mở đầu cho kỷ nguyên tính toán lượng tử. Sau khi các hiệu ứng viễn tải và thuật toán phân tích một số tự nhiên lớn ra các thừa số nguyên tố được tìm ra, tính toán lượng tử đã phát triển như vũ bão, hiện đang là đề tài nóng hổi trong vật lý lý thuyết, hứa hẹn những ứng dụng lớn lao tạo ra cuộc cách mạng tin học mới trong thế kỷ XXI. Đơn vị tính toán trong thông tin lượng tử là qubit (bit lượng tử), một hệ hai trạng thái bất kỳ mà để liên hệ với tin học cổ điển, người ta thường ký hiệu 2 chúng là 0 và 1. Trong khuôn khổ lý thuyết lượng tử, chúng có thể ở trong trạng thái chồng chập lượng tử, tức là tổ hợp tuyến tính của hai trạng thái 0 và 1.
Như vậy qubit có cả một continuum trạng thái giữa 0 và 1. Người ta có thể thực hiện qubit qua các hệ vật lý cụ thể như hai trạng thái phân cực của photon, có thể nhờ hai hình chiếu spin của một electron. Máy tính lượng tử quy mô lớn sẽ có khả năng giải được các vấn đề phức tạp một cách nhanh hơn bất kỳ một máy tính cổ điển sử dụng các thuật toán tốt nhất hiện nay. Ta xét một hệ phức hợp đơn giản nhất là hệ hai qubit.
Trong các trạng thái chồng chất, tồn tại một tập con không thể phân ra được tích tenxơ của hai trạng thái mô tả các hệ con thành phần. Trạng thái kiểu này được gọi là các trạng thái đan rối. Tính chất đan rối của hệ đóng vai trò vô cùng quan trọng, nếu trạng thái của hệ là đan rối thì khi đọc qubit riêng biệt này được hai kết quả với cùng xác suất thì nếu ta đo qubit thứ hai cũng luôn thu được kết quả như qubit thứ nhất (thậm chí ở khoảng cách rất xa nhau). Tính chất đan rối của hệ được ứng dụng trong các giao thức lượng tử như mật mã lượng tử, viễn tải lượng tử.
Hiệu ứng này, được khẳng định bởi quan sát thực nghiệm, cũng gây ra sự thay đổi nhận thức rằng thông tin về một vật thể chỉ có thể thay đổi bằng tương tác với các vật ngay gần nó. Einstein đã gọi hiện tượng này là một tác động ma quái ở khoảng cách (spooky action at a distance). Một lớp các trạng thái đan rối này được gọi là các trạng thái Bell. Những tương quan phép đo trong một trạng thái Bell là lớn nhất trong những tương quan giữa các hệ cổ điển.
Như vậy tính chất đan rối của hệ lượng tử đóng vai trò tiên quyết trong việc cài đặt các thuật toán lượng tử, tiến tới thực hiện một máy tính lượng tử trong tương lai với những khả năng tính toán mà không một máy tính hiện thời nào thực hiện được. Có nhiều hệ vật lý thực hiện qubit, chẳng hạn như: hệ hai phân cực khác nhau của một photon, hai trang thái của điện tử trong nguyên tử, hướng spin hạt nhân trong từ trường… Hệ cài đặt qubit tốt nhất là hệ hai phân cực khác nhau của một photon. Trước đây photon được coi là khó nắm bắt, khó giam 3 cầm nhất vì đặc thù của nó là không khối lượng, chuyển động với vận tốc ánh sáng. Tuy nhiên, hiện nay người ta đã có thể nắm bắt, quan sát được chúng.
Ngoài ra mọi các hệ lượng tử có hai trạng thái đều có thể là một hệ thực hiện qubit. Vấn đề đặt ra là ta phải cài đặt hệ vật lý như thế nào để tạo ra được các trạng thái hai qubit có độ đan rối cao nhất trong trường hợp có mất mát (có tính đến sư tiêu hao, tiêu tán) bởi vì các trạng thái đan rối thường có thời gian tồn tại ngắn do sự phá vỡ lượng tử. Vì vậy, trong luận văn này đề tài: “Kéo lượng tử hai chiều sinh ra các trạng thái hai qubit có độ đan rối cao khi có mất mát” đã được lựa chọn, một đề tài mang tính thời sự cao và có nhiều ứng dụng tiềm tàng, được thực hiện trên một hệ vật lý cụ thể có thể tạo ra nguồn tài nguyên đan rối cho tính toán lượng tử, đó là hệ các dao động tử kiểu Kerr. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra các trạng thái hai qubit kiểu Bell – trạng thái có độ đan rối cao nhất bằng việc dùng kéo lượng tử, một phương pháp cắt không gian Hilbert từ vô hạn chiều xuống số chiều thấp, tạo điều kiện lọc ra trạng thái hai qubit kiểu này.
Mô hình sẽ được thực hiện trên hệ các dao động tử kiểu Kerr. Phƣơng pháp nghiên cứu - Sử dụng hình thức luận Hamiltonian để mô tả hệ lượng tử - Sử dụng ma trận mật độ để mô tả hệ lượng tử có mất mát - Sử dụng các phần mềm Mathematica, Matlab để thực hiện các tính toán bằng số 4. Phạm vi nghiên cứu Trong luận văn này, tôi tập trung nghiên cứu và đưa ra được các trạng thái hai qubit kiểu Bell – trạng thái có độ đan rối cao nhất được đặc trưng định tính bởi độ đan rối xấp xỉ bằng 1. 4 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ TRẠNG THÁI ĐAN RỐI 1.
Tiên đề về các trạng thái của hệ. Trạng thái thuần và trạng thái hỗn hợp 1. Tiên đề về các trạng thái của hệ. Toán tử mật độ Mỗi trạng thái của hệ lượng tử được biểu diễn bằng một toán tử mật độ (hay ma trận mất độ) ̂.
Toán tử mật độ là toán tử tự liên hợp, không âm và có vết bằng 1: pi i i. Tất cả thông tin liên quan đến trạng thái của i hệ được chứa đựng trong toán tử mật độ ấy. Đây được xem là cách mô tả tổng quát nhất của hệ vật lý trong cơ học lượng tử. Với cách mô tả này, cách mô tả nằng hàm sóng chỉ là trường hợp riêng để biểu diễn trạng thái thuần mà trong phần tiếp theo tôi sẽ đề cập đến.
Nếu hệ ở trạng thái được biểu diễn bằng toán tử mật độ thì giá trị trung bình của biến số động lực A bất kỳ liên quan tới thời điểm t là: A Tr ˆ Aˆ. Trong trường hợp không gian Hilbert các trạng thái là hữu hạn chiều, các toán tử tuyến tính được quan tâm có thể biểu diễn bằng các ma trận mật độ. Ma trận mật độ thực chất chính là ma trận của toán tử thống kê (hay toán tử mật độ) bởi vì toán tử thống kê thường được cho dưới dạng ma trận mà bản thân các thành phần ma trận của toán tử này xác định mật độ xác xuất. Ma trận mật độ là một toán tử tác dụng lên không gian Hilbert của hệ đã biết.
Trong trường hợp hệ vật lý đã cho tồn tại một vectơ trạng thái chứa các thông tin có thể có về hệ, muốn biết được các thông tin về đại lượng động lực học A, ta phải tính toán giá trị trung bình của toán tử A tương ứng là: A A .1) Trong nhiều trường hợp hệ vật lý đã cho không thể biết được vectơ trạng thái của hệ mà chỉ biết được xác suất pi để hệ ở trạng thái i Trong trường hợp đó ta không tính giá trị trung bình mà còn phải tính trung bình theo tập hợp thống kê như sau: 5 A pi i A i , (1.2) i trong đó pi là xác suất để hệ ở trạng thái i và p 1. Ta định nghĩa toán i i tử ma trận mật độ như sau: i pi i pi i i .3) i i Ma trận mật độ được sử dụng để tính toán các giá trị trung bình theo tập hợp thống kê của hệ. Điều này được thực hiện bằng cách lấy vết của tích số các toán tử và A A Tr A .4) Thật vậy, ta có: Tr Xˆ n Xˆ n , trong đó, n là một hệ hoàn toàn trực n chuẩn bất kỳ thỏa mãn: n n 1. n Từ đó suy ra: Tr A n A n n pi i i A n n n i i A n n pi i i Api i n i i pi i A i A , i tức là thu được (1.
Xác suất pi là không âm và được chuẩn hóa (tổng của chúng bằng 1: pi 1 ). Điều này có nghĩa là ma trận mật độ ̂ là một toán tử i Hermite xác định. Ta có thể chứng minh vết của bằng 1 Tr 1 .6) Thật vậy, ta có: Tr m m m pi i i l i m m pi i m m i m i pi i i pi 1, i i vì ma trận mật độ ̂ là một toán tử Hermite nên các trị riêng pi là thực. Từ điều này ta suy ra tính chất quan trọng sau của ma trận mật độ .7) 6 Thật vậy, ta có: pi i i , i nên: i i i p p i i i i i pi i i ˆ i 1.
Trạng thái thuần (pure state) Trong vật lý lượng tử, một trạng thái lượng tử là một đối tượng toán học diễn tả đầy đủ về hệ lượng tử. Một trạng thái được gọi là thuần (Trạng thái pure, còn gọi là trạng thái thuần khiết hay trạng thái sạch. Trong luận văn này, tôi sử dụng cụm từ “trạng thái thuần”) nếu nó không thể được biểu diễn như là một hỗn hợp của nhiều các trạng thái khác nhau. Nó có thể là một hệ lượng tử bị cô lập hay ở trong trường ngoài mà tương tác giữa hệ với trường ngoài đã biết chính xác.
Khi đó, chỉ có một trạng thái nào đó khác không, còn tất cả các pi 0. Do đó ma trận mật độ hay toán tử mật độ biểu diễn hệ đồng thời là các toán tử chiếu và có dạng: .8) Trong trường hợp này, giá trị trung bình của đại lượng động lực A được tính theo công thức: A Tr A A , (1.