Chương 1, chúng tôi trình bày tổng quan về quá trình phát xạ HHG và mô hình ba bước Lewentein. Chương 2, chúng tôi trình bày phương pháp giải TDSE cho nguyên tử khi tương tác với laser cường độ cao, xung cực ngắn. Chương 3, chúng tôi trình bày kết quả tính toán phỏ HHG từ nguyên tử ở trạng thái chồng chập của trạng thái cơ bản và kích thích thứ nhất với hệ số đóng góp khác nhau. Chúng tôi thu được một số kết quả đáng chú ý.
Thứ nhất, hiệu suất phat xa HHG cao hơn so với khi nguyên tử được chuẩn bị ở các trạng thái riêng lẻ, đồng thời miền phẳng được mở rộng. Thứ hai, cường độ phổ HHG rất nhạy với sự đóng góp của trạng thái kích thích thứ nhất, chỉ cần đóng góp rất nhỏ của trạng thái kích thích đã làm tăng hiệu suất phát xạ và miền phẳng phổ HHG đáng kẻ. Thứ ba, với laser mạnh và trung bình, trong phô HHG xuất hiện nhiều điểm dừng do hiệu ứng suy giảm của trạng thái kích thích, chúng tôi đề xuất đại lượng tốc độ ion hóa và giải thích được thành công sự xuất hiện của các điểm dừng trong phô HHG. Cuối cùng là phần kết luận, trong phần này chúng tôi tóm tắt lại những kết quả đã đạt được, và nêu lên hướng phát triển của đề tai.
Kết quả của luận văn đã được báo cáo tại Hội nghị khoa học quốc tế ““The 10“ Asian Symposium on Intense Laser Science — ASILS10” tai Các tiéu vuong quéc A Rap Thống nhất. Phan, Thanh-Tuynh T. Nguyen, Van-Hung Hoang, "Multicutoff effect in high-order harmonic generation from two-state hydrogen atom". Book of Abstracts.
The 10th Asian Symposium on Intense Laser Science (ASILS10), March 10-13, 2018, Sharjah, United Arab Emirates. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày sơ lược một số vấn đề liên quan đến phát xạ HHG. Đầu tiên, chúng tôi trình bày mô hình nguyên tử ở trạng thái cơ bản và kích thích. Tiếp theo, chúng tôi trình bày sơ lược về HHG và mô hình ba bước bán cô điển Lewenstein nhằm phác họa bức tranh về quá trình hình thành phát xạ HHG.
Cuối cùng, chúng tôi trình bày một số kết quả nghiên cứu HHG khi nguyên tử được chuẩn bị ở trạng thái chồng chập của hai trạng thái liên kết. Lý thuyết phát xạ sóng điều hòa bậc cao và mô hình Lewenstein Khi cho nguyên tử, phân tử tương tác với laser cường độ cao xung cực ngắn sẽ dẫn đến nhiều hiệu ứng phi tuyến. Trong đó, hiệu ứng phát xạ sóng điều hòa bậc cao là một trong những hiệu ứng đã và đang được quan tâm rất lớn từ cộng đồng khoa học. Phát xạ sóng điều hòa bậc cao được biết đến chính là các photon phát ra khi cho laser cường độ cao, xung cực ngắn tương tác với nguyên tử hoặc phân tử.
Các photon này có tần số bằng bội số nguyên lần tần số của laser tương tác. Hình dáng phổ phát xạ HHG có đặc điểm rất đặc trưng: ở vài bậc đầu tiên, cường độ HHG giảm nhanh; sau đó cường độ HHG gần như không đổi trong một miễn tần số gọi là miền phẳng (plateau) và kết thúc tại điểm dừng (cutoff); sau điểm dừng, cường độ HHG giảm mạnh (hình 1. Ss = A 2 \ b) = \ s s \ $ À Mien phang Điểm dừng x TriytidtrpiD. ỹ II IS on | | | N Ễ li | x 5 Ỉ © + + + ⁄ 4 i > 10 20 30 40 50 Bac HHG Bac HHG Hinh 1.
a) Phé HHG phat ra tir nguyén tir H ở trạng thái cơ bản khi tương tác với xung laser có cường độ 2x10!3W/cm”, độ dài xung 27 fs, bước sóng 1600nm; b) Hình dáng đặc trưng của phô HHG [12]. Năm 1961, lan dau tiên sóng điều hòa bậc thấp (bậc hai) có bước sóng 347 nm được phát hiện khi P. Franken và cộng sự dùng laser Ruby có bước sóng 694 nm chiếu vào tinh thể thạch anh [5]. Năm 1987, nhờ sự cải tiến trong kỹ thuật laser, sóng điều hòa bậc cao HHG lần đầu tiên được quan sắt bằng thực nghiệm dén bac 17 boi A.
McPherson va cộng sự khi cho laser xung cực ngắn cường độ cao tương tác với khí neon [15]. Cho đến nay, sóng điều hòa bậc cao có tần số lên đến hàng nghìn lần tần số laser chiếu vào đã được quan sát [24]. Sau khi thực nghiệm quan sát được, các lý thuyết cũng được đưa ra để giải thích cơ chế phát xạ HHG [12]. Lewenstein và cộng sự đã đề xuất mô hình ba bước để giải thích cơ chế phát xạ HHG [12] và được sử dụng rộng rãi cho đến nay.
Đề giải thích cơ chế tác giả dựa trên các mô tả lượng tử, áp dụng các giả thuyết trong gần đúng trường mạnh như sau: (i) Trong quá trình tương tác với laser, chỉ có trạng thái cơ bản của nguyên tử là đóng góp đáng kể, đóng góp từ các trạng thái kích thích được bỏ qua; (1) Sự suy giảm của trạng thái cơ bản theo thời gian được bỏ qua; (1) Trong miền liên tục, điện tử được xem như hạt tự do chuyển động trong trường laser và chỉ chịu tác dụng của trường laser gây ra; Mô hình ba bước Lewenstein là mô hình bán cỗ điển mà theo đó sự hình thành phát xạ HHG được mô tả theo quy trình ba bước (hình 1.2): (i) Dau tién, truong laser bắn vào làm biến dạng thế Coulomb của nguyên tử, điện tử ion hóa xuyên hầm ra miền liên tục; (ii) Tiép theo, điện tử được xem như hạt tự do, được gia tốc trong miền liên tục dưới tác dụng của trường laser với vận tốc ban đầu bằng không: (iii) Cuối cùng, sau nửa chu kỳ quang học, vectơ điện trường đổi chiều, kéo điện tử quay trở về tái kết hợp voi ion me va phát ra HHG. Mô hình ba bước Lewenstein [18] Nếu giả sử rằng vận tốc ban đầu ngay khi điện tử bứt ra khỏi liên kết bằng không thì động năng cực đại điện tử thu được khi quay trở về tái kết hợp với ion me la 3.17Up, voi Up = E, /4@° 1a thé trong dong — dong nang trung bình điện tử tích lũy trong một chu kỳ laser; Eø,œ lần lượt là cường độ điện trường cực đại, tần số của laser chiếu vào. Khi quay về tái kết hợp voi ion mẹ có thế ion hóa Ip, phat ra photon, theo định luật bảo toàn năng lượng, năng lượng cực đại của photon phát ra có giá trị [12] h@ oy = IP +3. Phát xạ sóng điều hòa bậc cao từ nguyên tử ở trạng thái chồng chập HHG la nguồn tạo ra xung atto giây, có ứng dụng rất quan trọng trong việc thăm đò các quá trình chuyển động cực nhanh như chuyển động của điện tử trong phân tử, phan tng hoa hoc.
Để có được xung atto giây mạnh thì phô HHG phải có cường độ mạnh, muốn rút ngắn độ dài xung thì phố HHG phải có năng lượng lớn [2,23]. Do đó điều cấp thiết là phải mở rộng miền phẳng và nâng cao hiệu suất của phổ HHG. Theo hệ thức (1.1), muốn tăng tần số điểm dừng ta có thể tang gia tri cua ?, tức tăng cường độ và bước sóng của laser, tuy nhiên, việc tăng cường độ đễ dẫn đến sự suy giảm trạng thái [22]. Để tránh sự suy giảm trạng thái, ta có thể giảm cường độ và tăng bước sóng, tuy nhiên, điều này lại làm giảm cường độ phát xạ HHG với hệ số giảm xấp xĩ 4 **9°|9].
Cũng theo hệ thức (1.1), ta có thể tăng giá trị Jp bang cach sir dung ion nguyên tử do có thế ion héa Jp cao hon, tuy nhiên, hiệu suất phát xạ HHG thấp [30]. Dùng nguyên tử ở trạng thái kích thích làm tắng cường độ HHG do tăng xác suất ion hóa, tuy nhiên, điều này làm giảm giá trị điểm dừng [22]. Năm 1995, lần đầu tiên tính toán lý thuyết phô phát xạ phát ra từ nguyên tử ở trạng thái chồng chập của hai trạng thái được thực hiện bởi E. Gauthey [6] và cộng sự.
Nguyên tử ban đầu được chuẩn bị ở trạng thái chồng chập của trạng thái cơ bản và trạng thái kích thích với hệ số đóng góp bằng nhau nhưng hệ số pha khác nhau (pha của hàm sóng trạng thái). Sau đó, năm 1996, từ ý tưởng của nhóm F. Gauthey, nhóm của J. Watson bằng cách giải phương trình Schrödinger phụ thuộc thời gian tính toán phổ phát xạ HHG từ ion nguyên tử Het ở trạng thái chồng chập của hai trạng thái cơ bản và kích thích thứ nhất, đã chỉ ra rằng phát xạ HHG từ chồng chập hai trạng thái có hiệu suất cao hơn khi xét ở từng trạng thái riêng lẻ.
Thêm vào đó, với laser có cường độ thích hợp, phổ HHG bị chia thành hai vùng miền phẳng tách biệt với cường độ khác nhau. Miền phẳng thứ nhất có điểm dừng ứng với năng lượng Ip, +3.17Up, mién phẳng thứ hai bắt đầu từ Jp, — Jp, va co diém dimg tai Jp, +3.17Up, trong do, Ip,, Ip, lần lượt là thế ion hóa của trạng thái cơ bản, trạng thái kích thích (hình 1. (a) Phố HHG của ion nguyên tử He" ở trạng thái chồng chập của trạng thái cơ bản và kích thích thứ nhất với xác suất đóng góp bằng nhau; (b)Phé HNG tương ứng từ trạng thái cơ bản (đường thấp hơn) và kích thích (đường cao hơn) khi tương tác với laser có cường độ 8.85x10!3 W/cm? và bước sóng 746 Nhóm tác giả [31] giải thích về quá trình hình thành hai miền phẳng này bằng mô hình hệ ba mức chữ A. Theo mô hình này, điện tử ở trạng thái kích thích chịu trách nhiệm cho sự ion hóa.
Khi trở về có thể tái kết hợp về trạng thái kích thích cho miền phẳng thứ nhất hoặc có thể tái kết hợp về trạng thái cơ bản TTTTTTTTTTTTTTTrrrrTrrrrrrrrr (a) | | II TTT == T a 1Ì: Liiiliititliiitiliiiiliii po dt LLL 0 10 20 30 40 50 Harmonic Order cho miền phẳng thứ hai (hình 1. Mô hình hệ ba mức chữ A mô tả cơ chế phát xa song điều hòa bậc thứ 1), thích thứ nhất và trạng thái liên tục[31]. 2) kí hiệu lần lượt cho trạng thái cơ bản, kích nhóm J. Watson cho ion nguyên tử He", khi nguyên tử được chuẩn bị ở trạng thái chồng chập của trạng thái cơ bản và trạng thái kích thích thứ hai.
Các tác giả đã chỉ ra rằng theo mức độ 1on hóa của điện tử ở trạng thái kích thích mà có thể chia cường độ laser thành ba miền cường độ khác nhau, trong đó phô HHG biểu hiện những nét đặc trưng khác nhau. Trong miền cường độ laser yếu, phô HHG của chồng chập trạng thái cho thấy hai miền phẳng rõ rệt, tương tự kết quả tính toán trước đó của nhóm J.