Chương 1, tác giả đã nêu ra được tính cấp thiết của đề tài về vấn đề thanh khoản và rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như kết cấu dự kiến của bài luận văn. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Cơ sở lý luận về thanh khoản và cung cầu thanh khoản của NHTM.1 Khái niệm: Theo Nguyễn Văn Tiến (2012), “Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác”.( Theo giáo trình Quản trị rủi ro kinh doanh ngân hàng ) Theo “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của Basel (2008) thì “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng vừa có thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép”. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng: “Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn.
Do vậy, tính thanh khoản của ngân hàng thương mại được là khả năng tức thời (the short-run ability) để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Từ những khái niệm trên, tác giả kết luận rằng thanh khoản là khả năng thanh toán của một NHTM với một chi phí hợp lý nhằm đáp ứng các yêu cầu thanh toán của khách hàng. Một NHTM có khả năng thanh khoản cao khi có thể huy động được nhiều nguồn khác nhau với chi phí thấp để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách kịp thời nhanh chóng.2 Cung cầu thanh khoản: Cung thanh khoản là những nguồn tiền vào của ngân hàng để đáp ứng cầu thanh khoản Tiền và các khoản tương đương tiền: Đây được xem là nguồn tài trợ quan trọng cho các nhu cầu thanh khoản tức thời của ngân hàng. 9 Các khoản tín dụng đến hạn hoàn trả: hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu lớn cho nhưng cũng chứa đựng rủi ro như mất vốn, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng.
Chứng khoán do chính phủ phát hành: các loại chứng khoán chính phủ như tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu kho bạc. Các tài sản có tính thanh khoản khác: ví dụ như các khoản tiền mà ngân hàng đem cho vay trên thị trường tiền tệ. Tiền gửi mới của khách hàng Vay trên thị trường liên ngân hàng: đáp ứng nhu cầu thanh khoản lớn và tức thời. Vay NHTW: NHTM cũng có thể đi vay ngắn hạn NHTW với mức lãi suất chiết khấu do NHTW quy định.
Cầu thanh khoản là nhu cầu thanh toán cho các nghĩa vụ tài chính đã cam kết của ngân hàng, cầu thanh khoản được tạo thành bởi các nhân tố chính sau: Nhu cầu rút tiền của người gửi: là nhu cầu thanh khoản chính, có tính thường xuyên, tức thời và vô điều kiện; bao gồm tất cả các loại thuộc tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi phát hành séc, tiền gửi có kỳ hạn có thể rút trước hạn, tiền gửi có kỳ hạn thanh toán khi đến hạn, thanh toán kỳ phiếu, trái phiếu khi đến hạn. Nhu cầu tín dụng hợp pháp của khách hàng để thanh toán hàng hóa và dịch vụ mà ngân hàng cam kết cho vay. Đây là các quan hệ tín dụng mà ngân hàng muốn duy trì và đáp ứng, bao gồm nhu cầu cấp giới hạn tín dụng mới, tái cấp lại giới hạn tín dụng hay thực hiện cam kết tín dụng. Các khoản tiền vay đến hạn phải trả: đây là quan hệ tín dụng trên thị trường tiền tệ bao gồm hoàn trả tiền vay từ các ngân hàng khác, từ ngân hàng trung ương và các thỏa thuận mua lại.
Chi phí hoạt động và trả thuế: bao gồm các chi phí liên quan đến chi phí hoạt động, như chi tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, công tác phí, mua sắm tài sản, chi sử dụng dịch vụ của các đơn vị khác, chi trả thuế các loại. 10 Thanh toán cổ tức cho cổ đông: bao gồm chi trả cổ tức cho tất cả các loại cổ phiếu do ngân hàng phát hành. Trong cầu thanh khoản, hai bộ phận quan trọng đối với ngân hàng: nhu cầu rút tiền, nhu cầu vay tiền của khách hàng. Loại thứ nhất gắn liền với tiền ngân hàng huy động được.
Loại thứ hai gắn liền với việc tạo nên tài sản mới. Các khoản tiền khi huy động được, ngay lập tức gia tăng ngân quỹ cho ngân hàng (tức là tăng cung thanh khoản), đồng thời cũng tạo nên nhu cầu về thanh khoản. Sự khác biệt về kỳ hạn của các dòng tiền vào (cung thanh khoản) và dòng tiền ra (cầu thanh khoản) tạo nên sự khác biệt về cung cầu thanh khoản. Cách thức mà ngân hàng áp dụng để quản lý cầu thanh khoản có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự an toàn của hệ thống.
Sau đây là một số nội dung chính: Phân tích nhu cầu thanh khoản trong quá khứ để thấy những biến động về những nhu cầu này và các nhân tố ảnh hưởng. Đo lường mối liên hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng và nhu cầu thanh khoản để xác định tần suất và độ lớn trong thay đổi nhu cầu thanh khoản. Phân tích và định lượng nhu cầu thanh khoản đối với từng loại tiền gửi, từng nhóm khách hàng và từng thời kỳ trong năm. Các NHTM dự đoán nhu cầu thanh khoản dựa trên phân tích các dòng tiền rút ra kỳ trước vàcó tính đến những thay đổi có thể xảy ra kỳ này.
Kỳ tính có thể là hàng ngày, tuần, tháng, năm hoặc nhiều năm. Trạng thái thanh khoản Trạng thái thanh khoản = Tổng Cung thanh khoản – Tổng Cầu thanh khoản Trạng thái thanh khoản xảy ra 1 trong 3 trường hợp sau: Thặng dư thanh khoản (NLPt > 0) : Khi cung thanh khoản vượt mức cầu thanh khoản, ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản. Nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này vào đâu để mang lại hiệu quả. Thâm hụt thanh khoản (NLPt < 0) : Khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản, ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản.
11 Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu. Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản, tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản. Tuy nhiên, đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế.2 Cơ sở lý luận về rủi ro thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại.1 Khái niệm: Từ trước đến nay đã có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro thanh khoản. Nhưng rủi ro thanh khoản có thể được hiểu là rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM.Kolari (2005) rủi ro thanh khoản là rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu hụt tiền mặt hoặc tài sản tương đương tiền, hay đặc biệt hơn là rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu khả năng thu xếp được nguồn tài trợ với mức độ hợp lý về chi phí, bán hay thu xếp một tài sản với mức giá hợp lý nhằm trang trải một nghĩa vụ đã được dự định hoặc bất định.
Theo “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của Basel (2008) về rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính”. Theo Trương Quang Thông (2010), rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, do không có khả năng chuyển đổi thành tiền, hoặc không có khả năng huy động, vay mượn để đáp ứng các hợp đồng đã cam kết trước đó.” Theo Trần Huy Hoàng (2011), rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Đây là loại rủi ro đặc trưng trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt 12 quan trọng đối với các tổ chức tài chính”. Trong thực tế có không ít trường hợp, một tổ chức kinh tế có tài sản nợ rất ít nhưng hoàn toàn có thể phá sản do yếu tố rủi ro thanh khoản của tài sản không bù đắp nổi khả năng thanh toán tại thời điểm đó.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2014) nói rằng: “Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc bán tài sản với giá thấp. Rủi ro thanh khoản xảy ra khiến cho ngân hàng phải ngừng hoạt động, gây thua lỗ, mất uy tín và nếu nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản”. Rủi ro thanh khoản là một trong những nội dung trọng tâm và được định nghĩa tại Điểm c Khoản 2 Điều 8 Thông tư 08/2017/TT- NHNN. Cụ thể như sau: Rủi ro thanh khoản là rủi ro do: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó.
Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng đáp ứng đủ nghĩa vụ tài chính trong đó chính là tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phi cao. Rủi ro thanh khoản xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.