Chương 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan: Phần này đề tài trình bài các nghiên cứu liên quan đến vấn đề lấy ý kiến phản hồi của người học đối với hoạt động giảng dạy của GV.Các nghiên cứu nước ngoài Với quan điểm xem giáo dục như là một dịch vụ và người học là một khách hàng, thì việc lấy ý kiến người học đối với hoạt động giảng dạy ngày càng giữ vai trò quan trọng trong công cuộc nâng cao chất lượng giáo dục. Việc lấy ý kiến phản hồi này cũng có thể được xem là một trong những kênh thông tin giúp người dạy điều chỉnh hoạt động giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo trong giáo dục. Có thể điểm qua một số nghiên cứu ở nước ngoài như sau: Scriven (1995) xác định một số yếu tố có giá trị mà sinh viên sử dụng để phản hồi về hoạt động giảng dạy giảng viên gồm có: 1.
Sự tăng lên về kiến thức và hiểu biết riêng của sinh viên; 2. Cảm nhận những thay đổi trong động lực hướng tới: (a) môn học đã học, (b) mối liên hệ giữa nghề nghiệp và môn học, (c) tiếp tục học thêm về lĩnh vực đó; 3. Quan sát thái độ của giáo viên trong hoạt động giảng dạy; 4. Xác định các chỉ số về phong cách giảng dạy; 5.
Kiểm tra đánh giá; 6. Những vấn đề liên quan đến sinh viên như tài liệu tham khảo, quy định về thời gian tham dự lớp học hoặc bài tập về nhà. [48] Huitt (1995) và Stockham & Amann (1994) đã đưa ra các nguyên tắc cho hoạt động đánh giá của sinh viên gồm có: 13 1. Học tập là một quá trình tích cực, sự tham gia của sinh viên là một phần tích hợp của quá trình; 2.
Đặc điểm và thái độ của sinh viên ảnh hưởng đến năng lực giảng dạy và sự tương tác của giảng viên với sinh viên; 3. Để thuận lợi cho việc thay đổi và xây dựng để phát triển, giảng viên cần xem xét việc giảng dạy trên các lớp sinh viên cụ thể. Giảng viên nhận thấy sinh viên có thể có đóng góp quan trọng vào quá trình dạy và học 5. Quá trình dạy và học là quá trình năng động cần biến đổi theo thời gian và bối cảnh [38,49] Juwah C., Macfarlane – Dick và các đồng nghiệp (2004) đã đưa ra bảy nguyên tắc đưa ý kiến phản hồi trong việc dạy-học như sau: - Hỗ trợ phát triển tự đánh giá trong học tập - Khuyến khích giảng viên và đồng nghiệp đối thoại về học tập - Giúp xác định định nghĩa về thực hiện tốt (mục đích, tiêu chí, các tiêu chuẩn cần đạt được) - Tạo cơ hội xoá bỏ khoảng cách giữa việc thực hiện hiện tại với dự kiến - Cung cấp thông tin chất lượng cao cho sinh viên về việc học tập của họ - Khuyến khích niềm tin có động cơ tích cực và lòng tự trọng - Cung cấp cho giảng viên thông tin nhằm giúp họ điều chỉnh việc dạy học[39] Nghiên cứu của Ali Kara và Oscar W.
DeShields (2004) về “Sự hài lòng của sinh viên ngành kinh doanh, những mục đích và sự duy trì học tập – một điều tra thực nghiệm” đã tập trung vào mối quan hệ giữa sự hài lòng của sinh viên ngành kinh doanh và mục đích của sinh viên khi học tại một trường 14 đại học hay cao đẳng. Bằng một thực nghiệm trên 160 sinh viên ngành kinh doanh tại một trường đại học ở phía nam bang Pennsylvania, tác giả đã chỉ ra rằng quá trình học đại học của sinh viên liên quan đến sự hài lòng của và ý định tiếp tục theo học tại trường đại học đó. Từ đó hai tác giả này đề xuất việc áp dụng các nguyên tắc định hướng sinh viên như một khách hàng để làm tăng lợi nhuận cũng như tăng chất lượng đào tạo của nhà trường.[40] Một nghiên cứu khác của Lisa A. Ferguson và Gertrude P.Pannirselvam (2000) về “Đo lường sự hài lòng của sinh viên M.A trong giờ học”.
Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát mức độ hài lòng của sinh viên M.A về các hoạt động giảng dạy trên lớp của giảng viên với các tiêu chí về “Đặc điểm của giảng viên” (professor character traits), “Cách quản lý lớp học” (classroom management), “Sự phản hồi” (feedback) và “Tài liệu học tập” (course materials). Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần “Đặc điểm của giảng viên” là thành phần đầu tiên quyết định đến sự hài lòng tổng thể của sinh viên. Thành phần này bao gồm các yếu tố được đề cập đến như: sự dễ mến, sự mềm dẻo, linh động, sự tận tụy và kiến thức của giảng viên. Sau thành phần “Đặc điểm của giảng viên” là thành phần “Cách quản lý lớp học” cũng có ảnh hưởng đến sự hài lòng tổng thể của sinh viên với các yếu tố về “sự chuẩn bị khi lên lớp”và “việc sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học”.
Hai thành phần cuối cùng có ảnh hưởng đến sự hài lòng tổng thể của sinh viên được xếp theo thứ tự ưu tiên là “Sự phản hồi” và “Tài liệu học tập” [43].Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, vấn đề lấy ý kiến phản hồi của người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên còn khá mới mẻ. Chủ trương lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên được Bộ Giáo dục- Đào tạo khởi xướng từ năm học 2009- 2010 trên cơ sở kết quả triển khai thí điểm tại một số trường đại học từ năm 15 học 2008- 2009. Mục đích của hoạt động này được Bộ Giáo dục- Đào tạo xác định là: 1. Góp phần thực hiện Quy chế dân chủ trong cơ sở giáo dục đại học; 2.
Góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của giảng viên trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục đại học, xây dựng đội ngũ giảng viên có phẩm chất đạo đức, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy tiên tiến, hiện đại; tăng cường tinh thần trách nhiệm của người học với quyền lợi, nghĩa vụ học tập, rèn luyện của bản thân; từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học; 3. Tạo thêm một kênh thông tin để giúp giảng viên có thể tự điều chỉnh hoạt động giảng dạy; Góp phần thực hiện công tác kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học; Giúp cán bộ quản lý trong các cơ sở giáo dục đại học có thêm cơ sở nhận xét, đánh giá giảng viên; Góp phần phòng ngừa những tiêu cực trong hoạt động giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học; phát hiện và nhân rộng những điển hình tốt trong đội ngũ giảng viên.[4] Cho đến nay việc lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về hoạt động giảng dạy GV đã thực hiện rộng khắp các trường đại học và cao đẳng trong cả nước và trở thành một trong những tiêu chí tự đánh giá của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp. Song song đó, các nghiên cứu khoa học về vấn đề này cũng được thực hiện: Tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh Loan và Nguyễn Thị Thanh Thoản (2005) với đề tài “Đánh giá chất lượng đào tạo từ góc độ cựu sinh viên của Trường ĐH Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh”[15]; Tác giả Nguyễn Thành Long (2006), Trường ĐH An Giang với nghiên cứu “Sử dụng thang đo SERVPERF để đánh giá chất lượng đào tạo ĐH tại Trường ĐH An Giang” [17]; tác giả Vũ Trí Toàn (2007) đề tài khoa học “Nghiên cứu về chất lượng đào tạo của khoa Kinh tế và Quản lý theo mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL”[25]; tác 16 giả Nguyễn Ngọc Thảo (2008), Khoa Quản trị Bệnh viện với đề tài “Sự hài lòng về chất lượng đào tạo của sinh viên khoa Quản trị Bệnh viện (QTBV), trường Đại học Hùng Vương” [23]; tác giả Trần Xuân Kiên (2009) với đề tài “Đánh giá sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo tại trường ĐH Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học Thái Nguyên”[14]; Nguyễn Thị Trang (2010) về “Xây dựng mô hình đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên với chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng”[27]; Nguyễn Thị Thắm (2010) thực hiện nghiên cứu “Khảo sát sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên” [24]. Các nghiên cứu này chủ yếu đề cập ý kiến phản hồi của người học về hoạt động đào tạo nhà trường như cơ sở vật chất – trang thiết bị, công tác quản lí nhà trường, năng lực đội ngũ nhân viên phục vụ., trong đó hoạt động giảng dạy của giảng viên.
Một số tác giả sử dụng mô hình SERVQUAL của Parasuraman hoặc mô hình SERVPERF của Corin và Taylor đo lường trong lĩnh vực kinh tế áp dụng đo lường ý kiến phản hồi của người học và đã thu được một số kết quả nhất định. Gần với đề tài hơn là nghiên cứu của Trần Thị Tú Anh (2008) “Nghiên cứu đánh giá chất lượng giảng dạy đại học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền”[1]. Đối với đánh giá chất lượng giảng dạy môn học, nghiên cứu đưa ra 5 tiêu chí đánh giá là: Mục tiêu môn học, Phương pháp giảng dạy, Nội dung môn học, Tài liệu học tập và Hoạt động kiểm tra, đánh giá. Sau khi đưa ra các tiêu chí và các chỉ số, tác giả đã thiết lập nên bảng hỏi đáng giá chất lượng giảng dạy môn học gồm 10 câu hỏi theo thang đo Likert 5 mức độ và tiến hành lấy ý kiến được 1764 sinh viên từ 27 lớp thuộc 15 khoa của học viện để đánh giá chất lượng giảng dạy 46 môn học.
Kết quả cho thấy chất lượng giảng dạy các môn học tại học viện là không đồng đều. Khoảng cách chất lượng giữa những môn giảng dạy tốt nhất và kém nhất tương đối xa. Ngoài ra, 17 kết quả phân tích còn cho thấy sự khác nhau về mức độ hài lòng của sinh viên với chất lượng giảng dạy môn học giữa các khoa. Từ các kết quả phân tích đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy tại học viện cho từng đối tượng như: Nhà trường, Giảng viên và sinh viên.
Nguyễn Kim Dung (2010) với nghiên cứu về “Khảo sát mức độ hài lòng của sinh viên về chất lượng giảng dạy và quản lý của một số trường ĐH Việt Nam” [7]. Nghiên cứu trình bày kết quả khảo sát mức độ hài lòng của sinh viên về chất lượng giảng dạy và quản lý của một số trường ĐH Việt Nam trong giai đoạn từ 2000 đến 2005. Đề tài đã tiến hành khảo sát ở hơn 18 đại học trong cả nước, với tổng số là 2529 SV tham gia.