Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bắn hàng hoá Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá và thực tiên thực hiện tại Công ty Cỗ phần chuỗi thực phẩm TH. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chính về hợp đồng mua bán hàng hoá tại Việt Nam CHUONG 1: NHUNG LY LUAN CO BAN VE PHAP LUAT DIEU CHỈNH HOP DONG MUA BAN HANG HOA. Một số khái niệm cơ bản liên quan pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Khải niệm về hợp đồng mua bán hàng hoá Để tồn tại và phát triển, các chủ thể xã hội phải tham gia vào một số giao dịch nhất định bằng cách trao đôi, chuyển giao lợi ích do mình tạo ra và thu được lợi ích vật chất cần thiết từ họ hoặc các chủ thẻ khác để đáp ứng nhu cầu chính đáng của họ.
Một trong những phương thức trao đổi lợi ích cơ bản trong xã hội là đạt được thỏa thuận giữa các bên dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đăng và có sự hỗ trợ của pháp luật. Hiện tượng này được định nghĩa về mặt pháp lý bằng thuật ngữ pháp lý "hợp đồng” Về bản chất, hợp đồng là một giao dịch mà trong đó các bên thỏa thuận với nhau nhằm đi đến thống nhất để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định. Trên phương điện này, hợp đồng vừa đợc xem xét ở dạng cụ thể vừa đợc xem xét ở dang khái quát. Qua các thời kỳ phát triển kinh tế-xã hội, pháp luật Vi Nam da ra những khái niệm khác nhau về hợp đồng, Theo Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên vẻ việc xác lập, thay đối hay chdm att các quyên và nghĩa vụ của các bên trong mua bản, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng như câu sinh hoạt, tiéu ding.” Tuy nhiên sự liệt kê bao giờ cũng rơi vào tỉnh trạng không đây đủ và để quy định của pháp luật có thể bao.
trùm được toàn bộ các hợp đồng dân sự xảy ra trong thực tế, Bộ luật Dân sự 2015 đã ra định nghĩa về hợp đồng khái quát hơn: "/ợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm đt các quyền và nghĩa vụ dân sự” (Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015). Như vậy, hợp đồng thường là sự thể hiện ý chí của các bên nhằm phát sinh quyền và nghĩa vụ. Hợp đồng là một hành vi pháp lý cơ bản và phổ biến nhất. Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi ý chí thống nhất thực chất và không trái pháp luật thì nghĩa vụ ràng buộc của các bên sẽ phát sinh.
Hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận để một bên chuyền tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thỏa thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì hàng hóa là thứ không thể thiếu. Như vậy, vấn đề đặt ra đó là hàng hóa là gì? Và hàng hóa bao gồm những gì? Hàng hóa theo. nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏa mãn những nhu cầu mang tính xã hội.
Theo định nghĩa của luật thương mại Việt Nam hiện hành thì “/ang hóa bao gém. a, Tắt cả các loại động sản, kế cả bắt động sản hình thành trong tương lai, b, Những vật gắn liền với đất đai "(Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại (LTM) 2005). Trong khi đó, cũng tại Khoản 8 Điều 3 LTM 2005 định nghĩa: “Mua ban hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó các bên có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở. hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuật lều 430 Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 có đưa ra định nghĩa: *ợp đông mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.” éu như LTM 2005 đề cập tới nghĩa vụ của người bán giao hàng hóa và chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua.
Thi BLDS 2015 không đề cập tới nghĩa vụ của người bán chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người mua mà chỉ để cập tới nghĩa vụ của người bán giao tai sản cho người mua. Có thể thấy rằng, hợp đồng mua bán tài sản và HĐMBHH có thể khác nhau về đối tượng, song không thể khác nhau về bản chất mua bán. Như vậy, quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là HĐMBHH. HĐMBHH có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán.
Dù là mua bán tải sản trong dân sự hay mua bán hàng hóa trong thương mại thì bản chất của nó cũng không có gì đồi khác mà vẫn có nội dung là: Người bán phải giao đối tượng được bán và quyền sở hữu đối tượng đó cho người mua và nhận tiền, còn người mua thì nhận đối tượng được mua và trả tiền. Mặc dù, LTM năm 2005 không đưa ra định nghĩa về HĐMBHH song có thể xác định bản chất pháp lý của HĐMBHH trong thương mại trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng mua bán tài sản. Từ đó, có thể khẳng định HĐMBHH trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tải sản. Căn cứ các điều khoản trên, có thể kết luận rằng “Hợp đẳng mua bán hàng hoá là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bôn bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo thời hạn, số lượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận ".
Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hoá Hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất giống như hợp đồng mua bán tài sản, đều là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa các bên, cụ thê là: bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản/hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán và có quyền sở hữu đối với tài sản/hàng. Chính vì vậy, Hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự như: Thứ nhất, Là hop đồng ưng thuận: Tức là nó được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điềm có hiệu lực của HĐ không. phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa. Việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhằm thực hiện nghĩa vụ của HĐ mua bán đã có hiệu lực.
Thứ hai, Có tính đền bù: lên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán. Thứ: ba, Là hợp đồng song vụ: Mỗi bên trong hợp đồng đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kỉa thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong HĐMBHH tôn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau. Nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán.
Ngoài những đặc điểm chung với hợp đồng mua bán tài sản ra, thì hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm nhát định, xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa: Thú: nhất, về chủ thị chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa bắt buộc phải có một bên là thương nhân. Điều này có nghĩa là một bên chủ thể là thương nhân, bên còn lại có thể là thương nhân cũng có thể không phải là thương nhân. Chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa được xác định ở đây là các bên giao kết và thực hiện hợp đồng theo như quy định của pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó thì chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại không giống như các hợp đồng.
bình thường khác, đo đó mà một bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa này phải là thương nhân theo như quy định của pháp luật hiện hành. Đồng thời pháp luật này cũng có quy định về chủ thể còn lại của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại thì có thé là thương nhân hoặc có thể không phải là thương nhân nêu đã có một bên là thương nhân trước đó rồi. Theo đó, thương nhân bao gồm: tổ chức kinh tế có tư cách. pháp nhân, cá nhân hoạt động thương mại độc lập, mang tính chất thường xuyên và phải có đăng ký kinh doanh.
Thương nhân có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài. Dựa trên cơ sở yêu cầu điều kiện chủ thẻ của hoạt động giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại như đã được nêu ở trên thì các bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có điều đặc biệt đó là chủ thể phải là thương. nhân hoặc trong một số trường hợp pháp luật Thương mại hiện hành cũng đã linh hoạt quy định là chỉ cần bên bán là thương nhân. Thứ hai, về đối tượng: đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa.
Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Hang hóa bao gom: a) Tất cả các loại động sản, kẻ cả động sản hình thành trong tương lai; b) Những vật gắn liên với đất đai". Hàng hóa trong hợp đồng thương mại có thẻ hướng đến việc giao và nhận hàng hóa ở một thời điểm trong tương lai. Hàng hóa trong các giao dịch này không phải là những hàng hóa thương mại thông thường mà phải là những loại hàng hóa nằm trong. danh mục hàng hóa giao dịch tại Sở giao dịch do Bộ trưởng Bộ Công thương quy định và đã được quy định cụ thể từ Điều 64 đến Điều 66 và Điều 68 Luật Thương mại năm 2005.