Chương 1 đã trình bày về tổng quan đề tài nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài. Tác giả đã định hướng được mục tiêu nghiên cứu, xác định rõ các đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, cuối cùng là bố cục của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN Mục tiêu Chương 2 đề cập về cơ sở lý thuyết và lược khảo các bằng chứng thực nghiệm trong và ngoài nước về các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN 2.
Khái niệm thanh khoản của ngân hàng thương mại Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS, 2008) định nghĩa: “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng để tài trợ cho phần tăng tài sản và đáp ứng nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, mà không gây thiệt hại, tổn thất cho NH”. Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (Basel Committee on Bank Supervision, 2008) định nghĩa: “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức”. "Khả năng thanh khoản của ngân hàng hay khả năng đáp ứng nguồn vốn cho sự tăng lên của tài sản có và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn" theo (Basel 2000). 2011) đề cập đến khả năng thanh khoản và cho rằng: "Thanh khoản thể hiện là khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định”.
Từ các định nghĩa trên, “khả năng thanh khoản” là khả năng ngân hàng thực hiện các nghĩa vụ tài chính liên quan như: nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng, trả nợ, cho vay và duy trì các hoạt động kinh doanh, đồng thời tiếp cận nguồn vốn với lãi suất và điều khoản hợp lý. Ngoài ra, tính thanh khoản của các Ngân hàng Thương mại còn liên quan đến khả năng tìm kiếm và thu hút nguồn các tài trợ, bao gồm tiền gửi khách hàng, vốn góp cổ đông, vay vốn từ các ngân hàng và thị trường tài chính khác. Vì vậy, tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại có ý nghĩa quyết định nhằm đảm bảo sự ổn định và tin cậy của ngân hàng cũng như niềm tin của khách hàng và các bên liên quan. Tóm lại, khả năng thanh khoản của Ngân hàng thương mại về cơ bản phản ánh năng lực thanh toán nhanh chóng khi phát sinh nghĩa vụ tài chính của Ngân hàng.
Ngoài ra, 8 tính thanh khoản của ngân hàng còn phản ánh được khả năng huy động nguồn vốn cùng với lãi suất hợp lý, đảm bảo thanh khoản lâu dài và hỗ trợ tăng trưởng giá trị. Do đó, các ngân hàng cần dự trữ thanh khoản để đáp ứng kịp thời nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng. Nếu năng lực của Ngân hàng không đủ để đáp ứng nhu cầu, Ngân hàng buộc phải vay thêm từ thị trường liên ngân hàng hoặc từ Ngân hàng trung ương. Một khi có“Ngân hàng không đáp ứng được”nhu cầu của khách hàng, Ngân hàng đó có thể mất khả năng thanh toán và quan trọng nhất là làm mất niềm tin của khách hàng vào hệ thống Ngân hàng.
Khả năng thanh khoản 2. Khái niệm Theo Duttweiler (2012), rủi ro khả năng thanh khoản được định nghĩa là: "Rủi ro khả năng thanh khoản là nguy cơ mà một tổ chức hoặc cá nhân không thể chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách nhanh chóng và hiệu quả, hoặc phải chịu mất giá trị đáng kể trong quá trình chuyển đổi này." Khả năng chi trả hay khả năng thanh toán cần phải được đảm bảo và là nhiệm vụ thiết yếu ảnh hưởng lớn tới các ngân. Vì vậy, ngân hàng cần có lượng vốn khả dụng cho doanh nghiệp, hoặc có thể tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn vay mượn từ bên ngoài với mức trả hợp lý và đúng thời điểm; hoặc có thể cân nhắc thanh lý tài sản để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các hoạt động kinh doanh. Tầm ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản Nếu khả năng thanh khoản Ngân hàng thấp sẽ xảy ra những kết quả xấu.
Ngân hàng là bên trung gian tài chính giữa người đi vay và người cho vay mà nguồn thu lớn nhất đó là sự chênh lệch về các hoạt động lãi suất cho vay. Khi khả năng thanh khoản của Ngân hàng ở mức thấp, Ngân hàng sẽ thực hiện việc tìm kiếm các nguồn vốn khác bằng việc tăng lãi suất huy động nhằm thu hút tiền gửi từ khách hàng. Tuy nhiên, việc tăng lãi suất huy động kéo theo lãi suất cho vay tăng, gây cản trở cho các khách hàng cá nhân hay doanh nghiệp khi đi vay vốn. Song song đó, Ngân 9 hàng phải trả lãi suất cao cho tiền gửi, nhưng lại gặp khó khăn trong các hoạt động cho vay, điều này dẫn đến lợi nhuận của Ngân hàng giảm.
Ngoài ra, khi ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng, đặc biệt là trong trường hợp ngân hàng mất khả năng thanh khoản, điều này làm giảm đi uy tín và niềm tin của khách hàng, gây nên những tác động tiêu cực đến các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng. Việc rút tiền ồ ạt của khách hàng do lo ngại mất tiền có thể gây ra tình trạng khó khăn và có thể gây ra nhiều rủi ro dẫn đến phá sản. Phương pháp đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng - Phương pháp đo lường bằng các tỷ lệ thanh khoản: Phép đo lường bằng tỷ lệ thanh khoản được tính bằng các chỉ tiêu khác nhau trong bảng cân đối kế toán nhằm mục đích xác định các xu hướng chính. Theo nhiều tác giả, yếu tố thanh khoản của Ngân hàng là điều đáng để quan tâm sau cuộc khủng hoảng về kinh tế năm 2008.
Tuy nhiên, thanh khoản của Ngân hàng không dễ chịu ảnh hưởng của các nhân tố“bên ngoài như: thị trường hiệu quả, cơ sở hạ tầng, chi phí”giao dịch thấp,. mà là chịu sự tác động của các yếu tố bên trong (Aspachs, 2005), (Nikolau, 2009). Một số nghiên cứu như của Aspachs và đồng nghiệp (2005), Rychtárik (2009), Praet và Herzberg (2008) đã tập trung vào 4 chỉ số thanh khoản sau: !à# %ả' ()*') +),ả' L1 = (1) nghiên cứu bởi Aspachs et al (2005), Praet and !ổ'. Các loại tài sản thanh khoản bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại NHTW và các Ngân hàng khác, chứng khoán nợ do chính phủ phát hành và các chứng khoán tương tự.
Tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt. Tuy nhiên, nếu vượt quá mức cho phép, các ngân hàng cần xem xét lại về các quỹ tài sản,“vì tài sản thanh khoản cao thường không sinh lợi nhuận lớn.ắ' )ạ' 10 Tỷ số thanh khoản L2 thể hiện tài sản thanh khoản so với tỉ lệ phần trăm các khoản tiền gửi và vốn huy động ngắn hạn. Nguồn tài trợ thanh khoản đầu vào bao gồm tiền gửi cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức tín dụng). Tỷ số này cũng giống L1 , tỷ lệ càng cao tỷ lệ thuận với thanh khoản của ngân hàng càng tốt.
Tỷ số thanh khoản L3 đo dường phần trăm tỉ lệ khoản vay trên tổng tài sản của ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao, tức một phần lớn tài sản đang được ngân hàng sử dụng cho các hoạt động vay vốn, do đó khả năng thanh khoản của ngân hàng sẽ thấp. Tỷ số thanh khoản L4 tương tự như tỷ số thanh khoản L3, tức là tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng giảm. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Khả năng thanh khoản của ngân hàng phụ thuộc phần nhiều yếu tố khác nhau.
Nhìn chung, các yếu tố này có thể được phân loại vào hai nhóm: yếu tố bên trong ngân hàng và yếu tố bên ngoài ngân. Nhóm yếu tố bên trong ngân hàng v Quy mô ngân hàng (SIZE) Quy mô ngân hàng (SIZE) là yếu tố quan trọng khi thực hiện đánh giá mức độ ảnh hưởng của quy mô ngân hàng đến khả năng thanh khoản của Ngân hàng Thương mại. Tác giả của các nghiên cứu trước đó cũng cho rằng việc tăng cường quy mô của tổ chức như: nới rộng mạng lưới chi nhánh, quan hệ với khách hàng, mở rộng thị phần, có thể giúp tăng cường hiệu suất hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Điều này hỗ trợ cho các 11 sản phẩm và dịch vụ của các ngân hàng thương mại đến gần hơn với khách hàng, từ đó tăng lợi nhuận.
Các Ngân hàng có quy mô lớn thường có nhiều khả năng dự phòng những khó khăn về thanh khoản hơn do họ có nguồn tài trợ và dự trữ lớn. Vì thế, quy mô của một Ngân hàng có ảnh hưởng đến thanh khoản của Ngân hàng. v Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP) Tỷ lệ Capital Adequacy Ratio (CAP) là chỉ số đánh giá sức mạnh tài chính của ngân hàng. Nếu tỷ lệ CAP của ngân hàng cao so với ngành công nghiệp, điều này thường cho biết ngân hàng có năng lực huy động vốn,“cho vay và đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng hiệu quả.
Trong khi đó, tỷ lệ CAP cho biết rằng Ngân hàng đang sử dụng đòn bẩy tài chính cao, có thể xảy ra rủi ro tài chính khi chi phí sử dụng vốn lớn. Để đảm bảo khả năng thanh toán của các Ngân hàng, các Ngân hàng Thương mại có tỷ lệ vốn sở hữu trung bình và thấp, cần giữ một lượng tài sản thanh khoản cao. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro cho các Ngân hàng có vốn hóa nhỏ. Trong khi đó, các Ngân hàng lớn với nguồn vốn chủ sở hữu cao,“thương hiệu uy tín và niềm tin từ khách hàng, đối”tác và nhà nước có thể giảm chi phí huy động vốn và tăng nguồn cung thanh khoản.
Tuy nhiên, việc tập trung quá nhiều vào kinh doanh sinh lời có“thể dẫn đến giảm dữ trữ tài sản thanh khoản và tăng rủi”ro thanh khoản cho các Ngân hàng này. v Tỷ lệ nợ xấu (NPL) Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN về việc phân loại tài sản, xác định nợ xấu là nợ nhóm 3, 4, 5 quá hạn trên 90 ngày. Điều này đặt ra một thách thức đối với ngân hàng về việc quản lý thanh khoản, đặc biệt là khi phát sinh nợ xấu có thể dẫn đến việc mất nguồn vốn mà ngân hàng đã giải ngân trước đó. Trong quy trình hạch toán các khoản vay, ngân hàng cần phải căn nhắc dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng để phân loại vào các nhóm thích hợp.