Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, các quan hệ giao lưu dân sự, kinh tế và thương mại tại Việt Nam diễn ra với tần suất ngày càng lớn và tính chất ngày càng phức tạp. Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự (bao gồm cá nhân và pháp nhân) không phải lúc nào cũng có thể tự mình trực tiếp xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự. Nguyên nhân xuất phát từ những trở ngại khách quan và chủ quan như sự eo hẹp về thời gian, khoảng cách địa lý, tình trạng sức khỏe hoặc sự thiếu hụt về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế trong các lĩnh vực chuyên biệt. Do đó, chế định đại diện nói chung và đại diện theo ủy quyền nói riêng được thiết lập như một công cụ pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, tạo điều kiện thuận lợi để người được đại diện xác lập quan hệ với bên thứ ba.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 về đại diện theo ủy quyền vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập. Một số quy định còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn tới sự lúng túng của các chủ thể khi áp dụng và thiếu tính đồng nhất với các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan. Nhằm làm rõ khung pháp lý hiện hành và giải quyết các vướng mắc thực tiễn, tác giả đã lựa chọn đề tài "Đại diện theo ủy quyền theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam".

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện chế định đại diện theo ủy quyền theo quy định của BLDS năm 2015; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam trong lĩnh vực này. Để hiện thực hóa mục đích trên, nghiên cứu xác định ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về đại diện theo ủy quyền, phân tích đặc điểm, phân loại và khảo cứu quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về chế định này.
  2. Phân tích, đánh giá toàn diện các quy định pháp luật của BLDS năm 2015 điều chỉnh quan hệ đại diện theo ủy quyền (chủ thể, quyền và nghĩa vụ, phạm vi, thời hạn, hình thức, ủy quyền lại và thực hiện công việc không có ủy quyền).
  3. Phân tích thực trạng áp dụng, chỉ ra các vướng mắc pháp lý và đề xuất phương hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật trong BLDS năm 2015 về đại diện theo ủy quyền và thực tiễn thực hiện các quy định này. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các khía cạnh pháp lý của đại diện theo ủy quyền trong khuôn khổ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, có sự so sánh với BLDS năm 2005 và đối chiếu với pháp luật của Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý cốt lõi về đại diện và đại diện theo ủy quyền. Đại diện được xác định là quan hệ pháp luật mà theo đó người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện. Tác giả tiếp cận lý thuyết đại diện từ hai truyền thống pháp luật lớn trên thế giới:

  • Hệ thống Civil Law (Dân luật): Khảo cứu quy định tại Điều 99 BLDS Nhật Bản năm 2005 và Điều 1153, Điều 1156 BLDS Pháp năm 2016/2018 về sự biểu lộ ý chí, phạm vi thẩm quyền được trao và hiệu lực đối kháng của hành vi đại diện.
  • Hệ thống Common Law (Thông luật): Tiếp cận thông qua nguyên lý Latinh "Qui facit per alium, facit per se" (hành động của một người thông qua người khác được coi là hành động của chính người đó), cùng các định nghĩa trong Restatement of the Law, Second, Agency (Hoa Kỳ) về quan hệ ủy thác (fiduciary relation) giữa người ủy quyền (principal) và người đại diện (agent / attorney-in-fact).

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm căn cứ phân tích trực tiếp gồm:

  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (đặc biệt là Chương IX và các Điều 138, 140, 141, 143, 565, 566, 567, 568, 574).
  • Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 107, 113, 143, 582).
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 95 về xác định chứng cứ).
  • Luật Công chứng năm 2014 (Điều 5 về giá trị pháp lý của văn bản công chứng) và Luật Doanh nghiệp năm 2014.
  • Các chuẩn mực quốc tế tham chiếu: Nguyên tắc của Luật Hợp đồng Châu Âu và Các nguyên tắc của UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại quốc tế năm 2004.

Phương pháp luận nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Đồng thời, tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015; so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ và Pháp), phương pháp liệt kê và phân loại.

Nguồn dữ liệu và tài liệu thứ cấp được kế thừa từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, bao gồm luận án tiến sĩ của Trần Thị Quỳnh Châu (2019); các luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Văn Hớn (2016), Đỗ Thị Thủy (2021), Nguyễn Nhất Nam (2019); các bài báo khoa học trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp của các tác giả Ngô Huy Cương (2009), Nguyễn Vũ Hoàng (2013), Nguyễn Thùy Trang (2017), Vũ Lan Hương (2018); cùng các ấn phẩm chuyên khảo quốc tế của Nhà xuất bản Đại học Cambridge (2009), Howard Bennett và Cheeseman (2007).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về đại diện theo ủy quyền

Chương này tập trung phân tích nguồn gốc bản chất, các đặc trưng pháp lý, ý nghĩa kinh tế - xã hội của chế định đại diện theo ủy quyền và khảo cứu kinh nghiệm pháp luật quốc tế.

Về bản chất, đại diện theo ủy quyền được xác lập dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của các chủ thể (Điều 3 BLDS 2015). Quan hệ này có thể hình thành qua hợp đồng ủy quyền hoặc hành vi pháp lý đơn phương (giấy ủy quyền) được bên được ủy quyền tiếp nhận bằng hành vi đại diện. Tác giả chỉ ra 5 đặc điểm pháp lý cơ bản của đại diện theo ủy quyền:

  • Làm phát sinh đồng thời hai mối quan hệ: mối quan hệ bên trong (giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền) và mối quan hệ bên ngoài (giữa bên ủy quyền và người thứ ba thông qua hành vi của người đại diện).
  • Người được ủy quyền xác lập quan hệ với bên thứ ba nhân danh người ủy quyền chứ không nhân danh chính mình.
  • Mục đích xác lập quan hệ với người thứ ba là vì lợi ích của bên ủy quyền (dù bên được ủy quyền có thể hưởng thù lao dịch vụ).
  • Quan hệ đại diện được xác lập hoàn toàn trên cơ sở thỏa thuận ý chí tự nguyện, khác biệt với tính chất bắt buộc của đại diện theo pháp luật.
  • Quyền và nghĩa vụ của người được ủy quyền phụ thuộc tuyệt đối vào nội dung và phạm vi ủy quyền đã được thỏa thuận.

Về phân loại, khóa luận chia thành hai nhóm: đại diện theo ủy quyền của cá nhân (yêu cầu cả hai bên phải có năng lực hành vi dân sự phù hợp; người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi có thể làm đại diện trừ giao dịch luật định từ đủ 18 tuổi trở lên) và đại diện theo ủy quyền của pháp nhân (mang tính nội bộ, chịu sự điều chỉnh đồng thời của pháp luật dân sự, luật doanh nghiệp và luật lao động).

Khi khảo cứu pháp luật quốc tế, tác giả làm rõ cơ chế phân định trách nhiệm pháp lý theo Thông luật Hoa Kỳ và Dân luật Pháp:

Hệ thống pháp luật Nhóm chủ thể / Tình huống Trách nhiệm pháp lý của Người đại diện và Người ủy quyền
Pháp luật Hoa Kỳ (Restatement of Agency) Người ủy quyền công khai (Disclosed principal) Người đại diện không chịu trách nhiệm đối với việc không thực hiện hợp đồng của người thứ ba hoặc người ủy quyền trong phạm vi được ủy quyền.
Người ủy quyền bán công khai (Partially disclosed principal) Người đại diện được xem như một bên của hợp đồng; bên thứ ba có quyền yêu cầu truy cứu trách nhiệm của người đại diện.
Người ủy quyền không công khai (Undisclosed principal) Cả người ủy quyền và người đại diện đều có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng; nếu có thiệt hại, người đại diện có quyền yêu cầu người ủy quyền bồi hoàn.
Pháp luật Pháp (BLDS Pháp Điều 1153, 1156) Hành động trong phạm vi quyền hạn và nhân danh người được đại diện Chỉ người được đại diện chịu trách nhiệm về giao dịch đã xác lập.
Hành động vì lợi ích người khác nhưng nhân danh chính mình Chỉ người đại diện chịu trách nhiệm đối với bên đã ký kết hợp đồng.
Hành động không có thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền Không có hiệu lực đối kháng với người được đại diện, trừ khi bên thứ ba tin tưởng chính đáng hoặc người được đại diện phê chuẩn.

Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về đại diện theo ủy quyền

Chương 2 đi sâu phân tích toàn diện các quy phạm của BLDS năm 2015 đang điều chỉnh chế định đại diện theo ủy quyền:

  • Về chủ thể (Điều 138): Quy định rõ cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác. Điểm sửa đổi mang tính bản lề so với BLDS năm 2005 (Điều 107, 113) là thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được quyền thỏa thuận cử bất kỳ cá nhân, pháp nhân nào làm đại diện theo ủy quyền để xác lập giao dịch liên quan đến tài sản chung, thay vì mặc định người đại diện theo pháp luật là chủ hộ hay tổ trưởng tổ hợp tác.
  • Quyền và nghĩa vụ của các bên:
    • Bên ủy quyền (Điều 567, 568): Có quyền yêu cầu thông báo tiến độ, nhận lại tài sản/lợi ích và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đồng thời có nghĩa vụ cung cấp thông tin, phương tiện, chịu trách nhiệm về cam kết của bên đại diện, thanh toán các chi phí hợp lý phát sinh thực tế và trả thù lao (nếu có thỏa thuận).
    • Bên được ủy quyền (Điều 565, 566): Có nghĩa vụ thực hiện đúng phạm vi ủy quyền, thông báo cho bên ủy quyền và bên thứ ba, bảo quản tài liệu, giữ bí mật thông tin kinh doanh/nhân thân, giao lại tài sản và bồi thường thiệt hại nếu vi phạm. Bên được ủy quyền có quyền yêu cầu cung cấp phương tiện, thanh toán chi phí hợp lý và hưởng thù lao thỏa thuận.
  • Phạm vi ủy quyền và xử lý hành vi vượt quá thẩm quyền (Điều 141, 143): Người đại diện không được xác lập giao dịch với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện (Khoản 3 Điều 141), tránh xung đột lợi ích và trục lợi bất chính. Giao dịch vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ ba trường hợp: (i) người được đại diện đồng ý; (ii) người được đại diện biết mà không phản đối trong thời hạn hợp lý; (iii) người được đại diện có lỗi dẫn đến việc bên thứ ba ngay tình không thể biết về sự vượt quá thẩm quyền.
  • Thời hạn ủy quyền (Điều 140): Do các bên thỏa thuận hoặc luật định. Nếu không có thỏa thuận/quy định: xác định theo thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự cụ thể; nếu không gắn với giao dịch cụ thể thì thời hạn mặc định là 01 năm kể từ ngày phát sinh quyền đại diện (khắc phục bất cập tại Điều 582 BLDS 2005 vốn gây rủi ro hết hạn khi công việc ủy quyền chưa hoàn thành).
  • Hình thức ủy quyền: Thể hiện linh hoạt bằng lời nói, văn bản (văn bản thường, văn bản công chứng/chứng thực theo Luật Công chứng 2014, hoặc dữ liệu điện tử) hoặc bằng hành vi cụ thể (xác định chứng cứ theo Khoản 2 Điều 95 BLTTDS 2015).
  • Ủy quyền lại và Thực hiện công việc không có ủy quyền:
    • Ủy quyền lại: Chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của bên ủy quyền, hoặc do sự kiện bất khả kháng / trở ngại khách quan mà nếu không ủy quyền lại thì mục đích giao dịch không thể thực hiện được.
    • Thực hiện công việc không có ủy quyền (Điều 574): Phân tích 4 dấu hiệu pháp lý bắt buộc: (1) người thực hiện hoàn toàn tự nguyện, không bị ràng buộc nghĩa vụ; (2) thực hiện tức thời vì lợi ích của người có công việc, không mang tính chất làm nghề chuyên nghiệp để trục lợi; (3) người có công việc không biết hoặc biết mà không phản đối; (4) công việc thực sự cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại thực tế.
Chế định so sánh Quy định tại BLDS năm 2005 Quy định đổi mới tại BLDS năm 2015
Đại diện của Hộ gia đình, Tổ hợp tác Mặc định là đại diện theo pháp luật (Chủ hộ theo Điều 107; Tổ trưởng theo Điều 113). Thành viên thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân bất kỳ làm đại diện theo ủy quyền (Khoản 2 Điều 138).
Thời hạn ủy quyền mặc định Mặc định có hiệu lực 01 năm kể từ ngày xác lập nếu không có thỏa thuận (Điều 582). Tính theo thời điểm chấm dứt giao dịch cụ thể; hoặc 01 năm nếu không xác định theo giao dịch (Điều 140).
Giao dịch với chính mình Chưa quy định bao quát toàn diện về xung đột lợi ích của người đại diện. Cấm tuyệt đối việc nhân danh người được đại diện xác lập giao dịch với chính mình hoặc bên thứ ba mà mình là đại diện (Khoản 3 Điều 141).
Cơ chế bảo vệ bên thứ ba ngay tình Thiếu cơ chế quy trách nhiệm rõ ràng khi người ủy quyền có lỗi. Công nhận hiệu lực giao dịch vượt thẩm quyền nếu người ủy quyền có lỗi khiến bên thứ ba không biết (Điểm c Khoản 1 Điều 143).

Chương 3: Thực tiễn thực hiện việc đại diện theo ủy quyền và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Theo thiết kế kết cấu đề tài, Chương 3 tập trung đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về đại diện theo ủy quyền tại Tòa án và các tổ chức hành nghề công chứng; chỉ ra những vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng ủy quyền, phân định lỗi và thiệt hại khi người đại diện vượt quá thẩm quyền, cùng các mâu thuẫn giữa BLDS 2015 với các luật chuyên ngành. Trên cơ sở đó, chương này đề xuất các kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý về đại diện theo ủy quyền trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được những kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể:

  • Hệ thống hóa lý luận: Làm rõ bản chất pháp lý nhị nguyên của quan hệ đại diện theo ủy quyền (quan hệ ủy nhiệm nội bộ và quan hệ giao dịch bên ngoài), phân tích các nguyên lý tự định đoạt ý chí trong xác lập quyền đại diện.
  • Làm rõ các điểm mới của BLDS năm 2015: Phân tích sâu sắc sự chuyển dịch từ đại diện mặc định theo pháp luật sang đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình và tổ hợp tác; làm rõ ý nghĩa của việc sửa đổi cách tính thời hạn ủy quyền tại Điều 140 và bổ sung điều khoản cấm giao dịch với chính mình tại Khoản 3 Điều 141.
  • Tiêu chí phân định hành vi pháp lý: Xây dựng hệ thống 4 dấu hiệu nhận diện bản chất của "thực hiện công việc không có ủy quyền" (Điều 574), giúp phân biệt rõ giữa hành vi tương trợ đạo đức tự nguyện với hành vi trục lợi dịch vụ chuyên nghiệp.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả tự xác định khóa luận đã khắc phục hạn chế của các công trình trước đây (vốn chỉ nghiên cứu đại diện chung chung hoặc giới hạn trong phạm vi BLDS 2005, Luật Thương mại, Luật Tố tụng dân sự) bằng việc đi sâu phân tích trực tiếp, toàn diện chế định đại diện theo ủy quyền theo chuẩn mực của BLDS năm 2015 kết hợp đối chiếu án lệ quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được xác định theo phạm vi đề tài:

  • Trọng tâm nghiên cứu chủ yếu đặt vào các quy định pháp luật thực định trong BLDS năm 2015 và các văn bản dân sự liên quan; các khía cạnh đại diện ủy quyền chuyên sâu trong tố tụng tư pháp và cơ chế ủy quyền nội bộ đặc thù của doanh nghiệp chỉ được phân tích ở mức độ liên hệ mở rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể phát triển theo hướng đi sâu khảo sát số liệu án văn, thực tiễn tranh chấp hợp đồng ủy quyền tại hệ thống Tòa án nhân dân các cấp; nghiên cứu các rủi ro pháp lý phát sinh từ hình thức ủy quyền điện tử và giao dịch xuyên biên giới trong bối cảnh chuyển đổi số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, có thể sử dụng đề tài để nắm bắt hệ thống quy phạm về chế định đại diện, kỹ năng phân tích cấu trúc điều luật và phương pháp nghiên cứu luật so sánh.
  • Cán bộ thực tiễn (Luật sư, Công chứng viên, Thẩm phán): Cung cấp các luận cứ pháp lý xác đáng để nhận diện ranh giới thẩm quyền đại diện, xử lý các tình huống giao dịch với chính mình, giải quyết hậu quả của hành vi vượt quá phạm vi ủy quyền và xem xét giá trị chứng cứ của các hình thức ủy quyền theo Điều 95 BLTTDS 2015.
  • Phần nội dung đáng chú ý: Bảng tổng hợp đối chiếu trách nhiệm của người đại diện theo Thông luật Hoa Kỳ và phân tích 4 dấu hiệu pháp lý của chế định thực hiện công việc không có ủy quyền tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. BLDS năm 2015 có điểm gì mới nổi bật về chủ thể đại diện của hộ gia đình và tổ hợp tác so với BLDS năm 2005? Theo Điều 107 và 113 BLDS 2005, đại diện của hộ gia đình mặc định là chủ hộ và tổ hợp tác là tổ trưởng (đại diện theo pháp luật). Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 138 BLDS 2015 quy định các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được quyền thỏa thuận cử bất kỳ cá nhân hoặc pháp nhân nào khác làm người đại diện theo ủy quyền để xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung.

2. Khi các bên không thỏa thuận và pháp luật không quy định cụ thể, thời hạn ủy quyền được xác định như thế nào? Căn cứ Điều 140 BLDS 2015, nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định khác, thời hạn đại diện được xác định theo 2 trường hợp: (1) Nếu quyền đại diện xác định theo giao dịch dân sự cụ thể thì tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch đó; (2) Nếu quyền đại diện không xác định theo giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn mặc định là 01 năm kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện.

3. Trong trường hợp nào hành vi thực hiện vượt quá phạm vi ủy quyền vẫn ràng buộc trách nhiệm của người được đại diện? Căn cứ Khoản 1 Điều 143 BLDS 2015, giao dịch do người đại diện xác lập vượt quá thẩm quyền vẫn làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện nếu thuộc một trong ba trường hợp: người được đại diện đồng ý; người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý; hoặc người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc vượt quá phạm vi đại diện.

4. Khái niệm "giao dịch với chính mình" bị cấm tại Khoản 3 Điều 141 BLDS 2015 được hiểu và áp dụng như thế nào? Người đại diện không được nhân danh người được đại diện để xác lập giao dịch với chính bản thân mình hoặc xác lập giao dịch với bên thứ ba mà chính người đó cũng là người đại diện (trừ trường hợp luật định). Nếu vi phạm, giao dịch dân sự đó sẽ bị tuyên bố vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật theo Điều 123 BLDS 2015.

5. Để một hành vi được công nhận là "thực hiện công việc không có ủy quyền" theo Điều 574 BLDS 2015 cần đáp ứng những dấu hiệu nào? Hành vi phải thỏa mãn 4 dấu hiệu: (1) Người thực hiện hoàn toàn tự nguyện, không có nghĩa vụ pháp lý bắt buộc; (2) Hoạt động mang tính tức thì nhằm tương trợ, không mang tính chất làm nghề chuyên nghiệp thường xuyên để thu thù lao; (3) Người có công việc không biết hoặc biết mà không phản đối; (4) Việc thực hiện công việc phải thực sự cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại thực tế cho người có công việc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bích đã phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực trạng pháp lý điều chỉnh chế định đại diện theo ủy quyền theo BLDS năm 2015. Thông qua phương pháp so sánh luật học với pháp luật Hoa Kỳ và Pháp cùng các quy định của BLDS năm 2005, công trình đã làm nổi bật các bước tiến lập pháp của Việt Nam về chủ thể, phạm vi và thời hạn đại diện. Các phân tích và kết luận trong khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học cho việc nghiên cứu chuyên sâu và áp dụng pháp luật dân sự trên thực tế.