Phần mở đầu - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của các vấn đề trong luận văn - Chƣơng 2: Phân tích định lượng về vốn từ và phân tích các lớp từ trong Việt Bắc và Gió lộng - Chƣơng 3: Chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ và tín hiệu thẩm mỹ trong văn bản - Kết luận - Danh mục tài liệu tham khảo - Phụ lục 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ TRONG LUẬN VĂN 1. Tác giả và nguồn ngữ liệu được khảo sát 1. Tác giả Tố Hữu Tố Hữu sinh ra và lớn lên ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Từ nhỏ Tố Hữu đã được cha – là một nhà nho dạy làm thơ theo lối cổ.
Mẹ ông là con một nhà nho, thuộc nhiều bài ca dao, dân ca xứ Huế và rất giàu tình thương con. Tuy nhiên, năm Tố Hữu 12 tuổi thì bà đã qua đời. Tuy là một vùng đất nghèo nhưng phong cảnh thiên nhiên, sông nước ở xứ Huế rất nên thơ - một xứ Huế mộng mơ. Nơi đây có một nền văn hoá rất phong phú, độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc, là sự kết hợp của văn hoá cung đình và văn hoá dân gian mà nổi tiếng nhất là những điệu ca, hò như nam ai, nam bình, mái nhì, mái đẩy… Tố Hữu tham gia cách mạng từ rất sớm.
Năm 1938, Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và từ đó ông hoàn toàn tự nguyện hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng. Ông từng bị bắt giam tại nhà lao Thừa Thiên, nhiều nhà tù ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, rồi vượt ngục tiếp tục hoạt động cách mạng. Cách mạng tháng Tám năm 1945, Tố Hữu được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa ở Huế, lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở thành phố quê hương, nơi đầu não của chính quyền phong kiến. Khánh chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu được điều động ra Thanh Hoá rồi lên Việt Bắc công tác ở cơ quan Trung ương Đảng, đặc trách về văn hoá, nghệ thuật.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và cho đến năm 1986, Tố Hữu luôn giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước (ông từng là Uỷ viên Bộ Chính 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng). Sau một thời gian lâm bệnh nặng Tố Hữu đã ra vào ngày 9-12-2002 tại Hà Nội. Đời thơ của ông có nhiều tác phẩm. Quan niệm sáng tác của ông là thơ phải có tác dụng trong đời sống, trong đấu tranh cách mạng, phải nâng người ta lên, cuốn người ta theo, dẫn người ta về phía trước.
Tập thơ Việt Bắc và Gió lộng của ông đã thể hiện đúng tinh thần và quan niệm ấy. Về hai tập thơ Việt Bắc và Gió lộng Chúng tôi khảo sát từ vựng trong hai tập thơ Việt Bắc và Gió lộng in trong cuốn “Tố Hữu: Thơ” do Nhà xuất bản Văn học ấn hành, năm 2005. Việt Bắc là tập thơ được sáng tác chủ yếu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954), gồm tổng cộng 27 bài (trong đó có 06 bài dịch, 03 bài sáng tác sau 1954). Tập thơ Gió lộng gồm 25 bài, sáng tác trong 06 năm (1955-1961) khi đất nước tập trung vào hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ Ngụy, thống nhất đất nước ở miền Nam.
Một số vấn đề lý luận trong nghiên cứu từ vựng tác phẩm, tác giả 1. Từ ngữ và đơn vị khảo sát, thống kê Đơn vị để khảo sát thống kê của chúng tôi là đơn vị từ vựng. Đó là từ và đơn vị tương đương với từ. Nói cách khác, đơn vị thống kê trong nghiên cứu định lượng ở đây là từ và đơn vị tương đương với từ: những ngữ cố định.
Từ và vấn đề quan niệm, xác định từ Từ vựng vô cùng quan trọng để cùng với ngữ pháp làm thành ngôn ngữ. Xét ở nhiều khía cạnh, từ là đơn vị cơ bản, là đơn vị trung tâm trong toàn bộ hệ thống các đơn vị của ngôn ngữ, song việc xác định quan niệm về từ, phân giới từ, phân loại từ không phải lúc nào cũng thuận lợi. Tuy vậy, khi 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu từ vựng, nếu thống kê, người ta vẫn phải lấy từ làm đơn vị khảo sát cơ bản. Chúng tôi cũng phải lấy từ làm đơn vị là như vậy.
Về vấn đề quan niệm về từ của tiếng Việt, nhìn chung có hai khuynh hướng: * Coi từ tiếng Việt trùng với âm tiết ( hay tiếng). Nhìn chung, từ xưa đến nay, những tiếng độc lập, có nghĩa ai cũng coi là từ - từ đơn tiết; còn những tiếng không độc lập thì các nhà nghiên cứu xử lý khác nhau.Emenneau coi mỗi từ là một âm tiết, một chữ tách rời nhau. Đây cũng là ý kiến của G.Aubarey, Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim,… Nguyễn Thiện Giáp cũng coi mỗi tiếng là một từ nhưng tác giả đã chứng minh một cách thấu đáo hơn. Những đơn vị từ vựng do tiếng kết hợp với tiếng mà thành được tác giả gọi chung là ngữ, gồm ngữ định danh, ngữ láy âm, thành ngữ và quán ngữ.
“Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền”.[22, 69 ] * Coi từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết. Đây là quan niệm của nhiều tác giả, ví dụ như: - Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê: “Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được.[13, tr18] Ví dụ: bàn, ghế, thợ thuyền, gia đình, …” - Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về số, về giống,…) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”. [8, tr 29] 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cùng quan niệm như Đỗ Hữu Châu, là quan niệm của các tác giả như: Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Ðái Xuân Ninh, Hồ Lê… Vẫn theo Đỗ Hữu Châu, đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt gồm có hình vị và đơn vị cấu tạo từ, từ tố: Ngôn ngữ học thế giới nhất trí cho rằng, từ của tất cả các ngôn ngữ, dù là ngôn ngữ hoà kết như ngôn ngữ Châu Âu, hay các ngôn ngữ chắp dính, đơn lập, đều có thể phân tách ra thành những đơn vị ở cấp độ dưới trực tiếp và gọi các đơn vị đó là hình vị [8, tr 36]. Từ là đơn vị được cấu tạo bằng một hoặc một số từ tố (hình vị).
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và có khả năng hoạt động độc lập. Từ có chức năng định danh, có khả năng đóng các vai trò khác nhau trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ. Ở phần trên, chúng ta đã bàn đến những đặc điểm chung của từ là có nghĩa hoàn chỉnh, mang tính cố định, sẵn có, và là đơn vị nhỏ nhất có thể tham gia tạo câu. Nó có hai đặc điểm đáng chú ý: - Có thể đơn tiết hoặc đa tiết.
- Có thể có biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhưng không có biến thể hình thái học. Ý nghĩa ngữ pháp của từ không được biểu hiện trong nội bộ từ, mà được biểu hiện trong quan hệ giữa các từ trong câu. Mặt khác, từ không có những dấu hiệu hình thức giúp xác định ý nghĩa ngữ pháp mà phải dưa vào các loại từ hay phó từ như con, cái, chiếc ( đối với danh từ), đã, đang, đang, sẽ, rất, hơi, khá…( đối với động từ và tính từ). Như vậy, phải dựa vào chức năng ngữ pháp cụ thể ta mới xác định được ý nghĩa từ vựng của từng trường hợp.
Những điều trình bày trên đây, phần nào đó đã nói lên được tính phức tạp của tình hình nghiên cứu về từ trong tiếng Việt. Rất nhiều khái niệm về từ đã được đưa ra, nhưng hầu hết đều không thể hiện khái quát hết bản chất của từ. Tuy nhiên để thuận tiện trong quá trình làm việc, chúng tôi chấp nhận quan niệm về từ sau đây để làm việc. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [14, tr142] Luận văn của chúng tôi chấp nhận quan niệm về từ theo định nghĩa trên tức là có từ đơn tiết và đa tiết.
Đơn vị tương đương với từ: các ngữ cố định. Từ không những là đơn vị cơ bản của từ vựng, ngữ pháp; và như trên đã nói, đơn vị thống kê không chỉ có từ mà còn có ngữ cố định. Theo Nguyễn Thiện Giáp: “đơn vị cơ bản của từ vựng là từ. Bên cạnh các từ, trong thành phần từ vựng của mỗi ngôn ngữ còn tồn tại rất nhiều các cụm từ cố định, thường được gọi là các thành ngữ, quán ngữ.
Cụm từ cố định có nhiều điểm giống với từ: Chúng cũng có khả năng tái hiện trong lời nói như các từ; về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể là thành phần của câu, cũng có thể là cơ sở để cấu tạo từ; về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu thị những hiện tượng của thực tế khách quan gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người. Chính vì vậy, các cụm từ cố định cũng nằm trong thành phần từ vựng của ngôn ngữ, cũng được hệ thống hoá trong các từ điển. Từ và cụm từ cố định được gọi là những đơn vị định danh cơ bản của ngôn ngữ, thực hiện chức năng gọi tên các sự vật, hiện tượng… của thực tế. Tuy nhiên cụm từ cố định không phải là đơn vị từ vựng cơ bản, bởi vì chúng do các từ cấu tạo nên: muốn có cụm từ cố định trước hết phải có các từ”.
[22, tr16,17] Có thể nêu một khái niệm cho cụm từ cố định điển hình như sau: Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại; tồn tại với tư cách một đơn vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ.