CHƯƠNG 1 MO DAU Trang 1 HV: HUYNH NGUYEN ĐỊNH QUOC LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: PGS. NGUYEN NGỌC LAU 1. GIỚI THIEU CHUNG Luong hoi nước tích tu (Precipitable water vapor — PWV) trong khí quyền rất can thiét trong công tac du báo thời tiết. Việc xác định chỉ số PWV một cách chính xác hiện nay đang là vẫn đề được nhiều người quan tâm trong lĩnh vực khí tượng thủy văn.
Hơi nước khí quyền là một thành phan quan trọng trong sự hình thành của mây, mưa và thời tiết khắc nghiệt. Vì vậy, việc xác định chỉ số PWV là một mục tiêu cơ bản của khí tượng học. Để xác định PWV, có nhiều hệ thống đo các tham số khí tượng, chăng hạn dùng hệ thông bóng thám không vô tuyến, hệ thống đo khí tượng ngay tại bề mặt Trái Dat, hệ thống đo khí tượng bang bo phan cam biến từ xa trên mặt đất (Ground-based remote sensors), hệ thống đo khí tượng từ phi cơ, kinh khí cầu (aircraft), hệ thống đo khí tượng bang vệ tinh GNSS. Một kỹ thuật mới được phát triển gần đây là dùng tín hiệu GPS dé đo hệ số PWV thông qua độ trễ của tín hiệu khi đi qua tầng đối lưu.
Dựa vào dữ liệu bóng thám không vô tuyến để xác định hệ số PWV thông qua các tham số nhiệt độ, áp suất, độ âm tương đối .của tầng đối lưu. Ngoài ra, sử dụng dữ liệu GPS cũng tính toán được hệ số PWV. Từ hai kết quả nhận được từ hai hệ thống trên có thể đưa ra hướng nghiên cứu trong ngành khí tượng về việc sử dụng hệ thống định vi GPS trong lĩnh vực dự báo thời tiết tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, cung cấp cho các nhà dự báo thời tiết một công cụ mới về việc xác định các yếu tố khí tượng thủy văn.
Đề tai luận văn của học viên sẽ tập trung vào việc tính toán hệ số PWV từ dữ liệu bóng thám không vô tuyến, đồng thời tính hệ số PWV từ dit liệu GPS trong cùng khoảng thời gian thả bóng thám không vô tuyến, từ đó so sánh độ lệch giữa hai hệ thống này. TINH CAP THIET CUA DE TÀI PWV là lượng hơi nước tại một điểm trên bề mặt trái đất được biểu diễn là độ cao của một cột chất lỏng tương đương. Giá trị này có thể được dùng trong việc dự báo sự biến đổi khí hậu và nghiên cứu thời tiết. Sự thay đôi lớn một lượng hơi nước trong không khí cần được theo đõi để giúp phát hiện và dự đoán sự thay đổi khí hậu của trai dat.
Trang 2 HV: HUYNH NGUYEN ĐỊNH QUOC LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: PGS. NGUYEN NGỌC LAU Hơi nước là nguyên nhân chính gây ra hiệu ứng nhà kính trên hành tinh, nên nó cân phải được đo chính xác trên toàn câu. Dé thực hiện việc dự báo chính xác trong lĩnh vực khí tượng, việc đo lường chính xác chỉ sô hơi nước trong khí quyên là cân thiết và đang được các nước quan tâm. Hiện nay để giám sát hơi nước trong tang đối lưu của khí quyền Trái Đất hiện nay có nhiều hệ thống đang được sử dụng trên thế giới.
Mỗi hệ thống đều có ưu, nhược điểm khác nhau. Tuy nhiên, tùy theo độ chính xác và tùy theo từng yêu cau cụ thé mà có thé sử dụng hệ thống giám sát hợp ly. Vệ tinh địa cực — > Z. ~Z Vệ tinh địa tĩnh Z a ri.
rl Vé tinh GPS ie thu ans ga kinh khí > oF khi tuong cầu biang phihi co Do khí tượng Do khi tuong ae bang may bay ⁄ 9 Ọ —: thương mại 4 Q ©) ở — Bong thám chong vo tuyén ợ © ÿ Raman Lidar Dai duong Hình 1.1: Một số hệ thông khác nhau trên mặt đất hoặc trên không giám sát hoi nước Một số hệ thông giám sát hơi nước hiện nay đang được sử dụng trên toàn thé giới được thé hiện hình 1. Chúng ta sẽ phân tích lần lượt từng hệ thống giám sát hơi nước hiện nay đang sử dụng. Máy phóng xạ kế hơi nước - Water Vapour Radiometer (WVR): là thiết bi đo nhiệt độ của bầu khí quyền trên hai kênh ở tần số 23.5GHz đặc trưng của hơi nước và nước lỏng như hình 1. Hơi nước tích tụ PWV, độ trễ ướt thiên đỉnh Trang 3 HV: HUYNH NGUYÊN ĐỊNH QUOC LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: PGS.
NGUYEN NGỌC LAU ZWD (Zenith Wet Delay) và độ trễ tổng theo phương thiên đỉnh ZTD (Zenith Total Delay) có thé do được từ nhiệt độ của bầu khí quyền khi sử dụng phương pháp chuyển đổi phóng xạ. Một thiết bị logger dùng dé đo bức xa và cung cấp các yếu tố khí tượng như áp suất, nhiệt độ và độ âm. Thiết bị WVR đo được cả lượng nước trong mây. Tuy nhiên, do thiết bị WVR có trọng lượng lớn nên không thé di chuyển được.
Ngoài ra, thiết bị WVR hoạt động bị giới hạn bởi độ bao phủ nghèo nàn, đồng thời hoạt động không ôn định dưới trời mưa lớn.2: Thiết bi Phóng xạ kế hơi nước WVR 1. Hệ thống đo khí tượng ngay tại bề mặt Trái Đất: gồm các trạm quan trắc khí tượng trên bề mặt Trái Đất, dựa vào điều kiện địa hình mà các trạm quan trắc được bố trí trên khắp lãnh thổ, thông thường trong vòng bán kính 100km sẽ có một trạm quan trắc khí tượng bề mặt. Dụng cụ được sử dụng đo các thông số khí tượng là các bầu đo độ âm khô, ướt và âm kế điểm suong. Nguồn dữ liệu khí tượng bề mặt trên toàn câu được tập hợp trong thời gian dài có độ tin cậy cao.
Thông thường các trạm quan trắc khí tượng bề mặt được thực hiện ít nhất mỗi ngày hai lần và liên tục theo từng ngày. Do các yếu tố khí tượng càng lên cao càng thay đối, nhưng các trạm khí tượng mặt đất chỉ thu thập dữ liệu ngay tại bề mặt dưới 5m, vì vậy các yếu tố khí tượng cao trên 5m thì các trạm đo không chính xác. Do đó dữ liệu khí tượng của các Trang 4 HV: HUỲNH NGUYEN ĐỊNH QUOC LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: PGS. NGUYEN NGỌC LAU trạm mặt đất chỉ cung cấp các yếu tô khí tượng như hướng gió, độ âm, nhiệt độ bê mặt áp suất.
chính xác ngay tại bề mặt dưới độ cao 5m 1. Hệ thống đo khí tượng từ phi cơ, kinh khí cầu: Thiết bị đo khí tượng được lắp trên máy bay nghiên cứu, máy bay thương mại hoặc kinh khí cầu như hình 1. Các dụng cụ đo khí tượng gồm các âm kế điểm sương và cảm biến điện dung. Sử dụng máy bay nghiên cứu hay thương mại hoặc kinh khí cau có thé đo khí tượng ở vi trí tại thời điểm bat kỳ, cung cấp dữ liệu tại nhiều vị trí trên thế giới tốt hơn các thiết bị khác.
Tuy nhiên, việc đo đạc bằng máy bay, kinh khí cầu. rất ton kém, chi phí lớn, do đó việc thu thập dữ liệu khí tượng bị hạn chế. Ngoài ra, việc sử dụng thiết bị như máy bay thương mại, kinh khí cầu không được triển khai rộng rãi trong dân sự. Hệ thống đo khí tượng bằng bộ phận cảm biến từ xa trên mặt đất (Ground-based remote sensors): Là công cụ do không khí trên bề mặt Trái đất như hình 1.
Các bộ phận cảm biến khác nhau được sử dụng trong khí tượng mà chủ yếu là sử dụng bức xạ điện từ hoặc sóng âm. Bức xạ cảm biến được tạo ra và người nhận ở mặt đất quan sát số lượng bức xa tan xạ hoặc phản ánh trong bau khí quyền. Kết hợp với các công cụ khác, chang han như điện toán dam may radar, sodar (một công cụ khí tượng su dung hướng gió để đo sự tán xạ của sóng âm bởi sự nhiễu loạn khí quyền) có thé đưa ra một thông tin toàn diện của khí quyền. Do đó, hệ thống đo khí tượng bằng bộ phận cảm biến từ xa trên mặt đất cung cấp dữ liệu chất lượng cao.
Bên cạnh việc cung cấp dữ liệu thì giá thành cũng là một yếu tố cần phải xem xét. Ngoài yếu tố giá thành của hệ thống đất tiền, còn đòi hỏi người vận hành hệ thống phải có chuyên môn. Tuy nhiên, lúc mặt trời mọc và mặt trời lặn và trong điều kiện trời nhiều mây thì hệ thống bị hạn chế, dữ liệu thu thập không chính xác. Trang 5 HV: HUYNH NGUYÊN ĐỊNH QUOC Hình 1.3: Hệ thống đo khí tượng bang bo phan cam bién tir xa trén mat dat 1.
Hệ thong do khí tượng bang bóng thám không vô tuyến: Sử dụng qua bóng thời tiết (bên trong được bom day khí Hydro hoặc Heli) dé đưa thiết bị thám không vô tuyến chứa các senser đo độ 4m, nhiệt độ, áp suất,. lên độ cao xấp xi 30km trong khí quyền như hình 1. Trong quá trình bay lên của qua bóng thời tiết, thiết bị thám không vô tuyến vừa thu dé liệu trong khí quyén và vừa truyền dữ liệu xuống trạm thu trên mặt đất. Việc quan sát các hệ số khí tượng trong khí quyền tương đối dễ dàng.
Phuong pháp này được sử dụng từ 1930, vì vậy toàn bộ dữ liệu thu thập trong thời gian dài vẫn được sử dụng tham khảo. Mạng lưới toàn cầu của khoảng 800 trạm thực hiện ít Trang 6 HV: HUYNH NGUYÊN ĐỊNH QUOC LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: PGS. NGUYEN NGỌC LAU nhất 2 “giám sat” mỗi ngảy tại một trạm, tuy nhiên có thé tăng số lượng “giám sát” trong ngày khi có nhu cầu đặc biệt. Dữ liệu được thu thập ở tang đối lưu có độ tin cậy cao hơn đữ liệu thu ở tầng bình lưu.
Tại Việt Nam, chỉ có 3 trạm thả bóng thám không vô tuyến, chỉ “giám sát” 2 lần trong 1 ngày. Dữ liệu chi thu được khi qua bóng thời tiết vẫn còn tôn tại trên bầu trời, và việc truyền dữ liệu sẽ “tat” khi quả bóng nô. Chất lượng quan sát cũng kém tại những nơi có độ âm cao và thấp. Sự khác biệt về thiết bị cũng như cách sử dụng thiết bị giữa các quốc gia, đồng thời thiết bị được thay đổi theo thời gian, làm cho sự giải thích dữ liệu thu thập và lưu trữ gặp khó khăn.
Bóng thám không vô tuyến phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, nếu như thời tiết có gió lớn, giông bão thì số liệu thu nhận sẽ không đáng tin cậy. Ngoài ra, giá thiết bị thám không vô tuyến đắt nên để có được dữ liệu thì chi phí bỏ ra rất lớn. Vì vay, việc thả bóng không được thực hiện “thường xuyên” tại các trạm, mà chỉ thả 2 lần trên một ngày, lúc 00.00: UTC dé thu dữ liệu (tại Việt Nam), nên dữ liệu phụ thuộc vào số lần thả bóng thám không.