều KH cố tình gian lận,lừa đảo và họ không có thiện chí trả nợ. Quản trị rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và sự cần thiết quản trị rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng Quy trình QTRR: Chiến lược kinh doanh và chiến thuật, của Christopher L.
Culp (2001), QTRRTD là quá trình xác định, định lượng và theo dõi rủi ro để đảm bảo chúng được hiểu đầy đủ, trong giới hạn có thể chấp nhận được và trong phạm vi một khuôn khổ 15 đã được thống nhất. Pyle, QTRR trong ngân hàng (1999), “Trong công tác QTRRTD một vấn đề từ lâu đã gây khó khăn cho các tổ chức tài chính là giảm thiểu tổn thất bằng cách biết được khả năng vốn của và dự trữ thiệt hại từ nợ của một ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào.2 Mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng Theo Khung QTRRTD của Brian Coyle (2000), mục tiêu của QTTD là tối đa hóa dòng tiền hoạt động và bảo vệ khoản đầu tư của con nợ của công ty. Cần phải thực hiện nguyên tắc để cấp tín dụng cho KH, thu tiền và giảm nguy cơ không thanh toán.