mở đầu của lịch sử không phải là sự giống nhau của mẫu gốc, đó là sự khác nhau của những điều khác, đó là điều cách biệt” “What is found at the historical beginning of things is not the inviolable identity of their origin; it is the dissension of other things. It is disparity” [dẫn theo 18,142]. Nghiên cứu về Nietzsche, Foucault cho thấy lịch sử được diễn đạt như nguyên gốc và phát triển như một môn học đặc trưng, ví dụ, “cái hiện đại” mang tính hư cấu bắt nguồn từ thực tế. Nằm dưới sự hư cấu về cái hiện đại là cảm quan của sự tạm thời loại trừ những nhân tố cơ hội và tính ngẫu nhiên xuất hiện ở mọi thời điểm.
Tóm lại, lịch sử phát triển không ngừng và che đậy những gián đoạn đánh dấu những thời điểm nối tiếp nhau trong lịch sử. Foucault triển khai bảng phả hệ để tạo nên cái ông gọi là “counter– memory” – “phản kí ức” hay “sự chuyển dịch của lịch sử sang một mô hình thời gian hoàn toàn khác” [dẫn theo 18,60]. Điều này đòi hỏi xóa đi đặc tính của chủ thể trong lịch sử bằng việc dùng chất liệu và kĩ thuật của việc nghiên cứu lịch sử hiện đại, Foucault đòi hỏi các nghiên cứu về phả hệ sẽ phải dẫn tới việc tan rã của các chủ thể tri thức bởi tính liên tục của chủ thể sẽ bị phá vỡ bởi các bước gián đoạn và sự tình cờ mà các nghiên cứu lịch sử đã không phát hiện ra. Nhà phê bình toàn diện và xuất sắc nhất của triết học hậu hiện đại là Jürgen Habermas.
Trong Diến ngôn triết học hiện đại ông đối diện với chủ nghĩa hậu hiện đại ở mức độ xã hội và “hoạt động giao tiếp”. Ông không Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O’Brien bênh vực khái niệm chủ thể được quan niệm như ý thức hoặc cái tôi tự trị, chống lại cuộc công kích của những nhà hậu hiện đại, nhưng ủng hộ những luận chứng trong sự kết nối liên chủ thể (inter–subjectivity) tương phản với những kế hoạch thực nghiệm tiên phong. Ví dụ, ông khẳng định Nietzsche, Heidegger, Derrida và Foucault đưa ra sự mâu thuẫn biểu hiện trong lối phê bình chủ nghĩa hiện đại bằng các khái niệm và phương pháp mà chỉ các lý lẽ hiện đại mới đưa ra được. Ông chỉ trích chủ nghĩa Dionysus – triết lý bi quan của Nietzsche như một hành động đề bù vào việc mất mát tính thống nhất trong văn hóa phương Tây ở thời kì tiền hiện đại do tôn giáo gây ra.
Cảm quan của Nietzsche về sự bi quan mới trong nghệ thuật hiện đại hơn nữa dựa vào mỹ học hiện đại, nghệ thuật đạt được sức mạnh bằng việc tự tách ra khỏi khoa học và tôn giáo trong thế kỉ Ánh sáng hiện đại, dẫn đến sự biến mất của tính thống nhất hữu cơ mà Nietzsche cố gắng khôi phục thông qua nghệ thuật [dẫn theo 21,81–105]. Habermas thấy Heidegger và Derrida là những người tiếp tục “Lòng tin vào việc cứu rỗi sự bi quan”. Ví dụ, Heidegger tiên liệu được sự trải nghiệm tồn tại mới được rút lại. Tuy nhiên, Habermas cho rằng sự rút lui của việc tồn tại là kết quả của triết học bị đảo ngược trong chủ thể, nơi sự phá hủy chủ thể của Heidegger dẫn tới hi vọng của sự thống nhất, sự thống nhất của cái vô ngã [dẫn theo 21,160].
Habermas cũng chỉ trích Derrida vì đã không phân rõ ranh giới giữa triết học và văn học trong văn bản để đem lại những luận cứ hợp lý và logic vào phạm vi của tu từ học. Trong trường hợp này, Derrida hi vọng tránh được lỗi logic của việc tự quy chiếu (self–reference) trong phê bình luận cứ. Tuy nhiên, khi Habermas nhấn mạnh: Bất kì ai đảo lộn hoàn toàn việc phê bình luận cứ trong phạm vi của tu từ học để làm cùn đi nghịch lý Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O’Brien tự quy chiếu, cũng làm cùn đi thanh gươm trong việc tự phê bình. Ông cho rằng Foucault không thể giải quyết thỏa đáng những vấn đề còn tồn tại trong mối quan hệ với cách tiếp cận biểu hiện ở phạm vi khách thể, sự phủ nhận tự quy chiếu của những khẳng định vững chắc, và sự phê bình mang tính biện hộ Phê bình hậu hiện đại của Habermas dựa trên cơ sở mâu thuẫn biểu hiện và nghịch lý tự quy chiếu đã xếp đặt tinh thần và giới hạn cho cuộc tranh luận phê bình hiện nay.
Trong khi những nhà hậu hiện đại đã loại bỏ lối phê bình này hoặc đáp lại bằng phản chiến lược tu từ học. Ví dụ, Lyotard đã loại bỏ khái niệm mối liên hệ liên chủ thể, điều này được các nhà phê bình hậu hiện đại khác nhất trí, đây được coi là mục tiêu cơ bản của diễn ngôn. Những nhà hậu hiện đại hưởng ứng với Habermas do thực tế ông nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại nghiêm túc và không bác bỏ nó như những nhà phê bình khác. Ông có thể đọc kỹ lưỡng các văn bản hậu hiện đại và cố gắng làm chúng dễ hiểu hơn, dù những luận chứng đó nhiều khi còn rời rạc.
Ông cũng đồng ý với các nhà hậu hiện đại rằng mục tiêu của cuộc tranh luận nên tập trung vào cái hiện đại bởi nó được nhận ra trong thực tiễn và thể chế hiện đại, hơn là trong lý thuyết nhận thức hay chỉ trong ngôn ngữ học. Trong khía cạnh này, mối quan tâm của Habermas với mối liên hệ liên chủ thể giúp làm sáng tỏ cơ sở mà các nhà hiện đại – hậu hiện đại tiếp tục tranh luận. Hậu hiện đại trong văn học Chủ nghĩa hậu hiện đại mang đến sự khác biệt cho mọi lĩnh vực của nghệ thuật và vốn tri thức mà chúng ta hằng biết, trong đó có văn học. Giống như văn học hiện đại, văn học hậu hiện đại là một phần của sự phát triển lịch sử và văn hóa – xã hội.
Nó được coi là cách đặc trưng để mô tả Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O’Brien đời sống và văn hóa hậu hiện đại. “Bản sắc” của hậu hiện đại trong văn học có thể tóm lại trong những đặc điểm chính sau: Trong văn bản văn học hậu hiện đại, ý tưởng về cái nguyên bản và tính xác thực bị suy yếu dần và bị nhại (parody). Tác phẩm văn học hậu hiện đại có thể sử dụng những hình thái, thể loại văn học cũ cùng các đoạn trích dẫn, ám chỉ và các phương thức khác để cấu kết lại ý nghĩa trong những ngữ cảnh khác nhau để biểu lộ sự khác biệt giữa mô hình quá khứ và hiện tại như đã được đề cập đến trong Văn học của sự cạn kiệt của John Barth. Ông chỉ ra toàn bộ những hình thái cũ của nghệ thuật và yêu cầu khả năng sáng tạo văn học từ những phong cách, hình thái, thể loại văn học đã tồn tại trước đây.
Tác phẩm nhại là kiểu sáng tác văn học phổ biến trong thời hậu hiện đại. Đó có thể là kiểu nhại giữa tác phẩm này bao gồm hình tượng nhân vât, cốt truyện,… với tác phẩm khác, hay nhại trong chính một tác phẩm, giữa nhân vật này với nhân vật khác, giữa người kể chuyện với các nhân vật… Những tác phẩm văn học hậu hiện đại mô phỏng các thể loại văn học phổ biến như trinh thám, kinh dị, thần thoại,… được thay đổi và nhại đi, mang theo những tầng bậc ý nghĩa khác so với bản gốc (bản được “parody”). Trong tiểu thuyết Lịch sử thế giới trong 10 ½ chương của nhà văn Anh Julian Barnes, cuốn Kinh Cựu ước được kể lại từ cái nhìn của một con gián. Nhại trong văn học có thể được tìm thấy trong tác phẩm của John Fowles, Angela Carter, A.
Byatt, John Banville, Tobby Litt, Patrick Mc Cabe, Donald Barthelme, Robert Coover, Richard Brautigan, Kurt Vonnegut, Paul Auster, Murray Bail, Michael Wilding, Peter Carey, Timothy Findley, Margaret Atwood,… Văn học hậu hiện đại thường đặt câu hỏi về trạng thái hư cấu tới mức Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O’Brien trở thành siêu hư cấu. Siêu hư cấu nghĩa là một tác phẩm văn học ngụ ý chính nó và nguyên tắc cơ bản của việc tạo dựng siêu hư cấu là các kĩ thuật và phương thức kể chuyện khác nhau. Thủ pháp siêu hư cấu sẽ phá vỡ những quy ước và những tham vọng minh họa cho hiện thực. Những tác phẩm đó “chúng tự xác định như là cái gì đấy khác biệt so với kinh nghiệm của ta đã nếm trải trong thế giới thực, chứ không chỉ là bản sao của thế giới thực… con người thích những thế giới trong trí tưởng tượng thuộc điều bất khả bởi vì chính cái bất khả cũng có nét mê hoặc” [1,46].
Cách hiểu đơn giản nhất về siêu hư cấu là “hư cấu về sự hư cấu”, nhưng tác phẩm hư cấu hậu hiện đại còn đi xa hơn. Waugh đã định nghĩa về siêu hư cấu như sau: “Siêu hư cấu là thuật ngữ được dùng trong văn bản viết hư cấu thu hút sự chú ý tới trạng thái của văn bản một cách có ý thức và có hệ thống như là một tạo tác để đặt câu hỏi về mối quan hệ giữa thực tế và hư cấu. Để đưa ra các phương pháp xây dựng lối phê bình này, các bài viết không chỉ nghiên cứu cấu trúc cơ bản của truyện kể hư cấu, mà còn khám phá tính hư cấu khả thi của thế giới bên ngoài văn bản. “…a term given to fictional writing which self–consciously and systematically draws attention to its status as an artifact in order to pose questions about the relationship between fiction and reality.
In providing a critique of their own methods of construction, such writings not only examine the fundamental structures of narrative fiction, they also explore the possible fictitiousness of the world outside the literary/fictional text” [40, 1]. Bằng cách dùng những yếu tố siêu hư cấu, các nhà văn hậu hiện đại đã chỉ ra sự khác biệt giữa thực tế đời sống và sự thực trong văn bản, nhấn mạnh ngôn ngữ “hoạt động” dựa trên nhiều nguyên tắc khác nhau chứ không chỉ dựa vào thực tế. Đồng thời, việc dùng các yếu tố siêu hư cấu cũng chỉ ra tính hư cấu trong tiểu thuyết, truyện ngắn,… liên quan đến cả độc giả trong Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.