Chương 1: Những vấn đề lý luận có liên quan đến khái niệm ngữ vị từ và việc nhận diện nhóm vị từ +hành động +di chuyển trong tiếng Hán 1. Vị từ và ngữ vị từ trong tiếng Hán và tiếng Việt 1. Quan điểm của các học giả Trung Quốc *Về khái niệm vị từ Đại đa số các học giả Trung Quốc đều thống nhất cho rằng vị từ bao gồm động từ, tính từ bởi hai loại từ này đều có thể xuất hiện ở vị trí của vị ngữ. Số ít tác giả như Lỗ Xuyên [32, 19] cho rằng đại vị từ như: 怎么(làm sao), 怎么样(thế nào), 这样(như vậy) cũng thuộc vị từ.
* Về khái niệm và phân loại đoản ngữ Từ với từ tổ hợp theo quan hệ chính phụ thành một đơn vị ngôn ngữ, chưa bước vào bình diện câu, gọi là đoản ngữ. Trong lịch sử nghiên cứu tiếng Hán, đoản ngữ đã từng có rất nhiều tên gọi: 读(đọc), 顿(đốn), 短语( đoản ngữ), 字群(tự quần), 扩词(khuếch từ), 仂词(lặc từ), hiện tại tên gọi có ảnh hưởng nhất là: 短语(đoản ngữ), 词组(cụm từ) và 结构 (kết cấu). Sự thay đổi về tên gọi trên thực tế phản ánh nhận thức sâu hơn của con người đối với đơn vị ngôn ngữ này. Những năm 50 của thế kỷ 20, đơn vị ngôn ngữ này được dùng phổ biến là cụm từ, cũng có khi dùng với tên gọi kết cấu.
Những năm 70, Lã Thúc Tương [35, 25-26] thiên về tên gọi đoản ngữ, và cho rằng “cụm từ thường được hiểu bao gồm hai thực từ trở lên, còn một thực từ kèm với một hư từ, như 我们的(của chúng tôi),从这里(từ chỗ này)…thì không phải là cụm từ, mà gọi là kết cấu chữ “的”(của) hoặc kết cấu giới từ. Nhưng nếu ta gọi chúng là đoản ngữ thì không phải lăn tăn gì 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cũng phát triển từ quan điểm trên của Lã Thúc Tương, các nhà Hán học hiện đại đều thiên về tên gọi đoản ngữ , tức ngữ như Thiệu Tĩnh Mẫn [37, 258] có đề cập rất rõ ràng trong cuốn “Đại cương Hán ngữ hiện đại”: “thực từ và thực từ được tổ hợp lại với nhau theo một quan hệ ngữ pháp nhất định gọi là cụm từ; còn tổ hợp phi kết cấu của thực từ với hư từ và tổ hợp của thực từ với hư từ gọi là kết cấu (gồm 4 loại: số lượng, phương vị, giới từ, kết cấu chữ “的”(của)). Và hai loại này được gọi chung là đoản ngữ”.
Như vậy có thể thấy, cùng với sự phát triển tiếng Hán, tên gọi đoản ngữ đã dần dần vươn đến vị trí chính thống. Về khái niệm đoản ngữ, Chu Anh Quý [46, 8] cho rằng: đoản ngữ là đơn vị ngữ pháp trong câu do hai hoặc hơn hai đơn vị cấu tạo câu trở lên có liên hệ về ý nghĩa, được tổ hợp theo quan hệ ngữ pháp hoặc kết cấu ngữ pháp nhất định mà thành. Lục Kiệm Minh [34, 37] cho rằng: “cụm từ” tức “đoản ngữ” hoặc “kết cấu”, là đơn vị ngữ pháp lớn hơn từ, do từ với từ kết hợp với nhau theo một quy tắc cú pháp nhất định tạo nên. Từ và từ tổ hợp theo quan hệ cú pháp khác nhau sẽ hình thành những kiểu cụm từ khác nhau.
Về phân loại đoản ngữ, các nhà Hán học đưa ra rất nhiều quan điểm về phân loại đoản ngữ (tức ngữ, cụm từ), nhưng phổ biến nhất vẫn là phân loại theo quan hệ kết cấu nội bộ đoản ngữ và theo chức năng đoản ngữ. Căn cứ theo quan hệ kết cấu cú pháp nội bộ, có thể chia cụm từ thành: cụm chính phụ, cụm thuật tân, cụm thuật bổ, cụm chủ vị, cụm liên hợp, cụm phương vị, cụm số lượng, cụm giới từ, cụm từ chữ “的” (của)…. Ngược lại, căn cứ theo chức năng ngữ pháp của cụm từ, ta chia cụm từ thành cụm thể từ (tức cụm danh từ) và cụm vị từ (gồm cụm động từ và cụm tính từ). Hình Phúc Nghĩa trong [39, 452] và [40, 197] cho rằng có nhiều cách phân loại đoản ngữ, phổ biến nhất là 2 kiểu phân loại dưới đây: 1.
Căn cứ vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần nội bộ đoản ngữ có thể chia đoản ngữ thành 8 loại: đoản ngữ chủ vị, đoản ngữ động tân, đoản 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngữ chính phụ, đoản ngữ chính bổ, đoản ngữ liên hợp, đoản ngữ đồng vị, đoản ngữ liên động và đoản ngữ khiêm ngữ. Căn cứ vào chức năng của đoản ngữ ta có đoản ngữ danh từ (tức đoản ngữ thể từ), đoản ngữ động từ và đoản ngữ tính từ (tức đoản ngữ vị từ). Như vậy có thể thấy đa số các nhà Hán học đều thống nhất rằng: đoản ngữ là đơn vị ngữ pháp trong câu do hai hoặc hơn hai đơn vị cấu tạo trở lên ( thực từ kết hợp với thực từ gọi là cụm từ, còn thực từ kết hợp với hư từ thì gọi là kết cấu) có liên hệ về ý nghĩa, được tổ hợp theo quan hệ ngữ pháp hoặc kết cấu ngữ pháp nhất định mà thành. Căn cứ vào chức năng của đoản ngữ ta có thể phân thành đoản ngữ danh từ - ngữ thể từ, đoản ngữ động từ và đoản ngữ tính từ - ngữ vị từ.
*Đoản ngữ vị từ (ngữ vị từ) tiếng Hán Trong [44, 358] và [28, 23] các tác giả Trương Bân, Hoàng Bá Vinh và Liêu Tự Đông cho rằng: vị từ là những từ chủ yếu giữ chức năng vị ngữ, thuật ngữ và bổ ngữ trong câu, vị từ trong tiếng Hán hiện đại bao gồm 2 loại: động từ và tính từ. Ngữ vị từ là những đoản ngữ có thể làm vị ngữ, có chức năng tương đương với vị từ, thông thường lấy động từ, tính từ làm trung tâm”. Theo Tề Hộ Dương – Liên Thục [36, 94] thực từ tiếng Hán có thể chia làm ba loại: thể từ, vị từ và gia từ, từ đó căn cứ vào chức năng ngữ pháp trong câu có thể phân đoản ngữ thành 3 loại: đoản ngữ thể từ, đoản ngữ vị từ và đoản ngữ gia từ. Theo tác giả, đoản ngữ vị từ gồm đoản ngữ động từ và đoản ngữ tính từ.
Trong đó, đoản ngữ động từ lại có thể phân thành các loại sau: (1)Đoản ngữ động - tân: 去过北京(đã đi Bắc Kinh ),回家了(về nhà rồi). (4)Đoản ngữ liên hợp do 2 động từ trở lên hoặc đoản ngữ động từ cấu thành: 听说读写(nghe nói đọc viết),进出(vào ra)… 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (5)Đoản ngữ liên vị :去超市买东西(đi siêu thị mua đồ)… (6)Đoản ngữ kiêm ngữ: 请他来(mời anh ta đến),派我去(cử tôi đi)… Theo Chu Anh Quý ngữ vị từ là chỉ những đoản ngữ có thể làm vị ngữ, bao gồm 9 loại: đoản ngữ động tân; đoản ngữ trạng ngữ – trung tâm ngữ; đoản ngữ trung tâm ngữ - bổ ngữ (động từ - bổ ngữ hoặc tính từ - bổ ngữ); đoản ngữ liên hợp tính vị từ ( do vị từ + vị từ cấu thành); đoản ngữ liên động; đoản ngữ kiêm ngữ; đoản ngữ chủ vị; đoản ngữ rút gọn và đoản ngữ so sánh. Hình Phúc Nghĩa trong [40, 198] cũng đề cập: đoản ngữ động từ do 2 động từ trở lên hoặc cụm từ trong đó động từ làm trung tâm cấu thành, có chức năng ngữ pháp tương đương với động từ, chủ yếu làm vị ngữ. Loại đoản ngữ này bao gồm: đoản ngữ động tân, đoản ngữ liên động, đoản ngữ kiêm ngữ, đoản ngữ năng nguyện, đoản ngữ so sánh, đoản ngữ liên hợp do động từ cấu thành, đoản ngữ chính phụ và đoản ngữ chính bổ do động từ làm trung tâm…Ngoài ra, ông Hình cho rằng đoản ngữ chủ vị do động từ, tính từ làm vị ngữ hoặc thành phần chính của vị ngữ đều được coi là ngữ vị từ, ông lý giải rằng “trong loại đoản ngữ này, vị ngữ biểu đạt ý, là trung tâm của đoản ngữ”.Trương Đức Tuệ [45, 9] cũng đồng ý với ông Hình về quan điểm này và bổ sung thêm rằng: “các loại đoản ngữ chủ vị đều thuộc ngữ vị từ, bao gồm cả đoản ngữ chủ vị với danh từ làm vị ngữ”.
Một trong những lý do chính ông đưa ra là: “về khái niệm, một ngữ vị từ phải thoả mãn hai điều kiện: một là có thể làm vị ngữ, hai là có chức năng tương đương với vị từ. Ngữ vị từ (đoản ngữ tính vị từ) là đề cập đến chức năng của đoản ngữ, “vị từ” là chỉ động từ và tính từ, còn “tính vị từ” không chỉ bao gồm “vị từ” mà bao gồm cả từ loại khác có chức năng như vị từ. Từ đó, chức năng của vị từ là kể lại, trần thuật; ngữ vị từ chính là đoản ngữ có chức năng trần thuật, kể lại”. Dễ dàng nhận thấy, quan điểm của đại đa số các nhà Hán học về vị từ, ngữ vị từ như sau: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về khái niệm: vị từ tiếng Hán bao gồm hai từ loại động từ và tính từ.
Đoản ngữ tính vị từ tức ngữ vị từ gồm ngữ động từ và ngữ tính từ, trong đó đoản ngữ động từ do 2 động từ trở lên hoặc cụm từ trong đó động từ làm trung tâm cấu thành, có chức năng ngữ pháp tương đương với động từ, chủ yếu làm vị ngữ. Về phân loại ngữ vị từ (chỉ ngữ động từ): dựa theo kết cấu nội bộ của ngữ động từ tiếng Hán có thể phân thành những loại sau: (1) ngữ động từ - bổ tố; (2) ngữ động từ - bổ ngữ; (3) ngữ trạng ngữ - trung tâm ngữ (động từ); (4) ngữ liên động; (5) ngữ kiêm ngữ; (6) ngữ năng nguyện; (7) ngữ liên hợp (do 2 động từ hoặc cụm động từ trở lên cấu thành). Quan điểm của các học giả Việt Nam *Khái niệm Vị từ: Theo một thống kê của Nguyễn Việt Hưng (1970), 99% câu đơn tiếng Việt có vị ngữ do động từ và tính từ đảm nhận, chúng chỉ các sự tình, là cơ sở cho nhận định mệnh đề. Các nhà Đông phương học dựa vào đặc điểm này để cho rằng động từ và tính từ trong các ngôn ngữ đơn lập – không biến hình như tiếng Việt và tiếng Hán có thể đặt trong một phạm trù chung là vị từ.
Do vậy, ta thường dùng khái niệm vị từ để thay cho động từ và tính từ, nhằm mục đích phân biệt với thể từ - danh từ. Nguyễn Kim Thản [23] đã dùng khái niệm vị từ để đối lập với thể từ/ danh từ. Ông cũng đưa ra các tiêu chí về nội dung và hình thức để phân loại chúng như: 1.Về mặt ý nghĩa, vị từ biểu thị quá trình hay tính chất của sự vật. Về mặt hình thức, vị từ có khả năng trực tiếp làm vị ngữ và không có khả năng đặt trước những từ chỉ định.