PHAOLÔ NGUYỄN QUỐC HƯNG TRIẾT HỌC VỀ TỰ NHIÊN ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE SAIGON 2022-2023 BIÊN SOAN DỰA THEO GIÁO TRÌNH Philosophy of Nature William A. Mục lục BÀI 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN. Vài điểm nhấn lịch sử. Cách thức chúng ta biết sự vật.
Nhận thức của cảm giác. Nhận thức của trí năng (intellectual knowledge). Các loại khái niệm cơ bản. Khái niệm tự nhiên.
Khái niệm toán học. Khái niệm siêu hình học. Những khái niệm luận lý. Các khả thuộc tính hay khả thích dụng (Predicables).
Khoa học và triết học. Suy lý khoa học (scientific reasoning). Phép hồi quy luận chứng. 23 BÀI 2: TỰ NHIÊN – CHIỀU KÍCH BÊN TRONG.
Khái niệm về tự nhiên. Mẫu thức nguyên nhân hay mô hình nguyên nhân (the causal model). Chất thể như tự nhiên tính. Mô thể như tự nhiên tính.
Tự nhiên như tác nhân. Tự nhiên như cùng đích. Chiều kích bên trong. Cá thể tự nhiên .43 BÀI 3: CÁC TÀI NĂNG CỦA TỰ NHIÊN VÀ CÁC KIỂU LOẠI TỰ NHIÊN.
Các tài năng của bản tính con người. Sự mô hình hóa tự nhiên. Những vật thể cơ bản (elemental bodies). Mô hình hóa một bản tính vô cơ.
Tiền chất thể - Chất nền tối hậu (the ultimate substrate). Mô hình hình tượng. Mô thể chất vô cơ. Hợp chất hoá học.
Tính phóng xạ tự nhiên. 64 BÀI 4: THUỘC TÍNH CỦA TỰ NHIÊN – BIẾN DỊCH HOẶC THAY ĐỔI. Các bản tính thực vật. Những bản tính động vật.
Biến dịch hoặc thay đổi. Định nghĩa đầu tiên của Aristot về biến dịch. Một số thí dụ về biến dịch. Định nghĩa thứ hai về biến dịch.
Hoạt tính và thụ tính (action and reception). Các chủ thể của hoạt tính và thụ tính. Khoảng cách phải vượt qua. 85 BÀI 5: CÁC THƯỚC ĐO TỰ NHIÊN–VỊ TRÍ VÀ THỜI GIAN.
Khái niệm nơi chốn. Định nghĩa của Aristot về nơi chốn. Nơi chốn trong vũ trụ, cũ và mới. Khái niệm về không gian.
Khoảng trống và chân không (voids and vacuums). Khái niệm về thời gian. Thể liên tục (continuum). 101 5 Triết học tự nhiên 8.
Sự tồn tại của thời gian và biến dịch .104 BÀI 6: ĐỘNG CƠ ĐỆ NHẤT KHÔNG BỊ ĐỘNG CỦA TỰ NHIÊN. Đệ nhất lộ của Aquinô (prima via). Nguyên lý nhân quả của động cơ. Tính hiệu lực đối với thời nay.
Ba thí dụ về chuyển động vị trí. Nguyên nhân và chất thể. Phản bác của chính Aquinô. Đệ nhất động cơ không bị động.
129 BÀI 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Vài điểm nhấn lịch sử Triết học về tự nhiên là ngành cổ xưa nhất của triết học nên có thể được xem là phần dẫn nhập thích hợp cho môn học này. Triết học tự nhiên bắt đầu từ thế kỷ V TCN khi các triết gia ở Ionie, đặc biệt là Thales thành Milet, tìm hiểu về chất liệu cơ bản của vũ trụ, nghĩa là vật chất (matter) ở dạng (form) nguyên thủy nhất. Họ đồng nhất chất liệu cơ bản này với bản tính (nature) của các sự vật.
Platon có cách tiếp cận khác khi ông xem mô thể/thức (form) là bản tính của sự vật, là đặc tính phân biệt vạn vật. Platon giả định những mô thức lý tưởng, tồn tại ở một vùng trời nào đó tách biệt khỏi trái đất, và cho rằng những mô thức trên trái đất tham dự cách nào đó vào những mô thức lý tưởng kia. Đến thế kỷ IV TCN, Aristote, học trò của Platon, đã kéo cái mô thức từ trời của Platon xuống và đặt nó trong chính sự vật đồng thời khẳng định đó mới là nơi mô thể thực sự tồn tại. Tổng hợp hai quan điểm trên, Aristote cho rằng, cả chất thể và mô thể mới giải thích thỏa đáng bản chất của tự nhiên.
Aristốt trình bày học thuyết này trong tác phẩm Phusika (Vật lý học) là tác phẩm lâu đời nhất trong lịch sử triết học. Phusica thu hút sự chú ý của người Hy Lạp cho đến thế kỷ VI của kỷ nguyên Kitô Giáo, rồi được người Hồi giáo nghiên cứu cho đến thế kỷ XII. Vào thế kỷ XIII thời Trung cổ và thời Phục Hưng, nó được tìm hiểu trở lại trong các đại học Tây phương. Tại đây mọi sinh viên đều phải học môn học này, và yêu cầu đó còn kéo dài cho mãi đến thế kỷ XVII.
Nội dung chính yếu trong giáo trình này bắt nguồn từ tác phẩm Vật lý của Aristot, đồng thời được khai triển và minh họa bằng những khám phá của khoa học từ thế kỷ XVII cho đến khoa học hiện đại. Ta có bảng đối chiếu đầu tiên 1.1 cho thấy sự tương ứng giữa các tựa đề bài giảng ở đây và những vấn đề nghiên cứu trong 8 cuốn thuộc bộ sách Physics của Aristot: 7 Triết học tự nhiên Tựa đề bài học Vật Lý học Aristot 1. Những khái niệm cơ bản Cuốn I 2. Tự nhiên: Chiều kích bên trong Cuốn II 3.
Các tài năng của tự nhiên và các loại Cuốn II (+ De anima, tự nhiên v. Thuộc tính của tự nhiên: di chuyển Cuốn III hoặc thay đổi 5. Các thước đo tự nhiên: vị trí và thời Cuốn IV-VI gian 6. Động cơ đệ nhất không bị động Cuốn VII và VIII 2.
Cách thức chúng ta biết sự vật Aristot bắt đầu cuốn Vật lý với một phát biểu khó hiểu: trong triết học tự nhiên chúng ta phải đi từ điều chúng ta biết nhiều hơn đến điều tự nhiên biết nhiều hơn về chính nó hay điều khả tri hơn trong chính nó. Việc giải mã lời phát biểu này sẽ cho phép chúng ta giải thích vài khái niệm liên quan đến nhận thức luận, là những hiểu biết cần thiết cho nghiên cứu của chúng ta. Qua phát biểu này Aristot muốn nói rằng ta nhận thức thế giới tự nhiên qua các giác quan hay từ những kinh nghiệm cảm giác của mình, đó là thứ nhận thức hiển nhiên hơn đối với ta. Nhưng có thứ nhận thức sâu xa hơn qua tâm trí (mind) hay trí năng (intellect).
Nhận thức này vượt khỏi những nhận thức riêng lẻ do giác quan mang lại để đạt tới cái phổ quát (universal). Tuy cái phổ quát kém hiển nhiên với ta, nhưng nhờ đó, trí khôn ta có thể vượt qua cái bề ngoài mà sự vật phô diễn ra cho giác quan của ta, để nắm bắt bản tính của sự vật như nó là trong chính nó. Như vậy việc nhận thức bao gồm hai tiến trình. Nhận thức của cảm giác Theo học thuyết của Aristot về nhận thức, chẳng có gì hiện diện trong trí khôn mà trước hết không ở trong giác quan, nghĩa là chúng ta đạt tới nhận thức của trí khôn qua kinh nghiệm cảm giác.
Bài 1: Những khái niệm cơ bản 8 Nhận thức của giác quan về thế giới tự nhiên được đạt tới qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu được thực hiện bởi các cơ quan cảm giác – mắt, tai, mũi, miệng và da – được gọi là các giác quan bên ngoài bởi vì chúng ở phần ngoài của cơ thể. Khi được kích thích cách thích đáng, mỗi cơ quan cảm giác này tạo ra trong ta một cảm giác riêng tương ứng: nhìn, nghe, ngửi, nếm và chạm. Tiếp đến là giai đoạn hai được những giác quan ở bên trong thân thể thực hiện.
Để đơn giản hóa, có thể xem những giác quan bên trong được làm nên bởi 3 thành phần: giác quan trung tâm (central sense) hay giác quan thống nhất (unifying sense), trí nhớ (memory) và trí tưởng tượng (imagination). Cả ba có đặc điểm chung là chúng liên quan đến điều mà chúng ta gọi là thụ giác hay tổng giác (percept) chứ không liên quan đến cảm giác (sensation), như các giác quan bên ngoài. Thụ giác hay tổng giác là một hình ảnh giác quan thống nhất, một sự kết hợp các cảm giác do những giác quan bên ngoài mang lại. Thụ giác được tạo ra bởi giác quan bên trong đầu tiên, tức là giác quan trung tâm hay giác quan thống nhất.
Giác quan này thu nhận các cảm giác rồi hợp nhất chúng lại thành một họa ảnh đơn nhất phức hợp (singular composite representation), là thụ giác (percept), và quá trình đó gọi là sự tri giác (perception). Chẳng hạn, trong kinh nghiệm cảm giác, tôi tri giác một trái táo. Đây là một trái táo cá thể (individual), lớn, đỏ, mát lạnh. Tất cả những cảm giác này, và có thể nhiều cảm giác khác nữa, kết hợp với nhau thành một thụ giác đơn nhất nhờ đó tôi tri giác được một trái táo đặc thù.
Ngoài giác quan trung tâm, giác quan bên trong còn bao gồm trí nhớ và trí tưởng tượng. Khi đã tri giác được một trái táo, thì dù không có trái táo đó trước mặt, tôi vẫn có thể tái tạo lại những yếu tố làm nên cái thụ giác đặc thù như nó đã là trong quá khứ, và như thế tôi nhớ lại trái táo đó. Hoặc, tôi có thể tưởng tượng ra nó. Tôi có thể tưởng tượng ra một trái táo như trước đây tôi biết, hay tôi có thể thêu dệt thêm những chi tiết lạ lùng, chẳng hạn, tưởng tượng ra một trái táo bằng vàng.
Khi dùng ba giác quan bên trong này chúng ta tạo nên cái gọi là kinh nghiệm cảm giác (sense experience). Đây chính là sự tích 9 Triết học tự nhiên lũy của trí nhớ về tất cả những thụ giác mà chúng ta đã nếm trải trong cuộc sống. Đó là một kho lưu trữ thông tin khổng lồ từ đó trí khôn chúng ta có thể rút ra sử dụng. Nhận thức của trí năng (intellectual knowledge) Nhận thức của trí năng hoàn toàn khác với nhận thức của cảm giác.
Điều mà trí năng thực hiện là tác động lên những kinh nghiệm cảm giác rồi từ đó rút ra những phương diện khả tri khác nhau của sự vật, cho chúng ta biết thực sự sự vật là gì. Nói rõ hơn, tiến trình đó diễn ra qua hai bước: trước hết trí năng tập chú vào thụ giác (percept), soi sáng cho thụ giác, sau đó từ thụ giác rút ra một nội dung khả tri hay khả niệm (intelligible content) được gọi là khái niệm (concept). Bước thứ hai này được gọi là sự tách ra hay trừu tượng hóa. Như đã giải thích, thụ giác xuất phát từ cảm giác là một hình ảnh cụ thể và đơn lẻ của sự vật được tri giác.
Khái niệm, đối lập với thụ giác, thì trừu tượng và phổ quát, cho ta một ý tưởng về điều chúng ta đã tri giác.