Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thành phố Hải Phòng là đô thị loại một trực thuộc trung ương và là một trong những trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ cảng biển trọng điểm của miền Bắc và cả nước. Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng cùng với sự gia tăng mật độ dân số và phương tiện giao thông đã tạo ra áp lực lớn đối với môi trường khí quyển đô thị. Theo số liệu của Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường được tác giả trích dẫn, ô nhiễm không khí tại Việt Nam mỗi năm liên quan đến khoảng 626 trường hợp tử vong và 1.500 ca mắc bệnh về đường hô hấp. Hải Phòng cùng với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đà Nẵng là năm địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề bởi bụi và khí độc từ hoạt động công nghiệp, xây dựng và giao thông vận tải.

Tại Hải Phòng, việc đốt cháy khối lượng lớn nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu FO, dầu DO) tại các nhà máy, cụm công nghiệp tập trung cũng như sự lưu thông của hơn 100.000 xe máy, 30.000 ô tô nội tỉnh cùng hàng nghìn lượt phương tiện liên tỉnh mỗi ngày là nguồn phát thải chính sinh ra các khí ô nhiễm độc hại như dioxit nitơ (NO2) và dioxit lưu huỳnh (SO2). Trước tình hình đó, công tác quan trắc và giám sát nồng độ các chất độc hại trong tầng khí quyển sát mặt đất là yêu cầu cấp thiết để đánh giá mức độ phơi nhiễm của cộng đồng.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Khảo sát và xác định hàm lượng khí NO2 và SO2 trong môi trường không khí tại một số địa điểm đặc trưng trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
  2. So sánh, đối chiếu kết quả đo đạc thực nghiệm với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh (QCVN 05:2009/BTNMT).
  3. Đánh giá chất lượng không khí tại các khu vực nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm không khí đô thị.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió) và hàm lượng hai khí ô nhiễm hóa học đặc trưng là NO2 và SO2 trong không khí. Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm các điểm nút giao thông có lưu lượng xe lớn, khu dân cư gần cụm công nghiệp, khu dân cư gần cơ sở chăn nuôi tập trung và khu vực sản xuất tại các quận, huyện: Hồng Bàng, Ngô Quyền, Hải An, An Dương, Vĩnh Bảo. Phạm vi thời gian quan trắc thực địa và phân tích thực nghiệm diễn ra từ tháng 10 năm 2012 đến giữa tháng 12 năm 2012.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về hóa học khí quyển, nguồn gốc phát tán và cơ chế tác động sinh học của các hợp chất oxit nitơ và oxit lưu huỳnh. NO2 là chất khí màu nâu đỏ, mùi hắc đặc trưng, có tính oxy hóa mạnh, tham gia tạo thành mù quang hóa và làm tổn thương phế nang phổi khi tiếp xúc lâu dài (ở mức 0,06 ppm đã có khả năng gây bệnh hô hấp mãn tính). SO2 sinh ra từ quá trình đốt cháy tạp chất lưu huỳnh trong nhiên liệu than và dầu, là khí không màu, mùi cay, tan trong nước tạo thành axit sunfurơ và axit sunfuric, đóng vai trò chính trong quá trình hình thành mưa axit và gây co thắt đường dẫn khí ở nồng độ trên 20–30 mg/m³.

Về phương pháp luận thực nghiệm, tác giả áp dụng phương pháp chủ động: sử dụng máy bơm hút khí để dẫn không khí môi trường qua các bình hấp thụ chứa dung dịch chuyên dụng nhằm bắt giữ các cấu tử ô nhiễm, sau đó đưa về phòng thí nghiệm tiến hành giải hấp, tạo phản ứng chỉ thị màu và đo mật độ quang trên máy quang phổ đo màu (so màu).

  • Phương pháp xác định NO2: Sử dụng phương pháp Griess-Saltzman cải biên. Không khí được hút sục qua dung dịch hấp thụ Natri hidroxit (NaOH 0,1 N) để chuyển hóa khí NO2 thành muối nitrit và nitrat: $$2\text{NO}_2 + 2\text{NaOH} \rightarrow \text{NaNO}_2 + \text{NaNO}_3 + \text{H}_2\text{O}$$ Sau đó, mẫu được axit hóa bằng axit axetic (CH3COOH 5 N) giải phóng axit nitrơ (HNO2). Axit nitrơ tham gia phản ứng diazo hóa với axit sunfanilic (thuốc thử Griess A) tạo thành muối diazoni; hợp chất này tiếp tục phản ứng ghép đôi với alpha-naphthylamin (thuốc thử Griess B) trong môi trường đệm tạo thành phức chất màu đỏ hồng. Hàm lượng NO2 được xác định bằng phương pháp trắc quang phổ hấp thụ tại bước sóng $\lambda = 540\text{ nm}$. Đường chuẩn NO2 được thiết lập trong dải nồng độ từ 0 đến 20 $\mu\text{g/m}^3$ tương ứng với độ hấp thụ quang (ABS) tăng tuyến tính từ 0 đến 0,339.

  • Phương pháp xác định SO2: Áp dụng phương pháp TCM (Tetra Chloride Mercurate / West-Gaeke) đo quang phổ so màu. Khí SO2 được hấp thụ vào dung dịch Natri dicloromercurat (Na2[HgCl4]) tạo phức chất điclosunfitmercurat bền vững: $$\text{SO}_2 + [\text{HgCl}_4]^{2-} + \text{H}_2\text{O} \rightarrow [\text{HgCl}_2\text{SO}_3]^{2-} + 2\text{H}^+ + 2\text{Cl}^-$$ Phức chất này sau đó được cho tác dụng với fomanđehyt (HCHO) cùng axit sunfamic (NH3SO3) để loại trừ ảnh hưởng của oxit nitơ, rồi cho phản ứng với phẩm màu Fuchsin kiềm (Basic Fuchsin) đã tẩy màu bằng axit clohidric để tạo thành phức pararosanilin metylsunfonic có màu tím đỏ. Mật độ quang của dung dịch màu được đo trên máy quang phổ ở bước sóng $\lambda = 560\text{ nm}$. Dung dịch chuẩn SO2 gốc được chuẩn độ lại bằng dung dịch iot 0,001 N và Natri thiosunfat (Na2S2O3). Đường chuẩn SO2 được lập trong thang nồng độ từ 0 đến 20 $\mu\text{g/m}^3$ tương ứng với độ hấp thụ quang (ABS) biến thiên từ 0 đến 0,177.

Quy chuẩn kỹ thuật tham chiếu để so sánh, đánh giá là QCVN 05:2009/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh), quy định giới hạn tối đa nồng độ trung bình 1 giờ đối với NO2 là 0,2 mg/m³ (200 $\mu\text{g/m}^3$) và đối với SO2 là 0,35 mg/m³ (350 $\mu\text{g/m}^3$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan

Chương I hệ thống hóa toàn diện các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng và bức tranh ô nhiễm không khí tại địa phương. Về mặt địa lý, Hải Phòng có đường bờ biển dài 125 km, mạng lưới sông ngòi mật độ 0,6–0,8 km/km², khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với lượng mưa trung bình 1.600–1.800 mm/năm. Đô thị này tập trung nhiều cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, hóa chất, cơ khí, cảng biển. Tác giả dẫn chứng tài liệu khảo sát của Cục Thống kê Hải Phòng cho thấy trong 3 quận nội thành có 86 nhà máy lớn và 50 cơ sở công nghiệp đốt nhiên liệu than đá; kết quả quan trắc của Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng ghi nhận nồng độ bụi tại khu vực xi măng, cao su lên tới 639 mg/m³ (vượt tiêu chuẩn 2 mg/m³ hơn 318 lần), và tại thị trấn Minh Đức (Thủy Nguyên) nồng độ bụi vượt chuẩn từ 1,2 đến 12,4 lần.

Bên cạnh đó, chương này phân tích sâu cơ chế phát sinh, tính chất hóa học và tác hại của các chất ô nhiễm không khí. Tác giả phân loại rõ nguồn tự nhiên (núi lửa, cháy rừng, phân hủy hữu cơ) và nguồn nhân tạo (quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch, rò rỉ công nghiệp, giao thông). Tác động của ô nhiễm khí được phân tích chi tiết trên các bình diện: biến đổi khí hậu (hiệu ứng nhà kính do CO2, phá hủy tầng ozon bởi freon/NOx, hiện tượng lắng đọng axit, hiện tượng phú dưỡng qua chu trình nitrat); tác hại sinh học đối với sức khỏe con người (gây phù phổi, tê liệt niêm mạc, ức chế hemoglobin); tác hại đối với động vật và thực vật (hoại tử mô lá non, phá hủy diệp lục); cũng như sự ăn mòn phá hủy vật liệu công trình xây dựng. Cuối chương, các phương pháp phân tích NO2 và SO2 (chủ động, thụ động và tự động) được khảo sát để làm tiền đề cho việc chọn lựa quy trình thực nghiệm.

Chương II: Đối tượng, mục đích, phương pháp nghiên cứu

Chương II tập trung thiết lập quy trình nghiên cứu thực địa và quy chuẩn hóa các thao tác thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. Để bảo đảm tính đại diện, mạng lưới lấy mẫu được tổ chức dựa trên nguyên lý khí tượng và hướng gió thịnh hành (hướng gió mùa Đông Bắc chiếm ưu thế trong đợt quan trắc). Tại mỗi khu vực, tác giả phân chia rõ thành ba hệ thống điểm đo:

  • Điểm nền: Đặt ở đầu hướng gió để xác định nồng độ gốc của khu vực khi chưa chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn thải cục bộ.
  • Điểm chịu tác động: Đặt trực tiếp tại trung tâm phát thải hoặc các nút giao thông nhằm ghi nhận nồng độ cực đại tức thời.
  • Điểm xu hướng: Đặt ở cuối hướng gió thịnh hành nhằm đánh giá quy luật khuếch tán và phạm vi lan truyền chất ô nhiễm theo không gian.

Chương này trình bày chi tiết công thức pha chế các hóa chất tinh khiết: dung dịch chuẩn NaNO2 (chứa 0,1 mg NO2/ml), dung dịch axit sunfanilic, dung dịch alpha-naphthylamin, dung dịch hấp thụ NaOH, dung dịch TCM, dung dịch Fuchsin kiềm tẩy màu, quy trình định phân iot và Na2S2O3 để xác định chính xác nồng độ khí SO2 gốc. Kết quả dựng thực nghiệm hai dãy đường chuẩn quang phổ cho thấy hệ số tương quan đạt độ tin cậy cao, xác lập nền tảng để tính toán nồng độ thực tế của các mẫu khí ngoài hiện trường.

Chương III: Kết quả và thảo luận

Chương III cung cấp toàn bộ các bảng số liệu trắc địa, thông số vi khí hậu và nồng độ định lượng của NO2, SO2 qua nhiều đợt quan trắc độc lập tại các địa bàn nghiên cứu.

1. Khu vực Ngã ba Sở Dầu (Quận Hồng Bàng)

Khu vực này có mật độ xe tải, xe khách và xe container qua lại dày đặc. Đợt khảo sát tiến hành 3 đợt lấy mẫu (ngày 02/11, 14/11 và 21/11/2012) tại 4 vị trí tọa độ: K1 (119 Hùng Vương: 20°52’17’’N, 106°39’12’’E), K2 (944 Tôn Đức Thắng: 20°52’15’’N, 106°39’13’’E), K3 (20 Hà Nội: 20°52’15’’N, 106°39’15’’E) là các điểm chịu tác động; K4 (816 Tôn Đức Thắng: 20°52’26’’N, 106°39’04’’E) là điểm xu hướng cuối hướng gió.

Ngày quan trắc Vị trí đo Nhiệt độ (°C) Độ ẩm (%) Tốc độ gió (m/s) Hàm lượng NO2 (mg/m³) Hàm lượng SO2 (mg/m³)
02/11/2012 K2 27 70 3,0 0,079 0,050
K3 28 66 3,6 0,073 0,059
K4 28 66 3,6 0,088 0,068
K5 (Điểm K4) 31 52 2,7 0,124 0,084
14/11/2012 K2 27 76 1,0 0,068 0,049
K3 23 78 1,7 0,082 0,055
K4 23 78 1,7 0,075 0,065
K5 (Điểm K4) 25 64 1,1 0,103 0,078
21/11/2012 K2 24 80 0,8 0,077 0,050
K3 25 89 1,1 0,087 0,059
K4 27 75 1,0 0,095 0,068
K5 (Điểm K4) 26 81 1,5 0,111 0,084
QCVN 05:2009/BTNMT - - - 0,200 0,350

Ghi chú số liệu: Trong bảng gốc của văn bản, các cột kết quả được ký hiệu thứ tự trạm lấy mẫu gồm K2, K3, K4 và điểm cuối hướng gió K5 tương ứng với vị trí K4 trên sơ đồ tọa độ.

2. Khu vực Ngã tư Big C (Quận Hải An và Ngô Quyền)

Điểm giao cắt giữa đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và đường Lê Hồng Phong có lưu lượng phương tiện cơ giới hạng nặng lớn. Tác giả bố trí 6 điểm quan trắc: điểm nền K1 (1058 Nguyễn Bỉnh Khiêm: 20°50’46’’N, 106°42’56’’E); các điểm tác động K2 (8 Lê Hồng Phong: 20°50’36’’N, 106°42’36’’E), K3 (44 Lê Hồng Phong: 20°50’40’’N, 106°42’31’’E), K4 (540 Nguyễn Bỉnh Khiêm: 20°50’37’’N, 106°42’31’’E), K5 (1166 Nguyễn Bỉnh Khiêm: 20°50’40’’N, 106°42’36’’E); và điểm xu hướng K6 (125 Nguyễn Bỉnh Khiêm: 20°50’31’’N, 106°42’08’’E). Quan trắc qua 3 đợt: 30/10, 12/11 và 16/11/2012:

Ngày đo Thông số K1 (Nền) K2 K3 K4 K5 K6 (Xu hướng) QCVN 05:2009
30/10/2012 NO2 (mg/m³) 0,056 0,093 0,087 0,101 0,115 0,164 0,200
SO2 (mg/m³) 0,029 0,060 0,066 0,071 0,080 0,089 0,350
12/11/2012 NO2 (mg/m³) 0,048 0,089 0,083 0,097 0,111 0,160 0,200
SO2 (mg/m³) 0,031 0,056 0,071 0,069 0,086 0,100 0,350
16/11/2012 NO2 (mg/m³) 0,042 0,069 0,072 0,082 0,091 0,128 0,200
SO2 (mg/m³) 0,027 0,050 0,058 0,062 0,074 0,085 0,350

3. Khu vực dân cư gần khu chăn nuôi tập trung (Xã Vĩnh An, Huyện Vĩnh Bảo)

Quan trắc thực hiện ngày 23/11/2012 trong điều kiện trời nắng, gió Nam. Hệ thống điểm đo gồm: K1 (đường giao thông liên xóm Kiến Thiết: 20°43’14’’N, 106°30’46’’E - điểm đầu hướng gió); K2 (đường giao thông liên xóm Thiết Tranh: 20°43’25’’N, 106°30’43’’E); K3 (khu vực trại lợn: 20°43’34’’N, 106°30’43’’E); K4 (khu vực xóm dân mới: 20°43’41’’N, 106°30’44’’E - điểm cuối hướng gió).

Các điểm khảo sát tiếp theo theo kế hoạch đề cương khóa luận gồm khu dân cư gần khu công nghiệp tại xã An Hưng (huyện An Dương), khu dân cư gần các công ty tại ngã tư ắc quy và môi trường không khí trong khu vực sản xuất (phân xưởng vỏ 3).

Kết quả và đóng góp

Về mặt dữ liệu định lượng, kết quả phân tích nồng độ khí tại các nút giao thông trọng điểm ghi nhận:

  1. Tại khu vực Ngã ba Sở Dầu: Nồng độ NO2 dao động từ 0,068 đến 0,124 mg/m³; nồng độ SO2 dao động từ 0,049 đến 0,084 mg/m³.
  2. Tại khu vực Ngã tư Big C: Nồng độ NO2 tại điểm nền K1 thấp nhất (0,042–0,056 mg/m³), tăng dần qua các điểm trung tâm nút giao (0,069–0,115 mg/m³) và đạt giá trị cao nhất tại điểm xu hướng cuối hướng gió K6 (0,128–0,164 mg/m³). Nồng độ SO2 biến thiên tương tự, đạt từ 0,027–0,031 mg/m³ ở điểm nền và tăng lên 0,085–0,100 mg/m³ ở điểm cuối hướng gió.
  3. So sánh quy chuẩn: Toàn bộ các giá trị nồng độ NO2 và SO2 đo đạc được tại các vị trí khảo sát trong các đợt quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 05:2009/BTNMT (thấp hơn ngưỡng giới hạn 1 giờ là 0,2 mg/m³ đối với NO2 và 0,35 mg/m³ đối với SO2).

Về mặt đóng góp chuyên môn, khóa luận đã:

  • Thiết lập thành công chuỗi thao tác thực nghiệm phân tích trắc quang chuẩn mực cho hai thông số NO2 và SO2, hoàn thiện quy trình từ khâu lấy mẫu hiện trường theo hướng gió thịnh hành đến khâu xử lý hóa chất phân tích trong phòng thí nghiệm.
  • Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm nguyên bản kèm tọa độ định vị GPS chính xác của các điểm lấy mẫu tại Hải Phòng vào quý IV năm 2012.
  • Chứng minh rõ ràng quy luật lan truyền và tích lũy nồng độ khí ô nhiễm theo chiều gió: nồng độ các chất ô nhiễm tăng dần từ điểm nền đầu hướng gió, qua điểm tác động và tích tụ đạt giá trị cao nhất ở điểm cuối hướng gió.

Các giải pháp và kiến nghị được tác giả định hướng bao gồm: tiếp tục tăng cường mạng lưới kiểm soát và quan trắc chất lượng không khí định kỳ; yêu cầu các cơ sở công nghiệp đổi mới công nghệ và vận hành nghiêm túc hệ thống xử lý khí thải; điều tiết phân luồng giao thông hợp lý tại các nút giao cắt lớn nhằm hạn chế tình trạng ùn tắc cục bộ gây gia tăng phát thải khí độc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn thực tế do điều kiện nghiên cứu của sinh viên:

  • Phạm vi thời gian quan trắc chỉ diễn ra trong thời gian ngắn (từ tháng 10/2012 đến giữa tháng 12/2012), tương ứng với điều kiện thời tiết mùa đông miền Bắc (gió Đông Bắc thịnh hành, độ ẩm thay đổi lớn), chưa phản ánh được sự biến động theo mùa (đặc biệt là mùa hè nắng nóng với bức xạ nhiệt cao kích thích các phản ứng quang hóa).
  • Nghiên cứu tập trung giải quyết hai chỉ tiêu hóa học đơn lẻ là NO2 và SO2, chưa tích hợp đo đạc đồng thời các thông số ô nhiễm quan trọng khác như bụi lơ lửng (TSP, PM10), cacbon monoxit (CO) hoặc hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) tại cùng một thời điểm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng tần suất đo, quan trắc bổ sung vào các mùa khác nhau trong năm và ứng dụng các trạm quan trắc tự động liên tục để ghi nhận đầy đủ chu kỳ biến thiên ngày - đêm của các chất ô nhiễm không khí.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường, Khoa học Môi trường và Quản lý Môi trường khi thực hiện các đồ án chuyên ngành, khóa luận tốt nghiệp về quan trắc chất lượng không khí đô thị.
  • Kỹ thuật viên phòng thí nghiệm môi trường: Phần mô tả quy trình thực nghiệm ở Chương II là hướng dẫn chi tiết về kỹ thuật pha chế hóa chất, xây dựng đường chuẩn trắc quang xác định NO2 bằng phương pháp Griess-Saltzman cải biên và xác định SO2 bằng phương pháp TCM.
  • Cán bộ quản lý môi trường địa phương: Cung cấp tài liệu tra cứu về tọa độ vị trí và số liệu nền vi khí hậu, nồng độ NO2, SO2 tại các nút giao thông lớn (Ngã ba Sở Dầu, Ngã tư Big C) của thành phố Hải Phòng trong giai đoạn năm 2012.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng quy chuẩn môi trường nào để đánh giá nồng độ NO2 và SO2? Khóa luận căn cứ vào Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh, ký hiệu QCVN 05:2009/BTNMT. Nồng độ giới hạn trung bình trong 1 giờ được áp dụng để đối chiếu là 0,2 mg/m³ đối với khí NO2 và 0,35 mg/m³ đối với khí SO2.

2. Nguyên tắc hóa học của phương pháp Griess-Saltzman cải biên xác định NO2 trong khóa luận là gì? Khí NO2 được hấp thụ bằng dung dịch kiềm NaOH 0,1 N tạo ra muối nitrit (NaNO2). Khi axit hóa bằng axit axetic (CH3COOH 5 N), axit nitrơ (HNO2) sinh ra sẽ phản ứng với axit sunfanilic (thuốc thử Griess A) tạo muối diazoni, sau đó muối này kết hợp với alpha-naphthylamin (thuốc thử Griess B) tạo phức màu đỏ hồng. Nồng độ chất được xác định bằng cách đo mật độ quang ở bước sóng 540 nm trên máy quang phổ đo màu.

3. Tại sao trong phương pháp TCM xác định SO2 lại cần sử dụng axit sunfamic? Trong quy trình phân tích khí SO2 bằng dung dịch Natri dicloromercurat (TCM), hỗn hợp fomanđehyt và axit sunfamic (NH3SO3 12 g/l) được bổ sung nhằm mục đích loại trừ sự cản trở của các oxit nitơ có trong mẫu khí trước khi tiến hành phản ứng tạo màu với phẩm Fuchsin kiềm.

4. Xu hướng biến đổi nồng độ NO2 và SO2 tại khu vực Ngã tư Big C diễn ra như thế nào? Tại Ngã tư Big C, nồng độ khí thể hiện rõ quy luật phát tán theo hướng gió Đông Bắc: thấp nhất tại trạm K1 đặt ở đầu hướng gió làm điểm nền (NO2 từ 0,042–0,056 mg/m³; SO2 từ 0,027–0,031 mg/m³), tăng dần tại các trạm K2, K3, K4, K5 ở trung tâm ngã tư và đạt nồng độ cao nhất tại trạm K6 đặt ở cuối hướng gió làm điểm xu hướng (NO2 từ 0,128–0,164 mg/m³; SO2 từ 0,085–0,100 mg/m³).

5. Kết quả quan trắc thực tế tại Ngã ba Sở Dầu và Ngã tư Big C có vượt tiêu chuẩn quốc gia không? Trong tất cả các đợt quan trắc thực hiện vào tháng 10 và tháng 11 năm 2012, nồng độ của cả NO2 và SO2 tại Ngã ba Sở Dầu và Ngã tư Big C đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 05:2009/BTNMT, chưa ghi nhận trường hợp nào vượt ngưỡng quy chuẩn 1 giờ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Ngọc đã khảo sát thực nghiệm thành công hàm lượng hai khí ô nhiễm đặc trưng là NO2 và SO2 tại các khu vực trọng điểm trên địa bàn thành phố Hải Phòng vào cuối năm 2012. Bằng việc ứng dụng chuẩn xác phương pháp hấp thụ hóa học kết hợp đo quang phổ so màu (Griess-Saltzman cải biên và TCM), nghiên cứu đã xác định được nồng độ thực tế của các chất ô nhiễm và chứng minh nồng độ này vẫn nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 05:2009/BTNMT. Dữ liệu thực nghiệm của đề tài phản ánh rõ quy luật tích tụ chất ô nhiễm theo hướng gió thịnh hành, tạo nguồn cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy phục vụ công tác giám sát chất lượng không khí đô thị.