Đặt vấn đề Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33,12 triệu ha, trong đó diện tích có rừng là 12,61 ha và 6,16 triệu ha đất trống đồi núi trọc là đối tượng của sản xuất nông- lâm nghiệp. Như vậy, nghành Lâm nghiệp đã và đang thực hiện hoạt động quản lý và sản xuất trên diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinh tế quốc dân. Theo chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 cần phải thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu ha đất được quy hoạch cho lâm nghiệp; nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42 - 43% vào năm 2010 và 47% vào năm 2020 (Bộ NN và PTNT) [1]. Để đạt được những mục tiêu kể trên cần nâng cao diện tích rừng trồng hiện có, công tác chọn giống cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên và mục đích kinh doanh là rất cần thiết.
Hiện nay, nước ta đã và đang đưa vào một số loại cây trồng Lâm Nghiệp như Bạch đàn, Keo, Mỡ, Lát… trong đó phổ biến là loài Keo. Keo (Acasia spp) là loài cây ưa sáng sinh trưởng nhanh, có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc rất tốt, cho sản phẩm là gỗ. Trong các loài Keo gây trồng thì keo tai tượng là tỏ ra vượt trội. Trung bình 1ha diện tích keo tai tượng cho thu hoạch từ 70 - 100m3 gỗ, thu nhập khoảng 70 triệu đồng/ha.
Quá trình trồng thử nghiệm cũng cho thấy, keo tai tượng có khả năng cải tạo đất rất tốt, đồng thời sinh trưởng, phát triển nhanh, dễ chăm sóc, chu kỳ kinh doanh ngắn (chu kỳ 15 năm, 7 năm sau khi trồng có thể thu hoạch). Sản phẩm gỗ từ keo tai tượng được dùng chủ yếu cho công nghiệp giấy, ván dăm, đồ gỗ xây dựng và đồ gỗ mỹ nghệ. Một ưu điểm nữa rất đáng chú ý, rừng keo tai tượng khó bị cháy hơn các loại rừng cây khác, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ rừng. Tuy nhiên, trong quá trình sinh trưởng rất dễ bị các loài côn trùng gây hại.Trong số đó mối là có sức tàn phá lớn nhất, có thể gây chết hàng loạt cây con và cây trưởng thành khỏe mạnh.
Mối thuộc họ cánh bằng (Isoptera) lớp côn trùng (Isecta), là nhóm côn trùng đa hình thái, sống dạng tập đoàn và có tổ chức cao. Do mối hết sức đa n 2 dạng về thành phần loài, nên tại mỗi vùng địa lý, chủng loại mối gây hại keo rất khác nhau dẫn đến các đặc điểm gây hại của chúng cũng có nhiều khác biệt. Ở Nam Mỹ, các loài mối gây hại chủ yếu thuộc các giống Syntermes, Procormes, Cornitermes, Heterotermes. Loài mối gây hại mạnh nhất là Syntermes, với khả năng gây chết tới 70% bạch đàn non tại một số vùng.
Ở Australia, hầu hết các diện tích rừng trồng keo phải áp dụng các giải pháp kỹ thuật để phòng các loài mối thuốc giống Mastotermes tấn công. Tại khu vực Đông Nam Á, loài mối Coptotermes curvignathus gây hại nặng là bạch đàn, keo, thông và cao su.Tại Việt Nam, theo thông tin từ hội nông dân Bắc Giang (2010) mối hại rừng trồng bạch đàn, keo lai dưới 12 tháng tuổi, tỷ lệ cây chết trung bình 20-30%, có nơi tới 60-80% [17]. Toàn tỉnh Thái Nguyên sau 3 năm thực hiện Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015 đã trồng được 36.400 ha rừng keo tai tượng. Được đánh giá là loại cây phù hợp với thổ nhưỡng khí hậu, lại có giá trị kinh tế cao, trồng keo tai tượng đã trở thành phong trào rộng lớn của đồng bào có đất rừng nơi đây.
Được triển khai từ đầu năm 2008, đến nay, cả tỉnh đã trồng được 36.400ha rừng keo tai tượng, tập trung ở các huyện Định Hóa với 2.800ha, Đại Từ 2.900 ha, Phú Lương 2.500ha… Keo tai tượng được Sở NN và PTNT tỉnh Thái Nguyên đánh giá là loại cây có giá trị kinh tế cao, phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu và đưa vào trồng đại trà trên toàn tỉnh (http://www. Tuy nhiên, các rừng Keo ở đây đã không thể tránh khỏi sự phá hoại của các loài mối. Nhiều khu rừng tỷ lệ nhiễm mối đã lên đến 15- 20%, một số cây Keo mới trồng bị chết khô do mối ăn hết phần hệ rễ. Xuất phát từ thực tế nói trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Khảo nghiệm một số loại thuốc hóa học và vật liệu làm mồi nhử mối hại rừng trồng keo thuộc xã Yên Lạc, Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu Thông qua việc đánh giá mức độ mối gây hại và thử nghiệm một số loại thuốc hóa học, vật liệu làm mồi nhử mối ở rừng trồng keo xã Yên Lạc, huyện n 3 Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nhằm giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất, chất lượng tốt đáp ứng mục tiêu kinh doanh của con người.3 Mục tiêu của đề tài - Đánh giá mức độ gây hại của mối ở rừng keo tại khu vực nghiên cứu. - Đánh giá được hiệu quả của một số loại thuốc hóa học và vật liệu làm mồi nhử mối. - Đề xuất được một số biện pháp phòng, trừ mối hại keo thuộc Xã Yên Lạc, Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận với thực tế, củng cố thêm những kiến thức kỹ năng đã được trang bị đồng thời có cơ hội vận dụng chúng vào thực tế. - Nắm vững được các phương pháp điều tra mối hại ở rừng trồng.2 Ý nghĩa trong thực tiễn và sản xuất - Nắm vững cách sử dụng một số loại thuốc hóa học và vật liệu làm mồi nhử mối ở rừng trồng.
- Học tập, hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kĩ thuật được áp dụng tại địa phương. - Rèn luyện kĩ năng làm việc, kĩ năng tiếp xúc với người dân và kĩ năng nghiên cứu đề tài khoa học. - Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương trong quá trình phòng trừ mối hại rừng trồng. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Côn trùng là lớp động vật phong phú nhất trong giới động vật, nếu so sánh thì các loài côn trùng đã chiếm tới hơn một phần ba tổng số loài sinh vật trên hành tinh.
Tuy nhiên loài côn trùng chúng ta chưa biết hãy còn nhiều. Trong số những tài liệu nghiên cứu về động vật học hằng năm trên thế giới thì tài liệu về côn trùng học đã chiếm hơn một nửa (Chu Thị Thơm và cs, 2006) [10]. Sinh thái học côn trùng là môn khoa học nghien cứu đặc tính sinh học, sinh thái học của các loại côn trùng nhằm nắm được đặc điểm hình thái, tập tính sống của mỗi loài côn trùng. Trên cơ sở đó ứng dụng thực tiễn vào sản xuất, trồng rừng phát huy được những lợi ích và hạn chế được những tác hại của các loại côn trùng, đồng thời nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trừ hợp lý đối với từng loại côn trùng có hại như: Biện pháp sinh học, biện pháp cơ giới vật lý, biện pháp phòng trừ tổng hợp…nhằm ngăn chặn những thiệt hại do côn trùng gây ra ( Phạm Bình Quyền, 2006) [9].
Mối (Isoptera) thuộc nhóm côn trùng xã hội, có sự phân hóa cao về hình thái và chức năng.Trong mỗi tổ mối, tùy theo từng loài, có từ vài trăm con đến vài chục triệu con, bao gồm loại mối sinh sản (Mối Chúa, Mối Vua và mối giống), loại mối không sinh sản (Mối lính, Mối thợ). Là loại côn trùng ưa nhiệt, chỉ xuất hiện ở các vùng nhiệt đới cho nên Việt Nam hoàn toàn nằm trong vùng phân bố của mối (Lê Văn Triển và cs,1998) [11]. Trong Lâm nghiệp, mối là mắt xích quan trọng trong việc chuyển hóa tàn dư thực vật, làm tăng độ mùn cho đất, đồng thời cũng là thức ăn cho nhiều loài động vật khác sống trong rừng. Bên cạnh mặt tích cực đó mối là dịch hại lớn đối với rừng trồng đặc biệt là đối với cây con.
Mối thường hại nặng cây con trong mùa khô, mối tập trung hại ở những nơi có độ ẩm đất 50-60%, có nhiều sản phẩm thực vật bán hoai mục như thân, lá cây khô, rễ cây mục nát… (là thức ăn ưa thích của mối) vì thế những nơi có rừng gỗ già không khai thác, rừng bị đốt nương làm rẫy là điều kiện thuận lợi cho mối tập trung với mật độ cao. n 5 Ở rừng cây mới trồng dưới 1 tháng tuổi, mối cắn gốc thân và rễ. Ở rừng cây lớn, mối cắn rễ và vỏ thân tạo những đường hầm xung quanh thân làm cây héo, chết. Mối thường gây hại trên rừng mới trồng thay thế rừng nghèo kiệt.
Mối chủ yếu gây hại trên rừng trồng bằng cây con gieo ở vườn ươm. Chúng ít gây hại trên rừng trồng tái sinh hạt. Tỷ lệ gây hại trung bình khoảng 20-30%, có nơi lên đến 70%. Trong vườn ươm, Mối chủ yếu tấn công hạt hoặc hom giống, làm ảnh hưởng không nhỏ tới sinh trường của cây con, giảm chất lượng của cây giống.Theo tài liệu của tổ chức UNEP/FAO mối hại rừng trồng bạch đàn và Keo ở Canada, Nam Mỹ, Australian, Đài Loan, Philippines… với tỷ lệ mối hại cây non khoảng 34- 50%, có nơi tới 100% [21].
Qua kiểm tra thực tế tại xã Krong Nô, Daklak có 568 cây chết/2600 cây, chiếm tỷ lệ 22% (Báo DakLak điện tử ngày 4/11/2009) [16]. Trong một nghiên cứu mới đây, Tiến sĩ Scotter Terner, Đại học Pullic Syracuse, New York đã đưa ra giả thuyết cho rằng trong quá trình ăn, cơ thể của loài Mối chuyển đổi thức ăn được hấp thụ thành Cacbonic và khí mêtan. Đây là hai loại khí chính gây ra hiệu ứng nhà kính ngày nay. Những nghiên cứu trên thế giới 2.
Tình hình nghiên cứu khu hệ, đặc điểm sinh học, sinh thái học của mối.Tình hình nghiên cứu khu hệ mối Công trình nghiên cứu của Hagen (1858) được coi là công trình đầu tiên có tính hệ thống học về Mối trên thế giới (dẫn theo Nguyễn Đức Khảm (1976) [3]. Kể từ đó các công trình nghiên cứu về các loài Mối bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Wasmann (1893) đã phân loại và tìm hiểu sinh học cá thể của các loại Demani, Termes azarelli, Termes feaea và Termes xennotera ở India và Ceylon trong khu hệ mối Đông Phương. Theo tài liệu của Emerson (1952) trên thế giới đã phát hiện được 1855 loài mối trong đó 1762 loài mối hiện nay đang tồn tại và ước có 93 loài hóa thạch.
Giai đoạn nửa sau thế kỉ XX đến nay, các nghiên cứu về mối phát triển mạnh mẽ dựa trên công trình của Emerson.