Khóa luận tốt nghiệp: tốt nghiệp ảnh hưởng của lượng hạt giống gieo đến

Khóa luận tốt nghiệp ảnh hưởng của lượng hạt giống gieo đến sinh trưởng năng suất chất xanh và khả năng cố định đạm của phục vụ n

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

101
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của lượng hạt giống đến sinh trưởng cây họ đậu

Lượng hạt giống là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học tập trung vào việc xác định mật độ hạt giống tối ưu cho cây điền thanh và stylo - hai loài cỏ họ đậu có giá trị cao. Kết quả cho thấy lượng hạt giống khác nhau tạo ra những khác biệt đáng kể trong chiều cao cây, số lá và số nhánh. Cây được gieo với mật độ phù hợp sẽ phát triển cân đối, tận dụng tốt nhất nguồn lực từ đất và ánh sáng. Việc xác định lượng hạt giống chuẩn giúp nông dân tối ưu hóa hiệu quả sản xuất và tiết kiệm chi phí hạt giống.

1.1. Động thái tăng trưởng chiều cao cây

Chiều cao cây là chỉ tiêu sinh trưởng quan trọng phản ánh tốc độ phát triển. Kết quả thí nghiệm cho thấy lượng hạt giống có ảnh hưởng rõ rệt đến động thái tăng trưởng chiều cao. Cây điền thanh và stylo với mật độ thích hợp đạt chiều cao tối đa vào tuần thứ 100 sau gieo. Mật độ cao quá mức dẫn đến cạnh tranh dinh dưỡng, làm giảm chiều cao.

1.2. Phát triển lá và nhánh

Số lá và số nhánh trên thân chính là những chỉ tiêu thể hiện năng lực sinh trưởng của cây. Nghiên cứu chứng minh lượng hạt giống tối ưu kích thích sự phát triển lá và nhánh cân đối. Mật độ thấp không đủ để tạo ra cấu trúc cây phù hợp, trong khi mật độ cao gây hạn chế về không gian sống.

II. Ảnh hưởng của lượng hạt giống đến năng suất chất xanh và chất khô

Năng suất chất xanhchất khô là những chỉ tiêu kinh tế trực tiếp quyết định giá trị của loại cỏ họ đậu. Khóa luận tốt nghiệp này công bố rằng lượng hạt giống có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất cuối cùng. Cây điền thanh đạt năng suất chất xanh cao nhấtmật độ gieo 12-15 kg/ha, với giá trị vượt quá 25 tấn/ha. Tương tự, cây stylo cũng cho kết quả tốt nhất ở mật độ 10-12 kg/ha. Khi lượng hạt giống quá thấp, số lượng cây không đủ để tối đa hóa sản lượng, ngược lại mật độ quá cao gây suy yếu cây do cạnh tranh tài nguyên. Việc xác định mật độ hạt giống chuẩn là chìa khóa để đạt năng suất cao ổn định.

2.1. Năng suất chất xanh tối ưu

Chất xanh là chỉ tiêu đánh giá khối lượng thực tế của cây. Kết quả cho thấy lượng hạt giống 12-15 kg/ha ở cây điền thanh cho năng suất chất xanh cao nhất khoảng 25-28 tấn/ha. Mật độ cao hơn dẫn đến cây yếu, suy giảm chất lượng và sản lượng chất xanh.

2.2. Hàm lượng chất khô và tích lũy dinh dưỡng

Chất khô phản ánh lượng vật chất hữu cơ tích lũy trong cây. Lượng hạt giống thích hợp giúp cây tích lũy chất khô cao, đảm bảo chất lượng thức ăn cho gia súc. Nghiên cứu ghi nhận mất mát chất khô lên đến 15-20% khi mật độ không hợp lý.

III. Khả năng cố định đạm của cỏ họ đậu theo lượng hạt giống

Khả năng cố định đạm là ưu điểm nổi bật của cỏ họ đậu, đóng vai trò thiết yếu trong cải tạo đấtnông nghiệp hữu cơ. Khóa luận này chứng minh rằng lượng hạt giống tác động trực tiếp đến hiệu suất cố định đạm của cây. Cây điền thanh và stylo với mật độ tối ưu có khả năng cố định 100-150 kg N/ha sau 100 ngày canh tác. Mật độ cao quá giảm khả năng cố định đạm vì cây yếu, trong khi mật độ thấp không tận dụng hết tiềm năng của đất. Hàm lượng đạm tích lũy ở lá cao hơn thân, phản ánh vai trò quan trọng của lá trong quá trình tổng hợp dinh dưỡng. Việc lựa chọn lượng hạt giống chuẩn giúp tối đa hóa lợi ích cố định đạm cho cải thiện độ ph肥của đất.

3.1. Khả năng cố định đạm ở lá và thân

Lá là bộ phận chính tham gia cố định đạm nhờ sự hiện diện của nốt u trên rễ. Kết quả cho thấy lá điều thanh tích lũy đạm cao hơn 30-40% so với thân. Mật độ 12-15 kg/ha cho hiệu suất cố định đạm tối ưu ở cả lá lẫn thân.

3.2. Hàm lượng đạm tích lũy tổng

Hàm lượng đạm tích lũy phản ánh tổng lượng nitơ mà cây thu nhập được từ không khí. Cây điền thanh tích lũy 110-145 kg N/ha, còn cây stylo 95-130 kg N/hamật độ tối ưu. Tăng lượng hạt giống không đảm bảo tăng tích lũy đạm tổng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kiến nghị cho sản xuất nông nghiệp

Kết quả nghiên cứu về lượng hạt giống mang ý nghĩa thực tiễn to lớn cho nông dân và nhà lên kế hoạch nông nghiệp. Lượng hạt giống tối ưu12-15 kg/ha cho điền thanh10-12 kg/ha cho stylo trong vụ xuân. Áp dụng mật độ chuẩn này giúp nông dân tiết kiệm chi phí hạt giống, giảm chi phí sản xuất mà vẫn đạt năng suất cao. Các nghiên cứu tương tự về mật độ ảnh hưởng đến đậu mèo, đậu triều và đậu tương cũng xác nhận tầm quan trọng của lượng hạt giống chuẩn. Trong nông nghiệp hữu cơ, việc lựa chọn mật độ phù hợp tối đa hóa khả năng cố định đạm, giảm nhu cầu phân bón hóa học. Luận văn khuyến nghị nông dân nên thực hiện thí nghiệm địa phương để xác định lượng hạt giống tối ưu phù hợp với điều kiện sinh thái đặc thù của từng khu vực.

4.1. Khuyến cáo về mật độ gieo trồng

Dựa trên kết quả thí nghiệm, khuyến cáo lượng hạt giống như sau: 12-15 kg/ha cho điền thanh, 10-12 kg/ha cho stylo. Những mật độ này đảm bảo sinh trưởng tốtnăng suất cao. Nông dân không nên vượt quá giới hạn này để tránh lãng phí hạt giống và suy giảm chất lượng cây.

4.2. Tác động đến chi phí sản xuất và hiệu quả kinh tế

Lượng hạt giống tối ưu giúp giảm chi phí hạt giống 20-30% so với mật độ quá cao. Kết hợp với năng suất cao, nông dân đạt lợi nhuận tối đa. Khả năng cố định đạm cao của cây giảm nhu cầu phân bón hóa học, tiết kiệm thêm chi phí đầu vào và bảo vệ môi trường bền vững.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trong sản xuất nông nghiệp, phân chuồng có vai trò rất quan trọng nhưng lượng phân chuồng không đủ cho sản xuất. Vì vậy, trồng các loại cây phân xanh, các cây họ đậu bằng phương thức trồng khác nhau và dùng sinh khối (thân, lá) vùi vào đất vừa có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn đất vừa có tác dụng bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng. Phân xanh có thể là xác cây, xác hoa quả, bã cà phê, các loại cây thân thảo… Toàn bộ các nguyên liệu tươi này được ủ hoai, dùng để bón lót cho cây trồng. Tùy vào mục đích sử dụng phân xanh làm phân bón mà người dùng sẽ chọn những loại cây trồng khác nhau để ủ.

Hiện nay các giống cỏ họ đậu (Arachis pintoi) được người dân trồng phổ biến để bổ sung dinh dưỡng cho đất – loài cây này có khả năng sinh trưởng trên đất ít màu mỡ, độ ẩm thấp và có khả năng cải tạo đất. Điển hình như một số loại cỏ họ đậu như: điền thanh, cỏ stylo. Chúng đều là những cây trồng cải tạo đất và trồng phủ xanh, cây cảnh quan hay cây thức ăn gia súc. Điền thanh loài cây thuộc họ Đậu (Fabaceae), một loại cây bụi cố định đạm (N) thích hợp cho cải tạo đất, đặc biệt các nốt sần của rễ giúp tích lũy vi khuẩn cố định đạm trong đất, tạo hệ mạch dẫn giúp đất thông thoáng, truyền dẫn nước và dinh dưỡng.

Ở Trung Quốc điền thanh đã được sử dụng để cải tạo đất mặn ( FAO, 2010 ). Điền thanh trưởng thành đạt chiều cao từ 4-5 m; chiều rộng tán cây từ 2–3 m; rễ ăn sâu khoảng 60-70 cm. Sau một vụ trồng từ 4-5 tháng thì từ 1 ha có thể thu được khoảng 60-70 tấn chất hữu cơ, lượng đạm thu được từ khí trời khoảng 100 kg nitơ. Cây sống hàng năm, sinh trưởng phát triển nhanh, tự tái sinh từ hạt hàng năm.

Stylo (Stylosanthes) là cây họ đậu cố định N, rễ tạo nốt sần và cải thiện N của đất, có. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, ở Lào stylo gieo trước một vụ 1 lúa đã làm tăng năng suất lúa và giảm sinh khối cỏ dại ( Saito & cs. Ở Nigeria, việc gieo trồng stylo trước một vụ ngô đã làm năng suất ngô tương đương với năng suất ngô thu được khi bổ sung thêm 45 kg N / ha ( Tarawali, 1991 ). Stylo có thân đứng hoặc thân bò, có thể có lông, thường mọc thành bụi, phát triển nhanh, cao tới 1m.

Cỏ stylo dễ dàng thích nghi được trên mọi loại đất khác nhau. Bên cạnh đó, cỏ stylo cũng có khả năng chịu ngập tạm thời, đây là điểm nổi bật so với 1 số giống cỏ khác. Cỏ phát triển rất nhanh, trong điều kiện đất kém dinh dưỡng rễ vẫn mọc nhanh và sâu đến 70cm. Thời gian lưu gốc lâu từ 3 – 4 năm nên tiết kiệm được chi phí mua giống trồng lại mỗi năm.

Tuy điền thanh và stylo được gieo trồng với mục đích làm cây phân xanh và làm thức ăn cho gia súc nhưng hiện nay chưa có công bố nào về lượng hạt giống đối với 2 loại cây này. Trên thực tế, gieo thưa thì giảm được lượng hạt giống, giảm khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng của các cá thể trong quần thể, tuy nhiên việc gieo thưa làm tăng khả năng cạnh tranh của cỏ dại, năng suất cá thể cao nhưng có thể năng suất quần thể không cao. Ngược lại, gieo dầy thì yêu cầu lượng hạt giống tăng lên, tăng khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng giữa các cá thể nhưng giảm được sự cạnh tranh cỏ dại và cho năng suất quần thể cao. Ở mỗi lượng hạt giống khác nhau sẽ cho năng suất sinh khối và khả năng cố định đạm khác nhau nên chúng tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của lượng hạt giống gieo đến sinh trưởng, năng suất chất xanh và khả năng cố định đạm của một số loại cỏ đậu trong vụ Xuân 2022 tại Gia Lâm- Hà Nội” 1.Mục đích và yêu cầu 1.Mục đích Lựa chọn được lượng hạt giống gieo thích hợp cho cây điền thanh và cây stylo để tạo sinh khối và khả năng cố định đạm cao nhằm phục vụ cho canh tác cây trồng hữu cơ tại Gia Lâm, Hà Nội.Yêu cầu Bố trí thí nghiệm đồng ruộng, theo dõi và đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, mức độ nhiễm sâu, bệnh hại, năng suất sinh khối và lượng đạm cố định của 2 loại cỏ họ đậu (điền thanh và stylo) trên các công thức với lượng hạt giống gieo khác nhau trong vụ Xuân 2022 tại Gia Lâm, Hà Nội.

3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về cây điền thanh (sesbania sesban L. Nguồn gốc, phân bố Cây điền thanh (S. Sesban) có nguồn gốc từ các vùng gió mùa, bán khô hạn đến cận ẩm với lượng mưa hàng năm 500‒2.

Phát triển tốt nhất ở những nơi ngập úng hoặc ngập úng định kỳ, sau đó là mùa khô dần. Điền thanh có khả năng chịu được các thời kỳ ngập úng cục bộ, phát triển một Hình 2. Hình thái lá và loạt rễ phụ từ thân cây có thể giữ lại đất bị hoa điền thanh xói mòn Điền thanh phân bố và được trồng rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới bán khô hạn và cận ẩm, nó thường mọc trên các bờ suối và rìa đầm lầy, từ mực nước biển lên đến độ cao 2300 m ( Ecocrop, 2010 ; Göhl, 1982 ). Điền thanh phát triển tốt nhất khi lượng mưa hàng năm khoảng 500-2000 mm, nhiệt độ trung bình hàng năm 17°C-20°C, với mức tối thiểu trung bình hàng tháng là 7°C - 10°C.

Điền thanh phát triển trên nhiều loại đất từ đất cát tơi xốp đến đất sét nặng và chịu được đất mặn, kiềm và chua cũng như có hàm lượng P thấp và có thể chịu được úng, ngoại trừ trong giai đoạn đầu của sự phát triển của cây con (FAO, 2010 ; Cook & cs. Ngoài ra, Điền thanh còn chịu được nhiệt độ lạnh và có thể phát triển ở các độ cao cao hơn của vùng nhiệt đới (FAO, 2010 ), nhưng không thể chịu được sương giá dày đặc (Ecocrop, 2010 ) 4 2. Đặc điểm thực vật học Điền Thanh (Sesbania sesban (L.) là một loại cây họ đậu lâu năm, phát triển nhanh, thân dạng cây thân gỗ nhỏ, chiều cao khi trưởng thành có thể lên tới 8m, chiều rộng tán cây từ 2-3m, thân cây dòn, dễ gãy. Trọng lượng một cây nếu điều kiện dinh dưỡng tốt có thể đạt tới 20kg.

Rễ là dạng rễ cọc có nhiều cấp, rễ ăn sâu khoảng 60-70cm, các rễ con có thể tạo nốt sần khi được cộng sinh với nấm Rhizobium có khả năng tổng hợp đạm từ khí trời. Lá điền thanh mọc đối hình nón với 6 đến 27 cặp lá chét. Lá có hình thuôn dài, dài 26 mm x rộng 5 mm, hình tròn hoặc thuôn dài, thường không đối xứng ở gốc. Cụm hoa dài 30 cm mang từ 2 đến 20 hoa màu vàng với những vệt màu tím, nâu hoặc đỏ tía, hiếm khi màu trắng, lớn hoặc nhỏ trên các cuống mảnh, đơn độc hoặc kết thành từng chùm ở nách ngắn.

Hoa có mùi thơm khó chịu, tất cả các cánh hoa có móng vuốt dài, hình vảy tiêu chuẩn hoặc hình trứng. Quả là những quả có hình dạng thẳng hoặc hơi cong dài tới 30 cm. Vỏ quả màu vàng nhạt, hình thẳng, thường dài 10-20cm hình trụ hoặc dẹt, hiếm khi thuôn, quả chứa 10 đến 50 hạt, hạt hình trứng thuôn dài, màu nây hoặc xanh đậm có đốm đen (Ecoport, 2010; Ecocrop, 2010; Heering & cs. Điền thanh được sử dụng làm thức ăn thô xanh (sử dụng trong chăn thả gia súc hoặc cắt và mang đi), và làm phân xanh.

Theo một vài tác giả cho rằng ở Nigeria, nước sắc của lá được người Hausa sử dụng cho mục đích dân tộc học và thú y, họ dùng nó để rửa cho động vật để ngăn ngừa ruồi cắn (Ecocrop, 2010; FAO, 2010; Heering & cs., 1992; NAS, 1983) Hạt có lớp vỏ cứng cần được làm mềm lớp bằng cách ngâm nước. Điều này có thể được thực hiện bằng cách ngâm hạt giống trong một lượng nhỏ nước gần sôi (để nguội nhanh và không làm chín hạt) và sau đó ngâm hạt giống trong 12 - 24 giờ trong nước ấm. Ngoài ra, một phần nhỏ của vỏ hạt có thể bị mài mòn, trong quá trình này cần chú ý tránh làm hỏng phôi hạt 5 ảnh hưởng tới khả năng nảy mầm của hạt. Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống đã qua xử lý là khoảng 65% trong khoảng 16 ngày.

Ở nhiệt độ phòng, hạt có thể giữ được trong vòng 2 năm. Điền thanh cho năng suất lên đến 20 tấn chất khô/ha/ năm nếu điều kiện thuận lợi. Trung bình trên thế giới là 4-12 tấn chất khô/ ha / năm với 3-5 lần cắt một năm (theo Heering & cs. Điền thanh cho thu hoạch lần đầu khi cây đạt chiều cao 1-2 m, và tần suất cắt thường là 5 lần một năm, cây cao 75-100cm là chiều cao được khuyến nghị cắt, ngoài ra cần để lại một số tán lá để đảm bảo cây mọc lại.

Trong quá trình chăn thả, thân cây thường dễ bị gãy, đặc biệt tránh chăn thả dê vì dê là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng chết cây cao (75-80%) (Ecocrop, 2010 ; FAO, 2010 ; Cook & cs. Yêu cầu sinh thái và dinh dưỡng Cũng như mọi cây trồng khác, sinh trưởng của cây điền thanh trải qua 2 giai đoạn chính: Giai đoạn sinh trưởng phát triển sinh dưỡng và giai đoạn sinh trưởng sinh thực. Quá trình sinh trưởng của cây biểu hiện dưới nhiều hình thức và đặc biệt là năng suất chất xanh, năng suất chất khô. Ở giai đoạn thứ nhất, hoạt động sinh trưởng của các cơ quan rễ, thân, lá chiếm ưu thế cao hơn.

Còn giai đoạn thứ hai, sự hình thành, sự sinh trưởng và phân hóa các cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ là ưu thế. Tỉ lệ các giai đoạn sẽ được điều chỉnh sao cho phù hợp với mục đích người trồng cũng như mục đích sử dụng. Điền thanh bắt đầu ra hoa ngay sau khi có mưa (ở những nơi có 2 mùa mưa, cây ra hoa và đậu quả 2 lần). Vỏ quả không thay đổi và không rụng hạt cho đến khi quả chín.

Điền thanh phát triển tốt ở vùng cận nhiệt đới và có ý nghĩa trong việc mở rộng các cây thức ăn gia súc cố định đạm ở các vùng mát hơn, có độ cao cao hơn của vùng nhiệt đới. Ngoài ra, cây có khả năng chịu úng vượt trội và rất thích hợp với môi trường ngập nước theo mùa. Khi bị ngập nước, nó bắt đầu nổi, rễ bất định và bảo vệ thân, rễ và nốt sần bằng mô 6 xốp, nhu mô.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ